Hiển thị các bài đăng có nhãn Thị trường nông sản. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thị trường nông sản. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 15 tháng 2, 2013

Ngành mía đường sẽ không còn ngọt trong năm 2013? Góc nhìn từ tính chu kỳ ngành

Tác giả Lê Tất Thành
Chuyên viên phân tích độc lập
Theo TTVN

 


Ngành mía đường sẽ không còn ngọt trong năm 2013? Góc nhìn từ tính chu kỳ ngành

Lịch sử ngành mía đường Việt Nam cho thấy rằng mía đường là ngành có tính chu kỳ xấp xỉ 5 năm với giá cả và lợi nhuận của ngành có mối quan hệ nghịch biến với diện tích mía.

Sau giai đoạn giá mía-đường liên tục tăng cao, nông dân và giờ đây là cả các “đại gia” mía đường đang tích cực gia tăng diện tích mía. Và không còn nghi ngờ gì nữa, đỉnh của ngành mía đường một lần nữa đang được lặp lại theo chu kỳ của nó!
Từ dữ liệu quá khứ
Lịch sử ngành mía đường Việt Nam cho thấy rằng mía đường là ngành có tính chu kỳ xấp xỉ 5 năm với giá cả và lợi nhuận của ngành có mối quan hệ nghịch biến với diện tích mía. Mỗi lần diện tích mía từ 300 ngàn ha trở lên là dấu hiệu cảnh báo ngành mía đường đang ở đỉnh của chu kỳ, giá mía đường sẽ xuống thấp và ngành chuẩn bị đón một đợt sụt giảm lợi nhuận do hệ quả của nguồn cung dư thừa.
Bất chấp nhu cầu tiêu thụ đường của các nhà máy nước giải khát, bánh kẹo và tiêu thụ đường trực tiếp gia tăng trong 10 năm qua (trung bình khoảng 3%/ năm), năng suất mía cũng gia tăng từ mức 50 tấn/ha trong năm 2003 lên 55 tấn/ha giai đoạn 2007-2008 và đến 61-63 tấn/ha giai đoạn 2012-2013, nên diện tích mía có thể được xem là chỉ tiêu khá chuẩn mực để đánh giá tính chu kỳ của ngành mía đường Việt nam.
Hình 1: Diện tích và giá mía, 2003 – 2013E
Ngành mía đường sẽ không còn ngọt trong năm 2013? Góc nhìn từ tính chu kỳ ngành (1)
Nguồn: Bộ Nông Nghiệp, Hiệp Hội Mía Đường
Lưu ý: Diện tích niên vụ 2012-2013 (gọi tắt là niên vụ 2013) dựa trên kế hoạch sản xuất của 40 nhà máy đường. Giá đường niên vụ 2013 được lấy ở thời điểm hiện tại của khu vực ĐBSCL để phản ánh xu hướng giảm giá đường, không đại diện cho cả niên vụ 2013
Để minh chứng biến động lợi nhuận của các doanh nghiệp mía đường với chu kỳ ngành. Tôi dùng lợi nhuận gộp của BHSSBT với diện tích mía theo thời gian vì (1) lợi nhuận gộp chỉ phản ánh mối quan hệ giữa nhà máy đường với người tiêu dùng và nông dân nên đánh giá chính xác hơn các chỉ tiêu lợi nhuận khác; (2) hai nhà máy đường SBT và BHS có dữ liệu tài chính quá khứ đủ dài và đại diện được cho ngành mía đường.
Nhìn vào hình 2 có thể thấy mối quan hệ này rất rõ nét: lợi nhuận của SBT và BHS thấp nhất trong những năm diện tích mía ở vùng đỉnh (trên 300 ngàn ha) dẫn đến ngành đường dư thừa nguồn cung như niên vụ 2003 và 2008; và lợi nhuận cao nhất trong những năm ngành đường có diện tích ở vùng đáy (khoảng 260 ngàn ha) dẫn đến nguồn cung không đáp ứng đủ nhu cầu như niên vụ 2006 và 2011.




Hình 2: Diện tích mía và lợi nhuận gộp của SBT và BHS, 2003 – 2011
Ngành mía đường sẽ không còn ngọt trong năm 2013? Góc nhìn từ tính chu kỳ ngành (2)
Nguồn: Bộ Nông Nghiệp, Hiệp Hội Mía Đường, BCTC SBT và BHS
Niên vụ 2012, năng suất mía tăng nhẹ và diện tích mía tăng 12 ngàn ha so với 2011 đạt 283 ngàn ha, nằm ở giữa chu kỳ của ngành nên việc các doanh nghiệp mía đường gần đây công bố lợi nhuận gộp 3 quý năm 2012 sụt giảm so với cùng kỳ năm trước cũng là một điều dễ hiểu, vẫn nằm trong chu kỳ của ngành mía.
Hình 3: Lợi nhuận gộp của các doanh nghiệp mía đường (tỷ đồng), 3 quý 2011 so với 3 quý 2012
Ngành mía đường sẽ không còn ngọt trong năm 2013? Góc nhìn từ tính chu kỳ ngành (3)
Nguồn: BCTC các doanh nghiệp
Cần biết rằng, chu kỳ 5 năm của ngành mía đường không phải là đặc điểm riêng có tại Việt Nam mà nó phổ biến trên thế giới do đặc điểm của cây mía có tính chu kỳ (trồng và thu hoạch trong 3 năm). Quan sát biến động giá đường thế giới có thể thấy giá đường đạt đỉnh vào các niên vụ 2001, 2006, 2011 và đạt đáy vào các niên vụ 2002, 2007.





