Hiển thị các bài đăng có nhãn Đào tạo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đào tạo. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 27 tháng 9, 2012

Khai giảng Lớp tại Công ty CP Giống cây trồng Nha Hố, tỉnh Ninh Thuận

Ngày 13/9/2012, tại Công ty CP Giống cây trồng Nha Hố, Trường cán bộ quản lý nông nghiệp và PTNT II khai giảng lớp Kỹ năng bán hàng chuyên nghiệp và Quản trị marketing.

Thứ Tư, 31 tháng 8, 2011

Chiêu sinh lớp "Anh văn giao tiếp hội nhập quốc tế"


Chương trình Anh ngữ giao tiếp hội nhập quốc tế được Trung tâm Ngoại ngữ, Tin học – DMA thiết kế dựa trên chương trình Anh ngữ giao tiếp quốc tế (English for International Communication) nhằm tạo điều kiện cho người có thêm cơ hội để trao dồi kỹ năng tiếng Anh và có thể sử dụng ngôn ngữ một cách thành thạo, tự tin trong môi trường giao tiếp quốc tế hội nhập.

1.      Mục đích bồi dưỡng:
Giúp người học có cơ hội ôn luyện, trao dồi và cải thiện thêm không những cho các  kỹ năng như Nghe- Nói- Đọc- Viết tổng quát mà còn có thể sử dụng ngôn ngữ nhằm phục vụ cho chuyên ngành như nông nghiệp, công nghiệp, kinh tế, ngân hàng, kế toán, hoặc kinh doanh để có thể theo kịp với sự phát triển hội  nhập kinh tế  toàn cầu.
2.      Mục tiêu bồi dưỡng:
Sau khi tham gia khóa học, học viên  sẽ có đủ điều kiện để tham gia kỳ thi chứng chỉ quốc gia trình độ B trở lên hoặc kỳ thi TOEIC với thang điểm 500-700.
Trung tâm có tổ chức thi và cấp chứng chỉ tiếng Anh trình độ A, B và C.
3.      Đối tượng:
Tất cả học viên có nhu cầu và đã biết tiếng Anh cơ bản.
4.      Giáo trình:
+   Ken Wilson, Smart Choice Student’s book 1, 2, 3, Oxford University Press 2007.
+   David Cotton, David Falvey, Simon Kent, New Edition 2007, Market Leader, Pre-intermediate Business Englsih Course Book, Pearson Education Limited.
+   C. St. Yates, English for Academic Purposes Series, Economics, Phoenix ELT.
+   Compiled by Associate Professor Phan Thi Cuc, Ph.D. Ho Nguyet Thanh, M.A. Edited by Scott Brantley, M.S.O.M., English For Banking And Finance, Course Book, Ho Chi Minh City University of Industry Faculty of Banking And Finance.


5.      Nội dung:
STT
Các chuyên đề


1
Chào hỏi, giới thiệu về bản thân

2
Giới thiệu công việc, mô tả chi tiết công việc của bản thân

3
Nói về sở thích trong ăn uống

4
Miêu tả ngoại hình, tính cách, đặc điểm

5
Nói về những nơi chốn, về danh lam thắng cảnh của thành phố và đất nước

6
Miêu tả hoạt động của kỳ nghỉ

7
Trao đổi ý kiến về phim ảnh và âm nhạc

8
Nói về các hoạt động thể thao

9
Đi mua sắm

10
Chuyên ngành kinh doanh

11
Chuyên ngành tài chánh-ngân hàng

12
Chuyên ngành kinh tế

13
Chuyên ngành công nghiệp

14
Chuyên ngành nông nghiệp

15
Thi hết học phần


6.      Thời gian, địa điểm và phương tiện học tập:
Thời gian học tập:
+   Tổng thời gian: 200 tiết
+   Kế hoạch học: tuần học 3 buổi thứ ba, năm và bảy từ 14:00 đến 17:00
+   Dự kiến khai giảng: ngày 19/09/2011 và kéo dài khoảng 4 tháng.
Địa điểm: Trường Cán bộ Quản lý Nông nghiệp và PTNT II,
Số 45 Đinh Tiên Hoàng (đối diện Đài Truyền hình TP.HCM),
phường Bến Nghé, quận 1, TP. HCM.
7.      Kinh phí học tập: Chi phí học tập, tài liệu: 6.800.000đ/học viên.
Rất mong được đón tiếp các quý vị tham gia khóa bồi dưỡng.
Trân trọng kính chào.

