Hiển thị các bài đăng có nhãn Quản trị nguồn nhân lực. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Quản trị nguồn nhân lực. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 14 tháng 11, 2007


TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP VÀ VIỆC ÁP DỤNG Ở VIỆT NAM
ThS. Bảo Trung
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế hiện nay, các doanh nghiệp muốn cạnh tranh để tồn tại và phát triển đòi hỏi phải có sự thay đổi cơ bản cách thức quản lý doanh nghiệp.
Ở các nước có nền kinh tế thị trường hoàn chỉnh, hầu hết doanh nghiệp đều thuộc sở hữu tư nhân nên mục tiêu hàng đầu của họ là thu được nhiều lợi nhuận. Để thu được nhiều lợi nhuận, họ luôn luôn tìm cách hợp lý hóa hoạt động sản xuất – kinh doanh của mình và từ đó phát triển nhiều phương thức quản lý mới phù hợp hơn và hiệu quả hơn. Từ xa xưa con người đã biết tổ chức, điều khiển và phối hợp người lao động theo nhóm để hoàn thành những công trình vĩ đại như Kim tự tháp, Vạn lý trường thành. Đây chính là hoạt động quản trị mà ngày nay chúng ta nói đến. Tuy nhiên những hoạt động này chỉ dựa trên kinh nghiệm, theo kiểu thuận tiện với kỹ thuật quản trị đơn giản. Trước cuộc cách mạng công nghiệp, Adam Smith đã quan sát và ghi nhận việc phân công lao động trong sản xuất. Tuy nhiên, ông vẫn cho rằng kỹ năng của các nhà quản trị trong doanh nghiệp là do trời ban, không thể đào tạo được. Hoạt động quản trị lúc đó phụ thuộc vào tài năng của các cấp quản trị trong doanh nghiệp. Giai đoạn này người ta xem là giai đoạn quản trị theo kiểu thuận tiện. Tuy nhiên đến cuối thế kỷ 19, công nghiệp đã phát triển mạnh và có nhiều vấn đề nảy sinh ngoài tầm kiểm soát của nhà quản trị. Điều này dẫn đến sự phát triển các kỹ thuật quản trị. Năm 1911, Frederick Winslow Taylor viết cuốn "Những nguyên tắc quản trị khoa học" mở đầu cho giai đoạn quản trị theo khoa học. Từ đó có nhiều trường phái quản trị xuất hiện trên thế giới và người ta chia thành những nhóm lớn như lý thuyết cổ điển (Frederick Winslow Taylor, Henry L. Gantt, Frank và Lilian Gilbreth), lý thuyết quản lý hành chính (Max Weber, Henry Fayol), lý thuyết tâm lý xã hội (Douglas McGregor, Elton Mayo, Abraham Maslow), lý thuyết định lượng (Herbert Simon) và lý thuyết Z của Nhật (William Ouchi). Đến thập niên 1950, người ta xem quản trị theo khoa học đã hoàn chỉnh. Những lý thuyết quản trị trong giai đoạn này đã lần lượt giảng dạy tại các trường Đại học và hình thành nên chuyên ngành quản trị kinh doanh. Hoạt động quản trị trước những năm 1950 chủ yếu tập trung vào hiệu quả sản xuất nhằm nâng cao năng suất thông qua việc phân chia công việc, xây dựng sơ đồ tổ chức, xây dựng bảng mô tả công việc cho công nhân,…nhưng sau đó nó tiếp tục lan qua nhiều hoạt động khác như tài chính, tiếp thị và hình thành nên hệ thống các kiến thức và kỹ năng quản trị doanh nghiệp toàn diện. Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, các nhà quân sự của Hoa Kỳ đã nhận thức được rằng việc quản lý theo phương pháp khoa học không làm cho chất lượng sản phẩm tăng lên mà còn gây lãng phí lớn, đặc biệt đối với những sản phẩm của quốc phòng như máy bay, vũ khí không đạt chất lượng còn gây ra nhiều nguy hiểm cho xã hội. Chính vì vậy họ xây dựng các quy trình làm việc để sản xuất sản phẩm có chất lượng hơn và họ đặt tên Mil-Std 9858 (có nghĩa là tiêu chuẩn của quân đội). Đến năm 1979, Anh cũng đưa ra tiêu chuẩn quản lý áp dụng cho dân sự là BS 5750. Tuy nhiên, mãi đến năm 1987, thì phương pháp quản lý theo kiểu "làm đúng ngay từ đầu" hoặc "phòng ngừa" mới được áp dụng rộng rãi bằng sự ra đời của tiêu chuẩn ISO 9000:1987. Giai đoạn này người ta xem là giai đoạn quản lý tiên tiến. Sau thập niên 1990, tình hình thế giới có những biến đổi sâu sắc về mặt chính trị, kinh tế, xã hội làm cho sự cạnh tranh ngày càng diễn ra gay gắt buộc các doanh nghiệp phải tạo ra giá trị dành cho khách hàng ngày càng nhiều. Vì thế các doanh nghiệp đã tiến hành tái lập lại quá trình kinh doanh và cuốn sách "Tái lập công ty" ra đời đã được hưởng ứng rộng rãi. Cuối thập niên 1990 và đầu thế kỷ 21, sự ra đời của hai cuốn sách bán chạy của Thomas Friedman là "Chiếc Lexus và cây Ô Liu" và "Thế giới phẳng" đã minh chứng cho giai đoạn toàn cầu hóa. Lúc này người ta nhận thức được các 3 yếu tố quyết định trong môi trường kinh doanh: thứ nhất, khách hàng là người quyết định; thứ hai, cạnh tranh quyết liệt hơn; và thứ ba, phải thay đổi. Do vậy các nhà quản trị đã chuyển từ tập trung vào bên trong quá trình sản xuất sang tập trung vào khách hàng bên ngoài và làm thế nào tạo ra giá trị tăng thêm cho khách hàng. Đây chính là quản trị doanh nghiệp hiện đại.
Quá trình phát triển quản lý doanh nghiệp ở Việt Nam cũng đang tuần tự diễn ra theo xu hướng trên. Nếu xu hướng này cứ tiếp diễn thì doanh nghiệp Việt Nam sẽ thất bại trong xu hướng cạnh tranh toàn cầu ngày nay. Kể từ khi Việt Nam chuyển từ nền kinh tế kế hoạch sang nền kinh tế thị trường, phương thức quản lý ở các doanh nghiệp Việt Nam đã có sự thay đổi đáng kể tuy nhiên chưa đạt được hiệu quả. Trước khi đổi mới hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp này có các những đặc điểm cơ bản như sau:
  • Nó phục vụ những mục tiêu xã hội và chính trị nhiều hơn là kinh doanh.
  • Làm theo kế hoạch từ trên giao xuống
  • Những người quản lý được bổ nhiệm theo sự tin tưởng nhiều hơn là tài năng.
  • Cơ cấu tổ chức phát triển theo sự thuận tiện.
  • Mô phỏng cách thức của cơ quan hành chính với quyền hành không được ủy quyền cho ai mà tập trung vào tay giám đốc.