Hình 4: Giá đường thế giới (USD cents/lb), 2000 – 11T/2012
Ngành mía đường sẽ không còn ngọt trong năm 2013? Góc nhìn từ tính chu kỳ ngành (4)
Nguồn: FAO
Dự báo niên vụ 2013: Đỉnh của chu kỳ ngành và đáy lợi nhuận của các nhà máy đường Việt Nam
Theo Hiệp hội mía đường, bước sang niên vụ 2013, diện tích mía dự kiến đạt 300 ngàn ha, bên cạnh đó là 3.503 ha mà SBT và BHS đã ứng vốn cho các doanh nghiệp đối tác Campuchia trồng mới tại tỉnh Svay Riêng, nâng tổng diện tích mía tiêu thụ tại Việt Nam lên 303 ngàn ha (không tính diện tích mía 10 ngàn ha của HAGL vì sản xuất tại Lào và Bộ Tài Chính không chấp nhận đề nghị của Bộ Công Thương cấp hạn ngạch nhập khẩu đường riêng cho HAGL theo công văn 7043/BTC-CST, HAGL cũng phủ nhận thông tin xuất về Việt Nam).
Từ dữ liệu quá khứ, diện tích mía đang báo hiệu ngành ở vùng đỉnh của chu kỳ. Và thực vậy, diện tích này lớn hơn mốc cảnh báo 300 ngàn ha, nằm trong chu kỳ 5 năm của ngành mía 2003 – 2008 – 2013 (xem hình 1), trùng với triển vọng giá đường thế giới đang sụt giảm khi các nước sản xuất đường chính như Brazil, Ấn Độ, Trung Quốc có vụ mùa bội thu và theo kế hoạch sản xuất của 40 nhà máy đường trong niên vụ 2013 thì sản lượng đường dự kiến đạt 1.6 triệu tấn, mức sản lượng kỷ lục của ngành đường Việt Nam!
Vì vậy, tương ứng với vùng đỉnh mía-đường, rõ ràng rằng “mía” của người nông dân, “đường” của các nhà máy và các DN niêm yết sẽ không còn ngọt trong năm 2013 khi nguồn cung đường sẽ trở nên thừa thãi và giá đường đang tiếp tục đi xuống. Một lần nữa lịch sử ngành đường đang lặp lại chính nó và tương lai đã có thể nhìn thấy trước!

Thứ Năm, 10 tháng 1, 2013

Ngành lúa gạo Australia - Bài học từ tổ chức ngành hàng



Tác giả: Trịnh Văn Tiến, Canberra, Australia
 
Lịch sử trồng lúa nước Úc
Cây lúa không phải là loại cây trồng bản địa của Australia. Năm 1905, Ông Jo Takasuka (1865-1940), người Nhật Bản di cư từ Matsuyama đến Melbourne năm 1905, đã mang giống lúa japonica trồng thử ở lưu vực sông Murray, bang New South Wales (NSW). Sau đó, ông Jo được chính quyền Bang cấp 90 ha đất ngập nước ở Murray để trồng trình diễn phương pháp canh tác lúa. Năm 1912, công trình thủy nông dẫn nước từ tuyết tan trên các vùng núi tới sông Murrumbidgee với 10.000 km được xây dựng ở Leeton (NSW), tạo nên một vùng sản xuất lương thực lớn nhất nước Úc ngày nay. Gia đình ông Jo mang hạt lúa giống đến giao cho các nhà khoa học của Trại Thí Nghiệm Yanco để trồng thử nghiệm từ 1915-1920 ở công trình thủy nông và mở ra trang mới cho ngành hàng lúa gạo của nước Úc. Đến 1924, một số nông dân bắt đầu trồng lúa đại trà từ 2- 6 ha mỗi nông hộ theo lối trồng lúa mì nhưng ngập nước. Năm 1930, nước Úc trồng 8.093 ha, sản lượng 34.405 tấn lúa và năng suất đạt 4,25 tấn/ha (Yanco Agricultural Institute, dẫn theo Trần Văn Đạt, 2010).