Thứ Tư, 8 tháng 6, 2011

Lớp tập huấn tiểu giáo viên về chuỗi giá trị



Giảng viên phụ trách: TS. Bảo Trung
Đơn vị tư vấn kỹ thuật: GTZ Vietnam (Cố vấn trưởng: Christoph Feldkotter và cố vấn kỹ thuật: Nguyễn Thị Huyền Linh)

Thứ Tư, 23 tháng 3, 2011

Bảo vệ luận án tiến sỹ kinh tế ngày 6/11/2009


DANH SÁCH HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN ÁN TIẾN SĨ CẤP NHÀ NƯỚC

(Ban hành kèm theo Quyết định thành lập Hội đồng số 5380/QĐ-BGDĐT ngày 20 tháng 8 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)


TT

Họ và tên, Học hàm, học vị

Cơ quan công tác

Chức trách trong Hội đồng

1

PGS.TS. Lê Thanh Hà

Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hội đồng

2

GS.TS. Hoàng Thị Chỉnh

Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh

Phản biện 1

3

PGS.TS. Nguyễn Xuân Quế

Trường Đại học Marketing

Phản biện 2

4

PGS.TS. Nguyễn Đình Long

Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn

Phản biện 3

5

PGS.TS. Hồ Tiến Dũng

Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh

Ủy viên thư ký

6

TS. Đỗ Văn Xê

Trường Đại học Cần Thơ

Ủy viên Hội đồng

7

TS. Mai Văn Nam

Trường Đại học Cần Thơ

Ủy viên Hội đồng


Danh sách gồm 7 thành viên.

Chủ Nhật, 20 tháng 3, 2011

Bảo vệ luận án thạc sỹ ngày 1 tháng 10 năm 1999


Lâu lâu tìm được tấm hình cũ đưa lên blog xem chơi.
- GS.TS. Nguyễn Thiện Nhân (thứ 2 từ trái sang)
- TS. Nguyễn Thị Anh Thư (Thứ 3 từ trái sang)
- TS. Bảo Trung (ở giữa)
- GS.TS. Phạm Phụ (thứ 3 từ phải sang)
- TS. Cao Hào Thi (ngoài cùng bên phải)

Thứ Sáu, 19 tháng 3, 2010

Lớp tập huấn nâng cao năng lực quản lý HTX


Ngày 15/3/2010, tại Chi cục Phát triển nông thôn tỉnh Ninh Thuận, Trường cán bộ quản lý nông nghiệp và PTNT II phối hợp với Chi cục PTNT tỉnh Ninh Thuận khai giảng lớp tập huấn nâng cao năng lực quản lý HTX cho ban quản lý các HTX tại tỉnh Ninh Thuận. Đến dự buổi khai giảng có ông Châu Kim Long - Phó Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Ninh Thuận và lãnh đạo Chi cục PTNT.
Khóa tập huấn kéo dài 5 ngày từ 15/3/2010 đến 19/3/2010. Nội dung bao gồm:
  • Hội nhập kinh tế quốc tế
  • Phát hiện cơ hội kinh doanh
  • Kỹ năng marketing
  • Tổ chức hoạt động dịch vụ HTX
  • Tâm lý và nghệ thuật lãnh đạo.


Các chuyên đề trên do TS. Bảo Trung và ThS. Nguyễn Thế Phong giảng viên khoa quản trị doanh nghiệp - Trường cán bộ quản lý nông nghiệp và PTNT đảm nhận.