Trong các đặc điểm trên thì việc xây dựng cơ cấu tổ chức ở các doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò quyết định đến phương thức quản lý của các doanh nghiệp này. Hầu hết giám đốc doanh nghiệp nhà nước theo cơ chế cũ được bổ nhiệm vì chuyên môn hơn là vì kiến thức, kỹ năng quản lý. Kết quả của quá trình này là giám đốc doanh nghiệp nông nghiệp là kỹ sư nông nghiệp; giám đốc nhà máy hóa chất là kỹ sư hóa; giám đốc công ty thương mại là kỹ sư hoặc cử nhân kinh tế thương nghiệp,… Từ khi lên làm giám đốc, ông tiến hành thành lập các bộ phận được gọi là cơ cấu tổ chức và cơ cấu tổ chức này được hình thành theo lối thuận tiện hơn là theo khoa học. Ở các doanh nghiệp Việt Nam chúng ta thấy có phòng tổ chức - hành chính bởi theo cách hiểu thông thường vấn đề tuyển dụng con người là do giám đốc quyết định nên phòng tổ chức chỉ còn làm công tác giấy tờ nên công tác hành chính phải thuộc phòng này. Một ví dụ khác là phòng kế hoạch – kinh doanh hoặc kế hoạch – vật tư cũng tương tự. Bắt đầu là phòng kế hoạch lo tính toán các kế hoạch sản lượng, rồi tính toán các nguyên vật liệu đầu vào phục vụ cho sản xuất nên để thuận tiện giao luôn khâu mua vật tư cho phòng này là tốt nhất. Sau đó giám đốc thấy phòng kế hoạch – vật tư thường đi ra bên ngoài để mua vật tư nên việc bán hàng tốt nhất nên giao phòng này vì mua hoặc bán cũng như nhau nên hình thành phòng kế hoạch – kinh doanh chịu trách nhiệm mua nguyên liệu đầu vào và bán sản phẩm đầu ra. Việc hình thành cơ cấu tổ chức này hoàn toàn theo kiểu thuận tiện và điều đó tất nhiên là cách quản lý của các doanh nghiệp này hoàn toàn theo kiểu thuận tiện.
Từ thập niên 1990, khách hàng nước ngoài yêu cầu các doanh nghiệp Việt Nam phải có ISO 9000 thì mới mua hàng và chính yêu cầu bức bách này các doanh nghiệp bắt đầu tìm hiểu và quản lý theo kiểu ISO 9000. Tuy nhiên mô hình quản lý này không phải giúp cho các doanh nghiệp thành công mà còn rất nhiều trở ngại do chuyển từ quản lý thuận tiện sang quản lý tiên tiến theo ISO 9000 đòi hỏi thay đổi nhận thức rất lớn. Rất nhiều doanh nghiệp thuê tư vấn xây dựng hàng loạt các quy trình, chất đầy tủ nhưng chỉ thực hiện khi cần kiểm tra đánh giá để lấy chứng nhận, sau đó thì lãng quên đi vì thiếu sự cam kết của các cấp lãnh đạo. Các lãnh đạo trong doanh nghiệp hầu hết được bổ nhiệm do thuận tiện nên họ cảm thấy ISO 9000 là cái gì đó rắc rối, phức tạp, từ ngữ khó hiểu làm cho họ kém đi tính sáng tạo theo kiểu kinh nghiệm, thuận tiện.
Trước sự thay đổi nhanh chóng của nền kinh tế thế giới cuối thập niên 1990 và đầu thế kỷ 21, nhiều giám đốc nhận thấy rằng rất cần đi học những kiến thức và kỹ năng mới để có thể thành công trong cạnh tranh và thậm chí họ cũng quan tâm đến quản lý hiện đại như "tái lập công ty". Sau khi tiếp cận với nhiều lý thuyết quản lý khác nhau, giám đốc các doanh nghiệp thấy cần thiết phải thay đổi quản lý, cần phải "tái lập công ty" nhưng chủ yếu là cần thay đổi "cơ cấu tổ chức". Tuy nhiên, khi bắt đầu áp dụng thì gặp quá nhiều trở ngại từ việc không biết bắt đầu tư đâu đến sự phản ứng của các cấp quản trị doanh nghiệp nên cuối cùng phải từ bỏ và chuyển về quản lý theo kiểu thuận tiện.
Vậy doanh nghiệp Việt Nam sẽ đi về đâu trong tình huống này. Điều quan trọng là doanh nghiệp cần phải đánh giá lại toàn diện hoạt động của doanh nghiệp mình và cũng không thể chỉ dừng lại ở giai đoạn quản lý theo khoa học hoặc quản lý tiên tiến mà phải áp dụng mô hình quản lý hiện đại. Vì nếu cứ theo tuần tự thì doanh nghiệp Việt Nam không thể cạnh tranh được trong môi trường toàn cầu ngày nay. Tuy nhiên, cách tiếp cận là quản lý hiện đại, nhưng tùy theo trình độ nhận thức, kiến thức và kỹ năng con người mà chúng ta phối hợp tất cả các phương thức quản lý trên thế giới cho phù hợp.