Phát triển sản xuất lúa gạo ở nước Úc

Khí hậu nước Úc thuận lợi cho trồng giống lúa Japonica (loại cho hạt cỡ trung bình -medium grain) do có bức xạ cao và không có sâu bệnh hại. Vùng trồng lúa chính là Bang New South Wales, trong đó tập trung ở 3 khu vực là Murrumbidgee, Coleambally và thung lũng Murray – đây là những khu vực có địa hình bằng phẳng và thuận lợi về nước tưới do có 2 con sông Murrumbidgee và Murray chảy qua.
Tiềm năng phát triển trồng lúa của nước Úc rất lớn vì có đất đai rộng lớn, dân số ít và khả năng cạnh tranh mạnh nhờ năng suất lúa cao; nhưng diện tích trồng lúa của nước này cũng bị giới hạn bởi yếu tố nước tưới và biến đổi khí hậu. Tổng diện tích trồng lúa của Úc hàng năm giao động từ 100 – 150 ngàn ha với hơn 1700 hộ nông dân trồng lúa. Tại bang NSW, bình quân 1 hộ nông dân sở hữu 300 ha, trong đó diện tích đất lúa bình quân hộ là 70 ha; lao động trực tiếp sản xuất lúa khoảng 2000 người và lao động gián tiếp khoảng 8000 (thông thường 1 lao động đảm nhiệm 70ha). Diện tích trồng lúa của Úc không ổn định một mặt do nông dân trồng lúa không được hưởng chính sách trợ cấp nên diện tích gieo trồng và sản lượng tăng giảm thùy theo diễn biến giá cả trên thị trường, mặt khác do thiếu nước nước tưới và biến đổi khí hậu gây ra hạn hán liên tiếp trong những năm gần đây. Sử dụng nước tiết kiệm và hợp lý là một trong những điều kiện đặt ra đối với nông dân trồng lúa. Theo quy định, hộ nông dân được sản xuất lúa nếu thỏa mãn 3 điều kiện: (i) có diện tích đất thích hợp cho việc trồng lúa; (ii) sử dụng nước hợp lý (no more than 4 ML above ET); (iii) và tổng diện tích gieo trồng lúa phải có 70% diện tích được tưới.
Hiện nay, năng suất lúa của Úc luôn đạt mức trên 10 tấn/ha. Sở dĩ nước Úc đạt năng suất lúa cao nhất thế giới là do nông dân trồng lúa thực hiện các biện pháp kỹ thuật như luân canh lúa và các loại cây ngũ cốc, cơ giới hóa từ khâu canh tác đến chế biến, và các cánh đồng lúa hầu như không có sâu bệnh. Bình quân 1 hộ nông dân sở hữu 300 ha đất, nông dân chỉ trồng lúa 1 vụ/năm trên một phần ba ruộng đất của mình theo hệ thống luân canh: lúa + kiều mạch hoặc đại mạch. Họ có thể trồng lúa trong hai năm liên tiếp, sau đó đưa các đàn cừu vào ruộng ăn rơm rạ. Đồng thời nông dân gieo loại cỏ 3 lá (clover) thuộc họ đậu để tránh cỏ dại phát triển. Các đàn cừu ăn cỏ 3 lá và phân cừu được thải vào ruộng cung cấp phân đạm làm phục hồi dinh dưỡng đất đai mau chóng. Ruộng dùng để nuôi cừu và làm đồng cỏ trong hai năm. Tiếp theo 2 năm trồng cỏ, nông dân trồng một vụ ngũ cốc khác như lúa mì, mạch hoặc bắp rồi mới trở lại vụ lúa. Hệ thống luân canh này là phương pháp canh tác lý tưởng giúp sử dụng ít phân hóa học (chỉ 60 kg đạm Ure/ha cho lúa), ít thuốc diệt cỏ và bồi dưỡng tốt cho đất đai, nhưng năng suất rất cao. Bên cạnh đó, ngành trồng lúa của nước Úc cũng ít bị nhiễm các loại sâu bệnh thường thấy ở các vùng sản xuất lúa nhiệt đới và ôn đới khác trên thế giới, nhờ chương trình kiểm dịch chặt chẽ (rice check), khí hậu tốt, trồng một vụ lúa/năm, hệ thống luân canh hữu hiệu và chương trình cải thiện giống lúa tiến bộ. (Yanco Agricultural Institute, dẫn theo Trần Văn Đạt, 2010).  