Thứ Tư, 2 tháng 9, 2009

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Số: 5380/QĐ-BGDĐT Hà Nội, ngày 20 tháng 8 năm 2009


QUYẾT ĐỊNH

Về việc thành lập Hội đồng chấm luận án tiến sĩ cấp Nhà nước


BỘ TRƯỞNG BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO


Căn cứ Nghị định 32/2008/NĐ-CP ngày 19 tháng 3 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Giáo dục và Đào tạo;

Căn cứ Quyết định số 224/TTg ngày 24 tháng 5 năm 1976 của Thủ tướng Chính phủ về đào tạo Trên đại học ở trong nước;

Căn cứ Quyết định số 468/TTg ngày 22 tháng 12 năm 1977 của Thủ tướng Chính phủ về việc ủy nhiệm cho Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo xét duyệt danh sách những thành viên của các Hội đồng luận án cho nghiên cứu sinh;

Xét đề nghị của Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học,


QUYẾT ĐỊNH

Điều 1. Thành lập Hội đồng chấm luận án tiến sĩ Kinh tế về đề tài: Phát triển thể chế giao dịch nông sản ở Việt Nam.

Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh

Mã số: 62 34 05 01

Của nghiên cứu sinh: Bảo Trung

Danh sách thành viên Hội đồng kèm theo quyết định này.


Điều 2. Ủy nhiệm cho ông Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh tổ chức bảo vệ luận án trên theo đúng Qui chế đào tạo sau đại học hiện hành.


Điều 3. Các ông (bà) Chánh Văn phòng, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học và các Vụ liên quan thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh và các thành viên có tên trong danh sách Hội đồng (ghi Điều 1) chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.

KT. BỘ TRƯỞNG

THỨ TRƯỞNG

(Đã ký)

Phạm Vũ Luận


DANH SÁCH HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN ÁN TIẾN SĨ CẤP NHÀ NƯỚC


Cho luận án của nghiên cứu sinh: Bảo Trung

Về đề tài: Phát triển thể chế giao dịch nông sản ở Việt Nam.

Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh

Mã số: 62 34 05 01

(Ban hành kèm theo Quyết định thành lập Hội đồng số 5380/QĐ-BGDĐT ngày 20 tháng 8 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dụch và Đào tạo)

TT

Họ và tên, Học hàm, học vị

Cơ quan công tác

Chức trách trong Hội đồng

1

PGS.TS. Lê Thanh Hà

Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hội đồng

2

GS.TS. Hoàng Thị Chỉnh

Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh

Phản biện 1

3

PGS.TS. Nguyễn Xuân Quế

Trường Đại học Marketing

Phản biện 2

4

PGS.TS. Nguyễn Đình Long

Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn

Phản biện 3

5

TS. Hồ Tiến Dũng

Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh

Ủy viên thư ký

6

TS. Đỗ Văn Xê

Trường Đại học Cần Thơ

Ủy viên Hội đồng

7

TS. Mai Văn Nam

Trường Đại học Cần Thơ

Ủy viên Hội đồng


Danh sách gồm 7 thành viên.

Chủ Nhật, 5 tháng 7, 2009


THÔNG TIN LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐƯA LÊN MẠNG

Đề tài luận án: PHÁT TRIỂN THỂ CHẾ GIAO DỊCH NÔNG SẢN Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh Mã số: 62.34.05.01