Tóm lại, để thành công trên thương trường thì việc thay đổi phương cách quản lý là điều hết sức cần thiết vì các doanh nghiệp nhà nước hiện nay sẽ không đủ sức cạnh tranh và quan trọng hơn nữa là trong thời gian tới các doanh nghiệp nhà nước phải chuyển đổi thành công ty cổ phần thì việc thay đổi phương thức quản lý là điều tất yếu.

Thứ Ba, 28 tháng 8, 2007

Năng lực lãnh đạo theo quan điểm của vật lý lượng tử


NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO THEO QUAN ĐIỂM CỦA VẬT LÝ LƯỢNG TỬ
Vật lý học giải thích sự vận động của năng lượng, vật chất và vũ trụ. Tương tự, năng lực lãnh đạo là năng lực kích thích năng lượng con người và chuyển hóa năng lượng ấy thành hành động. Vì vậy, việc thể hiện năng lực lãnh đạo được coi như là sự thực hiện quá trình vật lý thân thể con người.
Cho đến ngày nay, người ta vẫn còn tiếp tục giải thích năng lực lãnh đạo theo một định luật được phát hiện từ thế kỹ 17. Đó là "Định luật tự nhiên vĩnh viễn không thay đổi" của nhà vật lý cổ điển Newton. Đối với thời đại đó, định luật này hoàn toàn mới và người ta coi nó như là mô hình cuối cùng của vũ trụ. Tuy nhiên, kể từ khi vật lý lượng tử ra đời (Lượng tử có nghĩa là một lượng năng lượng lớn), vật lý lượng tử đã cho thấy giới tự nhiên có sức mạnh to lớn và vật lý lượng tử đã giải thích nhiều sự kiện vượt ra ngoài khuôn khổ của vật lý cổ điển của Newton. Mặc dù vậy, người ta vẫn tiếp tục giải thích năng lực lãnh đạo dựa trên giải thiết của vật lý học cổ điển của Newton. Chính điều này đã dẫn đến sự hiểu biết thiếu toàn diện và hoàn chỉnh đối với năng lực lãnh đạo. Bảng sau đây giải thích năng lực lãnh đạo theo quan điểm vật lý cổ điển của Newton và vật lý lượng tử

Vật lý cổ điển
Vật lý lượng tử
Quan điểm 1
Năng lực lãnh đạo là một bộ phận hợp thành
Năng lực lãnh đạo là một phạm vi hoạt động
Quan điểm 2
Năng lực lãnh đạo là thuộc tính kéo dài và liên tục của con người
Năng lực lãnh đạo là một sự việc lúc thì liên tục lúc thì đứt quãng
Quan điểm 3
Anh hưởng của năng lực lãnh đạo là do quyền lực tạo nên
Anh hưởng của năng lực lãnh đạo là sự tác động tương hỗ
Quan điểm 4
Năng lực lãnh đạo theo lô gíc nhân quả
Năng lực lãnh đạo không có kết cấu và không thể dự đoán được
Quan điểm 5
Năng lực lãnh đạo là hiện tượng khách quan
Năng lực lãnh đạo là hiện tượng chủ quan

1. Quan điểm thứ nhất : Năng lực lãnh đạo là bộ phận hợp thành hay phạm vi hoạt động
Theo quan điểm của Newton, hiện thực khách quan do từng bộ phận hợp thành. Vì thế để hiểu được hiện thực khách quan, người ta phải phân tích các bộ phận hợp thành rõ ràng và có thể nhìn thấy được. Dựa trên quan điểm này, người ta cũng cho rằng năng lực lãnh đạo cũng bao gồm những bộ phận hợp thành như : tập quán, đặc trưng, hành vi cá nhân của con người. Điều này có nghĩa là những cá nhân đạt được một số tiêu chuẩn do con người trong tổ chức đặt ra thì người đó sẽ được đề bạt làm lãnh đạo. Tuy nhiên vật lý lượng tử cho rằng mọi sự vật hiện tượng đều có phạm vi hoạt động. Điều này có nghĩa là sự vật, hiện tượng còn chịu tác động qua lại giữa các yếu tố khác trong môi trường. Theo vật lý lượng tử, năng lực lãnh đạo chỉ thể hiện trong phạm vi hoạt động của nó. Người lãnh đạo chỉ thể hiện đặc trưng và hành vi cá nhân khi có mối quan hệ với người khác. Người ta chỉ trở thành người lãnh đạo khi có người tín nhiệm và ủng hộ. Chính vì vậy, khi cần đề bạt, bổ nhiệm người lãnh đạo phải căn cứ vào sự tín nhiệm của quần chúng.