Tiêu dùng gạo nội địa chỉ chiếm 15%, còn lại 85% là xuất khẩu, khối lượng gạo xuất khẩu của Úc chiếm 20-25% thương mại gạo loại medium grain toàn thế giới. Trong thập niên 1980, giá lúa gạo trên thị trường thế giới xuống thấp gây khó khăn trong việc tiêu thụ lúa gạo của Úc. Để đối phó với tình hình này, ngành lúa gạo Úc đã phát động các chiến dịch kích cầu để gia tăng tiêu thụ lúa gạo trên thị trường nội địa, qua đó kích thích công nghiệp chế biến lúa gạo phát triển. Kể từ đó đến nay, hạ tầng chế biến lúa gạo Úc liên tục được đầu tư, đổi mới theo hướng đồng bộ và hiện đại, chế biến ra hơn 1000 sản phẩm từ lúa gạo trong đó có các dòng sản phẩm chính là sản phẩm gạo, các loại bánh gạo, thức ăn gia súc chế biến từ cám gạo và năng lượng, compost … chế biến từ vỏ trấu. Công nghiệp chế biến lúa gạo phát triển đã nâng đỡ cho ngành lúa gạo Úc phát triển sản phẩm và thị trường ra ngoài biên giới Úc với các sản phẩm có chất lượng, thâm nhập các thị trường cao cấp và thu về giá trị gia tăng cao.
Tổ chức ngành hàng lúa gạo Úc
Tổ chức ngành hàng lúa gạo Úc khá đơn giản, gọn nhẹ, nhưng hiệu quả; bao gồm 3 cơ quan: Hội đồng giám sát hoạt động thương mại gạo bang NSW (gọi tắt là RMB - Rice Marketing Board for the State of New South Wales); Hiệp hội những người trồng lúa Úc (gọi tắt là RGA – Rice Growers’ Association of Australia); và công ty TNHH thương mại Sunrice. Ba cơ quan này hoạt động thông qua Ủy ban phối hợp ngành hàng lúa gạo (Rice Industry Co-ordination Committee).
-          RMB thành lập từ năm 1928 và hoạt động dựa trên Luật Marketing các sản phẩm chính (the Marketing of Primary Products Act, 1927). Cơ quan này giữ vai trò quản lý hạ tầng kho bãi ngành hàng lúa gạo Úc, đồng thời thực hiện 3 chức năng đối với riêng bang NSW: (i) khuyến khích phát triển thị trường gạo trong nước cạnh tranh cao; (ii) bảo vệ lợi ích người trồng lúa trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu gạo; (iii) đại diện người trồng lúa bang NSW.
-          RGA thành lập năm 1930, là cơ quan đại diện tiếng nói tập thể của người trồng lúa, với số lượng hội viên tham gia tự nguyện hiện nay là hơn 1700. Cơ quan nay thực hiện 3 chức năng: (i) đề xuất và thực thi các chính sách ngành lúa gạo đảm bảo lợi ích cho người trồng lúa; (ii) đại diện cho người trồng lúa đối với chính quyền bang, chính phủ, các cơ quan, tổ chức địa phương, các nhóm lợi ích khác có liên quan đến ngành hàng lúa gạo; (iii) phục vụ các yêu cầu cụ thể của các hội viên.
-          SunRice là công ty kinh doanh lúa gạo được thành lập từ 1950, ban đầu dưới dạng tổ chức hợp tác của những người trồng lúa. Hiện nay công ty hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần, trong đó những nông dân trồng lúa đóng vai trò là những cổ đông. Sunrice là một trong những thương hiệu chế biến xuất khẩu lớn của Úc với 500 ngàn tấn của hơn 1000 sản phẩm từ gạo các loại xuất khẩu đến 60 quốc gia trên thế giới. Hiện nay công ty có 3 nhà máy chế biến đóng gói sản phẩm ở Leeton, Deniliquin và Coleambally, chế biến ra 3 dòng sản phẩm chính là gạo, bột gạo và các loại bánh chế biến từ gạo; ngoài ra công ty còn có các nhà máy đặt tại một số quốc gia như Ấn Độ, Jordan, Solomon v.v..
Mô hình tổ chức ngành hàng lúa gạo Úc cho thấy vai trò của chính phủ không lớn trong việc đảm bảo lợi ích của nông hộ trồng lúa. Việc đề xuất và thực thi các chính sách liên quan đến ngành hàng lúa gạo đều xuất phát từ người trồng lúa, chính phủ và chính quyền bang chỉ đóng vai trò là cơ quan giám sát quá trình thực thi dựa trên các đạo luật có liên quan. Đặc biệt, mô hình công ty Sunrice hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần trong đó người trồng lúa là thành viên đã thúc đẩy quá trình chuyên môn hóa trong sản xuất lúa gạo Úc. Nông dân trồng lúc Úc trong vai trò là người sản xuất chỉ tập trung canh tác tốt để cho sản lượng tối đa, các khâu chế biến, tiêu thụ do công ty đảm nhiệm, song lợi nhuận cuối cùng được phân phối công bằng cho các thành viên theo tỷ lệ công việc mà họ đóng góp. Cách thức tổ chức khép kín từ khâu sản xuất đến thương mại đã giúp loại bỏ các thành phần trung gian, giảm chi phí và giúp lúa gạo Úc tăng khả năng cạnh tranh so với các quốc gia sản xuất lúa gạo trên thế giới.
Bài học tham khảo đối với ngành lúa gạo Việt Nam
Từ những thông tin thu lượm được trong chuyến khảo sát ở Úc nêu trên, có thể thấy mô hình tổ chức ngành hàng Úc rất gọn nhẹ, đa số thành viên trong 3 cơ quan quản lý và thực hiện đều là những người đại diện cho nông dân trồng lúa; chính sách ngành lúa do chính nông dân đề xuất và thực thi, nhà nước chỉ đóng vai trò trọng tài và can thiệp dựa trên quy định trong các điều luật mỗi khi trong “hệ thống” ngành hàng có những hoạt động vận hành sai. Tính gọn nhẹ trong tổ chức và lấy lợi ích của thành viên là mục tiêu hoạt động đã giúp ngành lúa gạo Úc vận hành hiệu quả.
Tổ chức chuỗi giá trị ngành hàng lúa gạo Úc thông qua mô hình công ty Sunrice có một số ưu điểm: (i) duy trì và kiểm soát được số lượng và lợi ích của các tác nhân trong chuỗi cung theo hướng công bằng và minh bạch giúp các thành phần trong chuỗi có động lực để làm tốt các công việc của mình, qua đó làm cho cả hệ thống vận hành hiệu quả, giá trị sản phẩm luôn được gia tăng qua mỗi công đoạn và làm tăng lợi nhuận trên đơn vị sản phẩm cuối cùng; (ii) mô hình công ty cổ phần đã tập hợp và tổ chức được nông dân sản xuất lúa gạo theo nhu cầu thị trường để thu được lợi ích cao nhất; (iii) quyền lợi và lợi ích của người sản xuất lúa được đảm bảo; (iv) phân công lao động trong chuỗi cung ngành hàng lúa gạo đạt trình độ hợp lý, khoa học và hiệu quả cao.
Tổ chức chuỗi giá trị ngành hàng lúa gạo Úc không hẳn là mới đối với ngành hàng lúa gạo Việt Nam. Từ những năm trước 1990, các tổng công ty lương thực đều có mạng lưới các hợp tác xã sản xuất và hệ thống kho tàng bảo quản và chế biến lương thực; mỗi thành phần kinh tế trong chuỗi cung đều đảm trách từng khâu công việc cụ thể và khép kín từ sản xuất đến thu hoạch, bảo quản, chế biến và lưu thông. Điểm khác biệt là các tổng công ty lương thực do Nhà nước nắm giữ nên hoạt động theo cơ chế mệnh lệnh, quan liêu và trông chờ vào sự trợ giúp của Nhà nước.
Qua kinh nghiệm tổ chức chuỗi cung ngành hàng lúa gạo Úc, có thể thấy mô hình “công ty cổ phần nông nghiệp” là hình thức tổ chức phù hợp đối với nông dân trồng lúa và là hướng đi cần được thử nghiệm và thể chế hóa thành chính sách để thực thi trong thời gian tới đối với ngành hàng lúa gạo Việt Nam. Mô hình này đã được giáo sư Võ Tòng Xuân đề xuất trong thời gian gần đây. Xin được trích phần đề xuất mô hình của giáo sư Võ Tòng Xuân thay cho lời kết bài viết này.