Họ và tên nghiên cứu sinh: BẢO TRUNG

Họ và tên cán bộ hướng dẫn: 1. PGS.TS.Vũ Trọng Khải
2. TS.Phạm Xuân Lan
Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
Tóm tắt những kết luận mới của luận án:
  • Luận án khẳng định thể chế giao dịch nông sản là khung pháp lý hay tập quán và thông lệ quy định về cấu trúc tổ chức và cơ chế vận hành của các hoạt động giao dịch nông sản giữa 2 hay nhiều chủ thể tham gia phù hợp với điều kiện vật chất nhất định.
  • Dựa trên bản chất kinh tế - xã hội của các hình thức giao dịch, luận án khẳng định có 3 loại hình thể chế giao dịch nông sản: thể chế giao dịch giao ngay, thể chế giao dịch sản xuất theo hợp đồng và thể chế giao dịch giao sau.
  • Luận án khẳng định giao dịch giao ngay có hai hình thức: giao dịch phân tán và giao dịch tập trung. Để phát triển thể chế giao dịch giao ngay, luận án đề xuất hoàn thiện cấu trúc, cơ chế và điều kiện vật chất của giao dịch phân tán theo hướng hình thành chuỗi giá trị gia tăng. Đối với giao dịch tập trung, luận án đề xuất hoàn thiện các loại hình dịch vụ bán buôn theo hướng hiện đại và chuyên nghiệp hóa. Một số giải pháp hỗ trợ phát triển thể chế giao dịch giao ngay: thứ nhất, sửa đổi, bổ sung một số điều trong Bộ Luật dân sự năm 2005, Luật thương mại 2005, một số Nghị định và Quyết định; thứ hai, đào tạo kiến thức, kỹ năng cho nông dân, doanh nghiệp, HTX, người mua gom; thứ ba, quản lý hoạt động kinh doanh của người mua gom trong tiêu thụ nông sản; thứ tư, điều tiết cung cầu nông sản và tổ chức lưu thông hàng hóa; và thứ năm, thu hút các nguồn vốn để đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông và thương mại.
  • Luận án khẳng định sản xuất theo hợp đồng là phương thức kinh doanh nông sản tiên tiến phù hợp với đặc điểm sản xuất nông nghiệp. Bản chất của giao dịch sản xuất theo hợp đồng là giá cả được thỏa thuận giữa người mua và người bán tại thời điểm ký kết hợp đồng dựa trên cơ sở phân bổ 3 yếu tố: lợi ích, rủi ro và quyền quyết định. Để phát triển thể chế giao dịch sản xuất theo hợp đồng, luận án đề xuất hướng hoàn thiện cấu trúc, cơ chế và điều kiện vật chất cho các hình thức sản xuất theo hợp đồng như mô hình tập trung, trang trại hạt nhân, đa chủ thể và trung gian. Luận án đưa ra một số giải pháp: thứ nhất, hoàn thiện pháp luật liên quan đến hợp đồng trong lĩnh vực nông nghiệp; thứ hai, tiêu chuẩn hóa chất lượng nông sản; thứ ba, hoàn thiện chính sách tích tụ đất đai cho sản xuất nông nghiệp; thứ tư, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động tổ hợp tác và HTX.
  • Luận án khẳng định các hình thức mua bán nông sản ở Việt Nam như "mua mão", "mua lúa non", "hợp đồng bao tiêu nông sản", "hợp đồng trừ lùi chốt giá sau" là hình thức giao dịch triển hạn của loại hình giao dịch giao sau, nhưng chưa có công cụ bảo hiểm rủi ro; còn giao dịch kỳ hạn mới phát triển trong kinh doanh cà phê; giao dịch quyền chọn chưa phát triển đối với hàng nông sản. Để phát triển thể chế giao dịch giao sau, Việt Nam cần xây dựng Sở giao dịch hàng hóa nông sản. Luận án đề xuất một số giải pháp hỗ trợ phát triển thể chế giao sau: thứ nhất, hoàn thiện pháp luật liên quan đến giao dịch giao sau nông sản; thứ hai, xây dựng và thực hiện chương trình đào tạo cấp chứng chỉ hành nghề giao dịch hàng hóa nông sản.

Thứ Bảy, 10 tháng 1, 2009

Họp Hội đồng (Bộ môn) đánh giá luận án tiến sỹ của NCS.Bảo Trung


Luận án tiến sỹ của NCS. Bảo Trung với đề tài:
"Cơ sở khoa học của việc hình thành và phát triển thể chế giao dịch nông sản ở Việt Nam"Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 62.34.05.01
Người hướng dẫn khoa học:
- PGS.TS. Vũ Trọng Khải
- TS. Phạm Xuân Lan

Ngày bảo vệ: 14 giờ ngày 16/01/2009
Địa điểm: P.A105 - 59C Nguyễn Đình Chiểu, Q.1, Tp.HCM

Thành viên Hội đồng:
1. PGS.TS. Nguyễn Đông Phong - Chủ tịch Hội đồng
2. GS.TS. Hoàng Thị Chỉnh - Người giới thiệu 1
3. PGS.TS. Đinh Phi Hổ - Người giới thiệu 2
4. TS. Nguyễn Văn Dũng - Thư ký Hội đồng
5. TS. Tạ Thị Kiều An - Ủy viên
6. PGS.TS. Nguyễn Đình Thọ - Ủy viên
7. PGS.TS. Vũ Trọng Khải - Ủy viên

Thứ Năm, 25 tháng 12, 2008

Thứ Bảy, 21 tháng 6, 2008

Khai giảng lớp Đào tạo Giám đốc doanh nghiệp


Ngày 20 tháng 6 năm 2008, tại Công ty Cổ phần Cao su Đồng Phú, Trường cán bộ quản lý nông nghiệp và PTNT II làm lễ khai giảng lớp Đào tạo Giám đốc doanh nghiệp khóa 21.