2. Quan điểm thứ hai, năng lực lãnh đạo lúc liên tục lúc đứt quãngĐịnh luật Newton coi hành động là quá trình lưu động không đứt quãng. Khi quan sát một quả bóng lăn từ trên sườn núi xuống thì chúng ta thấy đó là một quá trình vận động liên tục. Điều này mô tả rất rõ hiện thực của vật thể rắn. Tuy nhiên, nếu cho rằng năng lực lãnh đạo là thuộc tính liên tục thì không thể giải thích được hiện thực là những người lãnh đạo, thậm chí là vĩ đại, đều không thể giữ mãi những người đi theo. Vật lý lượng tử cho rằng năng lực lãnh đạo là đứt quãng. Một người lãnh đạo hấp dẫn những người đi theo một cách thường xuyên và nhất quán sẽ khiến cho năng lực lãnh đạo thể hiện ra bề ngoài là liên tục. Trong thực tế, năng lực lãnh đạo khi lên, khi xuống. Có trường hợp, người lãnh đạo có thể được sự tín nhiệm của người đi theo vào thời gian này, nhưng sau đó lại thôi. Trường hợp khác, người lãnh đạo khi không còn sự tín nhiệm nơi này nhưng sau đó lại được sự tín nhiệm khi chuyển đến nơi khác. Đây là cơ sở cho việc luân chuyển cán bộ lãnh đạo và bổ nhiệm có thời hạn.
3. Quan điểm thứ ba, Anh hưởng của năng lực lãnh đạo là do quyền lực hay tác động lẫn nhau.
Người ta thường mô tả lãnh đạo là người đứng đầu nhà nước, doanh nghiệp hay là tổ chức vì người này có quyền lực. Đây là nhận thức theo quan điểm của vật lý cổ điển. Anh hưởng của năng lực lãnh đạo là một dạng quyền lực. Vật lý cổ điển mô tả lực tự nhiên là một lực có thể đưa vật thể đi qua không gian bằng cách khắc phục những lực cản như quán tính và ma sát. Loại ảnh hưởng năng lực lãnh đạo dạng quyền lực là quá trình tiêu hao năng lượng, tiêu hao vật chất sinh ra mỏi mệt. Tương tự như vậy giám đốc doanh nghiệp hay người đứng đầu tổ chức sử dụng ảnh hưởng dạng quyền lực để lãnh đạo sẽ trải qua quá trình tiêu hao sinh lý và tình cảm. Vật lý lượng tử thì cho rằng năng lực lãnh đạo là do sự tín nhiệm chứ không phải do quyền lực. Đây chính là điểm khác nhau giữa người lãnh đạo và người quản lý. Người quản lý thường sử dụng quyền lực do tổ chức giao phó để hành động, còn người lãnh đạo thì sử dụng sự tín nhiệm của người đi theo để tạo ra môi trường tương tác lẫn nhau giữa người lãnh đạo và người đi theo hành động vì mục đích chung. Người lãnh đạo chọn đúng việc để làm, còn người quản lý làm công việc cho đúng.