Mô hình công ty cổ phần nông nghiệp
Khi triển khai Nghị quyết số 26-NQ/TW cần thiết phải kết hợp với Nghị quyết Trung ương 5 (Khóa IX) để tập hợp nông dân trên cùng vùng quy hoạch sản xuất nguyên liệu nông sản theo chuỗi giá trị gia tăng bằng cách gắn liền với một nhóm công ty có cơ sở bảo quản, chế biến hàng hóa có thương hiệu và có đầu ra phân phối sản phẩm có thương hiệu đó. Nông dân trong tổ hợp có thể thành lập hợp tác xã, tập đoàn trang trại, hoặc cụm sản xuất, chỉ chuyên trồng/sản xuất một giống cây/con theo đúng chuẩn VietGAP hoặc GlobalGAP mà thị trường đòi hỏi. Toàn bộ tổ hợp nông dân và các công ty chế biến tiêu thụ sẽ hình thành một Công ty cổ phần nông nghiệp.
Mục tiêu của Công ty cổ phần nông nghiệp là tổ chức nông dân thành những hợp tác xã, tập đoàn sản xuất hoặc cụm sản xuất nguyên liệu nông sản theo phương thức hiện đại đạt mọi tiêu chuẩn thị trường cạnh tranh để cung cấp cho doanh nghiệp chế biến tiêu thụ với giá trị cao.
Gắn kết chuỗi giá trị sản xuất nông sản, từ nguyên liệu đến thành phẩm đưa ra thị trường, để lợi tức được phân bổ hợp lý cho các thành phần tham dự, trong đó bảo đảm cho nông dân luôn luôn có cơ hội tích lũy lợi tức trong khi doanh nghiệp cũng bảo đảm mức thu nhập.
Phương pháp vận hành của Công ty cổ phần nông nghiệp là vận dụng Nghị quyết Trung ương 5 (Khóa IX) và Nghị quyết số 26 để lần lượt thực hiện các bước đi cơ bản sau đây:
1 - Vai trò chủ đạo để xâu mối các thành phần của hệ thống là chính quyền địa phương, tốt nhất là cấp tỉnh, có thể là từ bộ phận chuyên môn của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Đơn vị này có nhiệm vụ tổ chức xây dựng hệ thống và việc điều hành hệ thống này sẽ do một doanh nghiệp chế biến và tiêu thụ sản phẩm phụ trách, Nhà nước không cần làm việc này.
2 - Quy hoạch vùng sản xuất nông sản: đây là vùng có lợi thế trồng nông sản hoặc nuôi thủy sản mà một doanh nghiệp có thị trường cần có nguyên liệu để sản xuất. Công việc này cần sự hợp tác giữa chính quyền địa phương và doanh nghiệp chế biến.
3 - Lập kế hoạch tổng thể phát triển vùng quy hoạch: từ sản xuất nguyên liệu đến phân phối sản phẩm có thương hiệu ra thị trường. Trên cơ sở đó, lập dự án xây dựng hệ thống sản xuất và đồng thời dự án tổ chức nông dân tập thể. Đây cũng là công việc cần sự hợp tác giữa chính quyền địa phương và doanh nghiệp chế biến, kết hợp với bộ phận hợp tác hóa nông nghiệp của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
4 - Tổ chức nông dân theo những hình thức hợp tác phù hợp: tất cả nông dân canh tác trên vùng đã được quy hoạch sản xuất trước tiên phải nhận thức được tầm quan trọng của sản xuất nông nghiệp trong điều kiện thị trường hội nhập, thấy rõ tại sao làm ăn cá thể không còn phù hợp trong nền kinh tế thị trường. Mục đích sau cùng là để họ tự giác hợp tác với nhau một cách dân chủ và bình đẳng cùng sản xuất nguyên liệu nông sản theo dự án đã được Nhà nước duyệt. Mỗi nông dân xã viên có thể mua cổ phần của công ty bằng sản phẩm của mình thay vì bằng tiền. Đây là công tác của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn kết hợp với Liên minh Hợp tác xã và Hội Nông dân của tỉnh. Một chính sách mới, đặc biệt áp dụng cho nông dân tham gia Công ty cổ phần nông nghiệp, cần được Nhà nước ban hành: cho nông dân xã viên được mua cổ phiếu liên tục sau mỗi mùa thu hoạch sản phẩm (vì mua một lần thì nông dân không có vốn để mua). Một cơ chế cần được sự đồng tình của nông dân là công ty trả tiền chậm 10 ngày cho nông dân. Đây là biện pháp hiệu quả để giảm áp lực tiền mặt tại thời điểm thu hoạch đại trà. Công ty bảo đảm giá lúa trả cho nông dân bằng hoặc cao hơn giá ở thời điểm nông dân giao lúa cho công ty. Tại điểm này chúng ta cần thêm một chính sách mới kế tiếp của Nhà nước: bù lỗ cho công ty để bảo đảm giá lúa cho nông dân. Hiện nay, tất cả các quốc gia mạnh trên thế giới như Mỹ, Nhật Bản, các nước EU đều trợ cấp cho nông dân hàng trăm tỉ USD mỗi năm, thì việc Chính phủ Việt Nam trợ cấp giá lúa của nông dân vẫn phù hợp với cách làm quốc tế.
5 - Xây dựng khu công nghiệp của công ty. Đây là trung tâm đầu não của Công ty cổ phần nông nghiệp, bao gồm sân phơi, máy sấy, nhà kho, nhà máy xay xát chế biến gạo thành phẩm, chế biến các nông sản khác, nhà máy phát điện bằng ga trấu, v.v.. Đây là phần đầu tư của các doanh nghiệp thành viên của công ty, hiện đại hóa công nghệ sau thu hoạch bảo đảm không thất thoát khối lượng và ảnh hưởng chất lượng sản phẩm.
6 - Thành lập bộ phận phân phối sản phẩm. Những sản phẩm đạt chất lượng sẽ được phân phối ra thị trường cao cấp hoặc xuất khẩu; sản phẩm không đạt chất lượng có thể được để lại phân phối trong địa phương hoặc bán tại chỗ. Lãnh đạo công ty phải xác định thị trường và sản phẩm đầu ra, thí dụ một loại gạo hạt dài trung bình, bộ phận nông nghiệp của Công ty sẽ xác định giống lúa thích hợp và quy trình sản xuất nông nghiệp an toàn (GAP) tương ứng. Mọi nông dân xã viên sẽ được đào tạo theo đúng quy trình GAP đó (đúng tinh thần Nghị quyết số 26) và được tạo điều kiện vật tư để trồng trọt. Tất cả các khâu chăm sóc phải theo đúng quy trình, có kiểm tra thường xuyên. Đến khi thu hoạch khối điều hành nhà máy chế biến sẽ đưa phương tiện tới tận đồng ruộng của xã viên đem về phơi sấy và chế biến.
Lúa của nông dân giao cho công ty sẽ được cân và đo ẩm độ, quy về khối lượng chuẩn 14% độ ẩm, và được sấy đúng kỹ thuật trước khi được bóc vỏ trấu để bảo quản, chờ chế biến thành phẩm.
Chia lãi: đến cuối niên vụ công ty sẽ tính toán doanh số cả năm, xác định tiền lãi để chia cho các thành viên cổ đông. Mỗi nông dân cổ đông sẽ được chia lãi theo số cổ phần của họ và đồng thời được hưởng một số tiền thưởng tính trên lượng lúa đã bán cho công ty. Như thế, nông dân tham gia công ty sẽ luôn luôn được lãi, hoàn toàn khác với nông dân cá thể “mua đứt bán đoạn” cho thương lái không được chia lãi gì hết.