Thứ Bảy, 31 tháng 5, 2008

Nghiệm thu đề tài "Nghiên cứu cơ sở khoa học của việc hình thành và phát triển thể chế thị trường giao dịch nông sản"


Ngày 27/5/2008, Bộ Nông nghiệp và PTNT tổ chức nghiệm thu đề tài: "Nghiên cứu cơ sở khoa học của việc hình thành và phát triển thể chế thị trường giao dịch nông sản" do ThS. Bảo Trung chủ trì đề tài. Thành viên hội đồng bao gồm:

1. TS. Chu Tiến Quang - Viện Quản lý kinh tế Trung ương - Chủ tịch Hội đồng

2. PGS.TS. Nguyễn Đình Long - Viện chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn - Phó chủ tịch Hội đồng

3. TS. Trần Hữu Cường - Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội - Phản biện 1

4. KS. Phạm Thị Tước - Vụ Kế hoạch và quy hoạch - Bộ NN & PTNT - Phản biện 2

5. TS. Lê Bá Thăng - Trường cán bộ quản lý nông nghiệp và PTNT I - Ủy viên

6. KS. Nguyễn Văn Thành - Tổng giám đốc Tổng công ty Rau quả, nông sản - Ủy viên

7. ThS. Trần Minh Vĩnh - Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường - Bộ NN & PTNT - Thư ký

Đề tài đạt loại khá.

Thứ Ba, 15 tháng 1, 2008

Báo cáo nghiên cứu khoa học

Ngày 14/1/2008, Sở khoa học và công nghệ thành phố Hồ Chí Minh tổ chức nghiệm thu đề tài "Nghiên cứu chính sách, giải pháp khuyến khích ngành công nghiệp chế biến thực phẩm thành phố Hồ Chí Minh nâng tỷ trọng giá trị gia tăng trong cơ cấu giá trị sản phẩm". Đề tài do ThS. Bảo Trung - Giảng viên Trường cán bộ quản lý nông nghiệp và PTNT II làm chủ nhiệm đề tài. Hội đồng nghiệm thu bao gồm:
1. TS. Trần Du Lịch - Viện trưởng Viện Kinh tế Tp.HCM - Chủ tịch
2. GS.TS. Võ Thanh Thu - Trường Đại học kinh tế Tp.HCM - Phản biện
3. TS. Thái Anh Hòa - Trường Đại học nông lâm Tp.HCM - Phản biện
4. TS. Trần Đức Hạnh - Sở Thương mại Tp.HCM - Ủy viên
5. ThS. Từ Minh Thiện - Trung tâm tư vấn và hỗ trợ nông nghiệp - Ủy viên
6. CV. Kinh tế Trần Tô Tử - Công ty Thép Việt - Ủy viên
7. KS. Nguyễn Thanh Minh - Tổng công ty lương thực Miền Nam - Ủy viên
8. CN. Lục Văn Thanh - Phòng quản lý khoa học Sở khoa học và công nghệ - Ủy viên.

Tổng số điểm của thành viên hội đồng : 567 điểm - đạt loại khá.