4. Quan điểm thứ tư, Năng lực lãnh đạo có quan hệ nhân quả hay có tính chất không thể dự báo trước được.
Tư tưởng cốt lõi trong thế giới quan của Newton cho rằng sự phát sinh một sự kiện nào đó là do nhân quả, tức là có thể dự báo trước. Một lực được xác định sẽ quyết định sự vận động của vật chất. Tuy nhiên, quan niệm về quan hệ nhân quả đã hạn chế năng lực cải cách của con người, bởi vì quan niệm này làm nảy sinh một quan niệm cho rằng những phương pháp và chiến lược từng rất có tác dụng trước đây sẽ tiếp tục phát huy tác dụng. Theo vật lý lượng tử, năng lực lãnh đạo là không thể dự báo và là một hiện thực không dự định trước được. Trong thế giới lượng tử, năng lượng vận động từ điểm này sang điểm khác với tốc độ nhanh chóng, nhưng không thể xác định được chúng vận động tới đâu và lúc nào. Hơn nữa, chúng không tuân theo lô gíc tuyến tính của học thuyết Newton. Năng lực lãnh đạo theo mô hình lượng tử cho chúng ta thấy rằng, người lãnh đạo tự đặt mình vào môi trường hoạt động chưa biết trước và vượt ra khỏi phạm vi của con đường có thể dự báo. Vì tính chất không thể dự báo trước, năng lực lãnh đạo bao giờ cũng đứng truớc "rủi ro sáng kiến". Có những quyết định của người lãnh đạo thành công, nhưng cũng có những quyết định thất bại. Do đó, người lãnh đạo phải không ngừng học tập và thích ứng với môi trường luôn luôn thay đổi. Năng lực lãnh đạo đòi hỏi phải có thời gian để hoàn thiện dần.
5. Quan điểm thứ năm, Năng lực lãnh đạo là hiện thực khách quan hay chủ quanTheo vật lý cổ điển của Newton, năng lực lãnh đạo là một sức mạnh được sản sinh từ hiện thực khách quan, lấy hiện thực khách quan để giải thích những tiêu chí được coi là của người lãnh đạo như phẩm chất, hành vi, tập quán và thuộc tính…Lấy những tiêu chí này để xác định năng lực lãnh đạo có hiệu quá. Thực tế, chúng ta thấy rằng cùng một thông tin nhưng hai nhà lãnh đạo doanh nghiệp khác nhau sẽ có biện pháp hành động khác nhau. Vật lý lượng tử cho rằng năng lực lãnh đạo được sản sinh từ hiện thực chủ quan. Nó bắt nguồn từ ý thức của người lãnh đạo. Ý thức – con người xử lý thông tin – sản sinh ra ý đồ. Ý thức đã chuyển hóa tiềm lực thành hành động khả thi. Sự tác động qua lại giữa ý thức của người lãnh đạo và hoàn cảnh xung quanh đã khiến người lãnh đạo trở thành người tham dự hiện thực chủ động – người sáng tạo. Hành động quan sát sự vật hiện tượng và phán đoán của người lãnh đạo sẽ làm thay đổi thế giới. Chính vì vậy, người lãnh đạo cần có ý thức rõ rệt về mục đích của tổ chức và có tầm nhìn xa. Người lãnh đạo phải có khả năng diễn đạt viễn cảnh của tổ chức và làm cho viễn cảnh neo chặt vào hiện thực của tố chức khiến cho mọi người cùng hành động theo. Người lãnh đạo theo mô hình lượng tử vừa là nhà khoa học vừa là nhà nghệ thuật.

Digital Marketing – Chìa khóa mở cửa kỷ nguyên tiếp thị hiện đại

  Trong thời đại số hóa, khi mọi tương tác, giao tiếp và quyết định mua hàng dần chuyển dịch lên môi trường trực tuyến, Digital Marketing ( ...