Chủ Nhật, 29 tháng 1, 2012

Thị trường lúa gạo tiếp tục “đóng băng”

Dù Thái Lan quyết định duy trì chính sách mua lúa với giá cao cho nông dân nước này thành không thời hạn, thay vì đến tháng 2/2012, nhưng giá lúa gạo đạt tiêu chuẩn chế biến xuất khẩu của Việt Nam vẫn tiếp tục lao dốc, lúa gạo cấp thấp thì gần như “đóng băng” do thương lái gần như không dám mua vào.
Đó là những diễn biến của thị trường lúa gạo nội địa ở những ngày trước trong và sau tết Nhâm Thìn năm nay.
So với mức giá kỷ lục được xác lập cách đây không lâu, từ 7.600 - 7.700 đồng/kg lúa hàng hóa và 10.000 - 10.500 đồng/kg đối với gạo nguyên liệu (gạo lức), thì hiện mỗi kg gạo rớt giá rất nhiều và chỉ còn từ 7.500-7.600 đồng/kg, tức tương đương mỗi kg lúa hàng hóa lúc đạt mức giá kỷ lục.
Giá lúa gạo rớt thê thảm
Nếu như trong những tháng từ giữa đến cuối năm 2011, thương lái lẫn doanh nghiệp thu mua lúa gạo ra sức tìm nguồn cung để mua chế biến phục vụ xuất khẩu thì từ cuối năm 2011 đến nay, thị trường lúa gạo nội địa lẫn xuất khẩu gần như “chết đứng” vì gặp khó khăn trong việc tìm kiếm hợp đồng xuất khẩu. Đặc biệt, là thời điểm trước, trong và những ngày sau Tết Nguyên đán này, thị trường lúa gạo nội địa càng bế tắc.
Ông Dương Văn Mến, thương lái mua lúa tại huyện Lấp Vò, Đồng Tháp cho biết, hiện chỉ mới có lác đác vài doanh nghiệp hoạt động trở lại, nhưng họ chào mua gạo với mức giá “cho có”, chỉ 7.500 - 7.600 đồng/kg, tức tương đương với 1 kg lúa hàng hóa lúc ở mức giá cao trước đây.
Thông tin từ cánh thương lái chuyên thu mua lúa tại chợ đầu mối lương thực Bà Đắc, huyện Cái Bè, Tiền Giang, hiện lúa đạt tiêu chuẩn chế biến xuất khẩu (gồm các giống lúa như OM 4218, OM 4900, OM 5451…), chỉ còn dao động quanh mức 5.500-5.600 đồng/kg đối với lúa khô và từ 5.000 đồng/kg trở xuống đối với lúa tươi được thu hoạch bằng máy gặt đập liên hợp, dù nguồn lúa hàng hóa loại này vẫn chưa có dấu hiệu tăng cao.
Riêng đối với lúa IR 50404 cấp thấp thì gần như “chết đứng” vì thương lái gần như không dám “vung tiền” gom loại lúa này do những tín hiệu bất lợi từ thị trường.
Bà Ba Ánh (Nguyễn Phúc Ánh), Giám đốc doanh nghiệp Tấn Tài III, chợ Bà Đắc, huyện Cái Bè, Tiền Giang nói: “Thị trường xuất khẩu gặp khó do bị Ấn Độ cạnh tranh ở loại gạo phẩm cấp thấp, cộng thêm hiện các doanh nghiệp kinh doanh lúa gạo vẫn đang ở giai đoạn nghỉ tết nên không ai dám thu loại gạo này cũng la điều dễ hiểu thôi”.
Hiện lúa đông xuân 2011-2012 của bà con khu vực ĐBSCL đang phát triển rất tốt, hứa hẹn cho một vụ mùa bội thu. Các địa phương xuống giống lúa đông xuân sớm như Đồng Tháp, An Giang, Long An, Tiền Giang…., cũng bắt đầu thu hoạch nhưng với tâm trạng lo lắng sẽ lặp lại điệp khúc “trúng mùa, rớt giá”.
“Liều thuốc” mang tên Thái Lan?
Theo thông tin trên báo chí, Bộ trưởng Thương mại Thái Lan cho biết chính phủ nước này sẽ tiếp tục duy trì chính sách mua lúa với giá cao cho nông dân nước này thành không thời hạn, thay vì sẽ được kết thúc vào tháng 2/2012 nhằm làm tăng giá lúa gạo và tăng thu nhập cho nông dân nước này.
Theo đánh giá của các chuyên gia ngành lúa gạo, việc Thái Lan tiếp tục duy trì chính sách trợ giá là một “liều thuốc” cực mạnh chặn đà suy giảm của giá lúa gạo ở Thái Lan thời gian qua. Đồng thời, nó sẽ giúp duy trì và dẫn dắt giá lúa gạo thị trường Châu Á cũng như thị trường thế giới tiếp tục khôi phục và tăng cao trở lại.
Tuy nhiên, có ý kiến lại cho rằng, giá lúa gạo thị trường Châu Á sẽ khó có thể khôi phục lại được nhiều khi mà Ấn Độ vẫn tiếp tục cho xuất khẩu gạo cấp thấp giá rẻ như hiện nay, bổ sung một lượng lớn cho nguồn cung vào thị trường gạo thế giới.
(Theo Trung Chánh - TBKTSG Online)