Thứ Tư, 14 tháng 11, 2007


TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP VÀ VIỆC ÁP DỤNG Ở VIỆT NAM
ThS. Bảo Trung
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế hiện nay, các doanh nghiệp muốn cạnh tranh để tồn tại và phát triển đòi hỏi phải có sự thay đổi cơ bản cách thức quản lý doanh nghiệp.
Ở các nước có nền kinh tế thị trường hoàn chỉnh, hầu hết doanh nghiệp đều thuộc sở hữu tư nhân nên mục tiêu hàng đầu của họ là thu được nhiều lợi nhuận. Để thu được nhiều lợi nhuận, họ luôn luôn tìm cách hợp lý hóa hoạt động sản xuất – kinh doanh của mình và từ đó phát triển nhiều phương thức quản lý mới phù hợp hơn và hiệu quả hơn. Từ xa xưa con người đã biết tổ chức, điều khiển và phối hợp người lao động theo nhóm để hoàn thành những công trình vĩ đại như Kim tự tháp, Vạn lý trường thành. Đây chính là hoạt động quản trị mà ngày nay chúng ta nói đến. Tuy nhiên những hoạt động này chỉ dựa trên kinh nghiệm, theo kiểu thuận tiện với kỹ thuật quản trị đơn giản. Trước cuộc cách mạng công nghiệp, Adam Smith đã quan sát và ghi nhận việc phân công lao động trong sản xuất. Tuy nhiên, ông vẫn cho rằng kỹ năng của các nhà quản trị trong doanh nghiệp là do trời ban, không thể đào tạo được. Hoạt động quản trị lúc đó phụ thuộc vào tài năng của các cấp quản trị trong doanh nghiệp. Giai đoạn này người ta xem là giai đoạn quản trị theo kiểu thuận tiện. Tuy nhiên đến cuối thế kỷ 19, công nghiệp đã phát triển mạnh và có nhiều vấn đề nảy sinh ngoài tầm kiểm soát của nhà quản trị. Điều này dẫn đến sự phát triển các kỹ thuật quản trị. Năm 1911, Frederick Winslow Taylor viết cuốn "Những nguyên tắc quản trị khoa học" mở đầu cho giai đoạn quản trị theo khoa học. Từ đó có nhiều trường phái quản trị xuất hiện trên thế giới và người ta chia thành những nhóm lớn như lý thuyết cổ điển (Frederick Winslow Taylor, Henry L. Gantt, Frank và Lilian Gilbreth), lý thuyết quản lý hành chính (Max Weber, Henry Fayol), lý thuyết tâm lý xã hội (Douglas McGregor, Elton Mayo, Abraham Maslow), lý thuyết định lượng (Herbert Simon) và lý thuyết Z của Nhật (William Ouchi). Đến thập niên 1950, người ta xem quản trị theo khoa học đã hoàn chỉnh. Những lý thuyết quản trị trong giai đoạn này đã lần lượt giảng dạy tại các trường Đại học và hình thành nên chuyên ngành quản trị kinh doanh. Hoạt động quản trị trước những năm 1950 chủ yếu tập trung vào hiệu quả sản xuất nhằm nâng cao năng suất thông qua việc phân chia công việc, xây dựng sơ đồ tổ chức, xây dựng bảng mô tả công việc cho công nhân,…nhưng sau đó nó tiếp tục lan qua nhiều hoạt động khác như tài chính, tiếp thị và hình thành nên hệ thống các kiến thức và kỹ năng quản trị doanh nghiệp toàn diện. Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, các nhà quân sự của Hoa Kỳ đã nhận thức được rằng việc quản lý theo phương pháp khoa học không làm cho chất lượng sản phẩm tăng lên mà còn gây lãng phí lớn, đặc biệt đối với những sản phẩm của quốc phòng như máy bay, vũ khí không đạt chất lượng còn gây ra nhiều nguy hiểm cho xã hội. Chính vì vậy họ xây dựng các quy trình làm việc để sản xuất sản phẩm có chất lượng hơn và họ đặt tên Mil-Std 9858 (có nghĩa là tiêu chuẩn của quân đội). Đến năm 1979, Anh cũng đưa ra tiêu chuẩn quản lý áp dụng cho dân sự là BS 5750. Tuy nhiên, mãi đến năm 1987, thì phương pháp quản lý theo kiểu "làm đúng ngay từ đầu" hoặc "phòng ngừa" mới được áp dụng rộng rãi bằng sự ra đời của tiêu chuẩn ISO 9000:1987. Giai đoạn này người ta xem là giai đoạn quản lý tiên tiến. Sau thập niên 1990, tình hình thế giới có những biến đổi sâu sắc về mặt chính trị, kinh tế, xã hội làm cho sự cạnh tranh ngày càng diễn ra gay gắt buộc các doanh nghiệp phải tạo ra giá trị dành cho khách hàng ngày càng nhiều. Vì thế các doanh nghiệp đã tiến hành tái lập lại quá trình kinh doanh và cuốn sách "Tái lập công ty" ra đời đã được hưởng ứng rộng rãi. Cuối thập niên 1990 và đầu thế kỷ 21, sự ra đời của hai cuốn sách bán chạy của Thomas Friedman là "Chiếc Lexus và cây Ô Liu" và "Thế giới phẳng" đã minh chứng cho giai đoạn toàn cầu hóa. Lúc này người ta nhận thức được các 3 yếu tố quyết định trong môi trường kinh doanh: thứ nhất, khách hàng là người quyết định; thứ hai, cạnh tranh quyết liệt hơn; và thứ ba, phải thay đổi. Do vậy các nhà quản trị đã chuyển từ tập trung vào bên trong quá trình sản xuất sang tập trung vào khách hàng bên ngoài và làm thế nào tạo ra giá trị tăng thêm cho khách hàng. Đây chính là quản trị doanh nghiệp hiện đại.
Quá trình phát triển quản lý doanh nghiệp ở Việt Nam cũng đang tuần tự diễn ra theo xu hướng trên. Nếu xu hướng này cứ tiếp diễn thì doanh nghiệp Việt Nam sẽ thất bại trong xu hướng cạnh tranh toàn cầu ngày nay. Kể từ khi Việt Nam chuyển từ nền kinh tế kế hoạch sang nền kinh tế thị trường, phương thức quản lý ở các doanh nghiệp Việt Nam đã có sự thay đổi đáng kể tuy nhiên chưa đạt được hiệu quả. Trước khi đổi mới hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp này có các những đặc điểm cơ bản như sau:
  • Nó phục vụ những mục tiêu xã hội và chính trị nhiều hơn là kinh doanh.
  • Làm theo kế hoạch từ trên giao xuống
  • Những người quản lý được bổ nhiệm theo sự tin tưởng nhiều hơn là tài năng.
  • Cơ cấu tổ chức phát triển theo sự thuận tiện.
  • Mô phỏng cách thức của cơ quan hành chính với quyền hành không được ủy quyền cho ai mà tập trung vào tay giám đốc.
Trong các đặc điểm trên thì việc xây dựng cơ cấu tổ chức ở các doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò quyết định đến phương thức quản lý của các doanh nghiệp này. Hầu hết giám đốc doanh nghiệp nhà nước theo cơ chế cũ được bổ nhiệm vì chuyên môn hơn là vì kiến thức, kỹ năng quản lý. Kết quả của quá trình này là giám đốc doanh nghiệp nông nghiệp là kỹ sư nông nghiệp; giám đốc nhà máy hóa chất là kỹ sư hóa; giám đốc công ty thương mại là kỹ sư hoặc cử nhân kinh tế thương nghiệp,… Từ khi lên làm giám đốc, ông tiến hành thành lập các bộ phận được gọi là cơ cấu tổ chức và cơ cấu tổ chức này được hình thành theo lối thuận tiện hơn là theo khoa học. Ở các doanh nghiệp Việt Nam chúng ta thấy có phòng tổ chức - hành chính bởi theo cách hiểu thông thường vấn đề tuyển dụng con người là do giám đốc quyết định nên phòng tổ chức chỉ còn làm công tác giấy tờ nên công tác hành chính phải thuộc phòng này. Một ví dụ khác là phòng kế hoạch – kinh doanh hoặc kế hoạch – vật tư cũng tương tự. Bắt đầu là phòng kế hoạch lo tính toán các kế hoạch sản lượng, rồi tính toán các