Thứ Năm, 20 tháng 10, 2011

Chính sách liên kết sản xuất – tiêu thụ mía đường Thái Lan

TS. Bảo Trung

Mía đường là một trong những cây trồng chính của Thái Lan. Tổng diện tích trồng mía của Thái Lan lớn thứ 5 trên thế giới, sau Brazil, Ấn Độ, Cu Ba và Trung Quốc. Vùng canh tác chính thuộc các tỉnh Karnjanaburi, Suphanburi, Udonthani, Chaiyaphoom, Nakornratchasima, Konkaen, Kampangpeth và Nakornsawan chiếm tới 60% tổng diện tích canh tác của cả nước.Trong năm 2005, Thái Lan là nước xuất khẩu thứ 2 về mía đường, tổng giá trị xuất khẩu là 29,541 triệu Baht. Các thị trường xuất khẩu chính là Nhật Bản, Hàn Quốc, Indonesia và Malaysia.
Trong niên vụ 2010 – 2011, Thái Lan có 47 nhà máy chế biến mía đường với tổng công suất của các nhà máy khoảng 620.000 tấn/ngày. Hiện tại, Thái Lan có khoảng 1,03 triệu ha mía nằm rãi rác trên 49 tỉnh thuộc 4 vùng của cả nước, với khoảng 190.000 hộ gia đình trồng mía. Hàng năm ngành công nghiệp mía đường Thái Lan tạo công ăn việc làm cho khoảng 1,5 triệu lao động của nước này.
Năm 1984, Thái Lan đã ban hành Luật về mía đường và đường (Cane and Sugarcane Act) với mục đích tổ chức và kiểm soát việc sản xuất – tiêu thụ mía đường đảm bảo duy trì sự ổn định trong nền kinh tế của đất nước, bảo vệ quyền lợi của người nông dân trồng mía và đảm bảo sự công bằng giữa nông dân, nhà máy chế biến và người tiêu dùng trong việc sản xuất, chế biến và tiêu thụ mía đường.
Căn cứ vào Luật mía đường và đường, một Ủy ban quản lý ngành mía đường được thành lập bao gồm đại diện Nhà nước, nông dân trồng mía, các nhà máy chế biến đường và các nhà thương mại được thành lập. Ủy ban này với tên gọi là Văn phòng Hội đồng mía đường và đường (Office of the cane and sugarcane Board), đặt trụ sở tại Bộ Công nghiệp Thái Lan. Thành phần Ban quản trị của Văn phòng Hội đồng mía đường và đường bao gồm 5 thành viên từ các Bộ trong đó có Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Hợp tác xã, Bộ trưởng Bộ Công nghiệp, Bộ trưởng Bộ Thương mại; 9 đại diện cho nông dân trồng mía và 7 đại diện cho các doanh nghiệp chế biến và thương mại. Ban quản trị bầu ra 1 Chủ tịch, 2 Phó chủ tịch và 1 Tổng thư ký. Tổng thư ký là người trực tiếp điều hành hoạt động của Văn phòng Hội đồng mía đường và đường. Nhiệm vụ và trách nhiệm của Văn phòng Hội đồng mía đường và đường:
(1) Thực hiện các công việc hành chính của Hội đồng mía đường và đường
(2) Xây dựng các chính sách và kế hoạch phát triển ngành mía đường
(3) Giám sát sản xuất và phân phối mía và đường tuân thủ theo quy ta18vc và quy định của Luật mía đường và đường
(4) Điều phối hoạt động hợp tác liên quan đến xúc tiến và phát triển ngành giữa các tổ chức trong nước với nước ngoài
(5) Thúc đẩy nghiên cứu và phát triển giống mía, các sản phẩm đường và các sản phẩm phụ cũng như phát triển công nghệ để nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành mía đường.
Trên cơ sở của Luật mía đường và đường năm 1984, Chính phủ Thái Lan quy định về tổ chức quản lý ngành mía đường từ đầu vào đến đầu ra một cách chặt chẽ bao gồm 3 nội dung chính:
Thứ nhất, Chính phủ đưa ra một hệ thống phân phối thu nhập ròng mà theo đó nông dân sẽ nhận được 70% và chủ các nhà máy nhận được 30% trong tổng thu nhập từ đường. Tổng thu nhập từ đường là giá trị thu được dựa trên việc bán đường tính theo giá đường trắng (white sugar). Trên cơ sở này, Văn phòng Hội đồng mía đường và đường sẽ xác định giá mía cây. Giá mía cây nông dân trồng mía bán cho các nhà sản xuất đường của Thái Lan được xác định giá trị dựa trên chữ đường (CCS) và số lượng do đại diện của Văn phòng mía đường và đường tại nhà máy chế biến đường đo lường theo Hệ thống mía và đường thương mại Thái (Thai Commercial Cane & Sugar System). Hàng năm, Văn phòng Hội đồng mía đường và đường sẽ xác định giá mía cây tạm tính đầu vụ để ứng tiền cho nông dân khi giao mía cho nhà máy chế biến đường. Mức giá này sẽ được điều chỉnh vào cuối vụ và giá này là giá cuối cùng của sản phẩm mía đường và đường. Nếu giá mía kết thúc lớn hơn giá khởi điểm, phần chênh lệch sẽ được trả lại cho người nông dân trồng mía. Nếu ngược lại, Chính phủ Thái Lan sẽ hỗ trợ phần chênh lệch cho các nhà máy bằng Quỹ hỗ trợ mía đường của Chính phủ.