nguyên vật liệu đầu vào phục vụ cho sản xuất nên để thuận tiện giao luôn khâu mua vật tư cho phòng này là tốt nhất. Sau đó giám đốc thấy phòng kế hoạch – vật tư thường đi ra bên ngoài để mua vật tư nên việc bán hàng tốt nhất nên giao phòng này vì mua hoặc bán cũng như nhau nên hình thành phòng kế hoạch – kinh doanh chịu trách nhiệm mua nguyên liệu đầu vào và bán sản phẩm đầu ra. Việc hình thành cơ cấu tổ chức này hoàn toàn theo kiểu thuận tiện và điều đó tất nhiên là cách quản lý của các doanh nghiệp này hoàn toàn theo kiểu thuận tiện.
Từ thập niên 1990, khách hàng nước ngoài yêu cầu các doanh nghiệp Việt Nam phải có ISO 9000 thì mới mua hàng và chính yêu cầu bức bách này các doanh nghiệp bắt đầu tìm hiểu và quản lý theo kiểu ISO 9000. Tuy nhiên mô hình quản lý này không phải giúp cho các doanh nghiệp thành công mà còn rất nhiều trở ngại do chuyển từ quản lý thuận tiện sang quản lý tiên tiến theo ISO 9000 đòi hỏi thay đổi nhận thức rất lớn. Rất nhiều doanh nghiệp thuê tư vấn xây dựng hàng loạt các quy trình, chất đầy tủ nhưng chỉ thực hiện khi cần kiểm tra đánh giá để lấy chứng nhận, sau đó thì lãng quên đi vì thiếu sự cam kết của các cấp lãnh đạo. Các lãnh đạo trong doanh nghiệp hầu hết được bổ nhiệm do thuận tiện nên họ cảm thấy ISO 9000 là cái gì đó rắc rối, phức tạp, từ ngữ khó hiểu làm cho họ kém đi tính sáng tạo theo kiểu kinh nghiệm, thuận tiện.
Trước sự thay đổi nhanh chóng của nền kinh tế thế giới cuối thập niên 1990 và đầu thế kỷ 21, nhiều giám đốc nhận thấy rằng rất cần đi học những kiến thức và kỹ năng mới để có thể thành công trong cạnh tranh và thậm chí họ cũng quan tâm đến quản lý hiện đại như "tái lập công ty". Sau khi tiếp cận với nhiều lý thuyết quản lý khác nhau, giám đốc các doanh nghiệp thấy cần thiết phải thay đổi quản lý, cần phải "tái lập công ty" nhưng chủ yếu là cần thay đổi "cơ cấu tổ chức". Tuy nhiên, khi bắt đầu áp dụng thì gặp quá nhiều trở ngại từ việc không biết bắt đầu tư đâu đến sự phản ứng của các cấp quản trị doanh nghiệp nên cuối cùng phải từ bỏ và chuyển về quản lý theo kiểu thuận tiện.
Vậy doanh nghiệp Việt Nam sẽ đi về đâu trong tình huống này. Điều quan trọng là doanh nghiệp cần phải đánh giá lại toàn diện hoạt động của doanh nghiệp mình và cũng không thể chỉ dừng lại ở giai đoạn quản lý theo khoa học hoặc quản lý tiên tiến mà phải áp dụng mô hình quản lý hiện đại. Vì nếu cứ theo tuần tự thì doanh nghiệp Việt Nam không thể cạnh tranh được trong môi trường toàn cầu ngày nay. Tuy nhiên, cách tiếp cận là quản lý hiện đại, nhưng tùy theo trình độ nhận thức, kiến thức và kỹ năng con người mà chúng ta phối hợp tất cả các phương thức quản lý trên thế giới cho phù hợp.
Tóm lại, để thành công trên thương trường thì việc thay đổi phương cách quản lý là điều hết sức cần thiết vì các doanh nghiệp nhà nước hiện nay sẽ không đủ sức cạnh tranh và quan trọng hơn nữa là trong thời gian tới các doanh nghiệp nhà nước phải chuyển đổi thành công ty cổ phần thì việc thay đổi phương thức quản lý là điều tất yếu.

Digital Marketing – Chìa khóa mở cửa kỷ nguyên tiếp thị hiện đại

  Trong thời đại số hóa, khi mọi tương tác, giao tiếp và quyết định mua hàng dần chuyển dịch lên môi trường trực tuyến, Digital Marketing ( ...