Thứ hai, Chính phủ quy định hạn ngạch xuất khẩu và chính sách quản lý xuất khẩu đường rất cụ thể và công khai. Hàng năm, khoảng tháng 10, tháng 11, Bộ Thương mại Thái Lan công bố kế hoạch và số lượng đường xuất khẩu cho cả năm sau. Giấy phép hạn ngạch (quota) xuất khẩu đường được cấp cho các nhà máy sản xuất và một số doanh nghiệp xuất khẩu đường của Thái Lan.
Thứ ba, Chính phủ quy định về việc xây dựng và quản lý hạn ngạch A, B, C. Hạn ngạch A, khoảng 2,5 triệu tấn, là số lượng đường được quy định dành cho tiêu thụ trong nước. Hạn ngạch B là hạn ngạch dành cho xuất khẩu, ấn định là 0,8 triệu tấn hàng năm được phân bổ cho Cty Thai Cane Cooperation (Cty liên doanh giữa Nhà nước và tư nhân 50/50) để xuất khẩu. Hạn ngạch C là hạn ngạch dành cho các nhà sản xuất mía đường xuất khẩu trực tiếp. Năm 2010, số lượng đường dành cho các nhà máy này là 3,92 triệu tấn. Quyền xuất khẩu được phân bố cho 7 công ty xuất khẩu của Thái Lan vào thời điểm 6 tháng trước khi vào mùa vụ sản xuất. Các nhà máy được yêu cầu phải ưu tiên thực hiện xong hạn ngạch A và B, rồi mới đến hạn ngạch xuất khẩu C.
Nhằm ổn định và phát triển ngành mía đường, Chính phủ Thái Lan thành lập Quỹ bình ổn giá đường. Quỹ này được thành lập để thực hiện chiến lược đảm bảo nguồn cung đường và bảo vệ người tiêu dùng, nông dân và doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ đường trước sự biến động của thị trường đường thế giới. Ngoài ra, Quỹ bình ổn mía đường được lập ra còn cung cấp một chương trình tín dụng cho phép nhà sản xuất vay một số tiền tương ứng với khoản họ nhận trước từ các nhà máy với mức lãi suất thị trường.
Ngoài ra, Chính phủ Thái Lan còn thành lập một Uỷ ban hoạch định chính sách mía đường để nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành đường. Ủy ban này bao gồm Bộ Nông nghiệp và HTX với trách nhiệm giám sát sản lượng mía với mục tiêu nâng cao năng suất cũng như chất lượng mía; Bộ Thương mại có trách nhiệm mở rộng thị trường nước ngoài và Bộ Công nghiệp quản lý việc nâng cao hiệu quả sản xuất và tìm cách hỗ trợ người trồng mía chuyển sang lao động trong các ngành khác như giấy, điện năng.
Kể từ khi ban hành Luật mía đường và đường, ngành mía đường phát triển ổn định không còn hiện tượng tranh mua nguyên liệu; thu nhập của người nông dân trồng mía được nâng lên. Katanavadee Kosumbongkoch (2004) nghiên cứu “Tác động kinh tế của chính sách đường Thái Lan kể từ khi ban hành Luật mía đường và đường năm 1984” đã kết luận xét trên khía cạnh thặng dư người sản xuất và thặng dư người tiêu dùng thì thặng dư của người sản xuất trong giai đoạn 1984-2003 đạt được 352.726 triệu baht gấp 2,8 lần so với tổn thất của người tiêu dùng 126.752 triệu baht. Điều này chứng minh rằng chính sách liên kết sản xuất – tiêu thụ mía đường được ban hành trong Luật mía đường và đường năm 1984 của Thái Lan đã đạt được mục tiêu.
Tóm lại, ngành mía đường là một trong ngành kinh tế quan trọng của Thái Lan. Để giải quyết vấn đề bất ổn định của ngành mía đường, Thái Lan đã ban hành chính sách liên kết sản xuất – tiêu thụ mía đường thông qua Luật mía đường và đường năm 1984. Kể từ khi Luật này được ban hành, ngành mía đường của Thái Lan đã góp phần phân bổ lợi ích công bằng hơn giữa người nông dân trồng mía và người chế biến đường. Điều này góp phần phát triển kinh tế - xã hội của Thái Lan.

Tài liệu tham khảo:
1. Luật mía đường và đường của Thái Lan năm 1984.
2. Katanadee Kosumbongkoch (2004), Tác động kinh tế của chính sách đường Thái Lan kể từ khi ban hành Luật mía đường và đường năm 1984, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại học Chulalongkorn, Bangkok, Thái Lan.
3. Văn phòng Hội đồng mía đường và đường, Giới thiệu Văn phòng Hội đồng mía đường và đường, http://en.ocsb.go.th/

Thứ Sáu, 17 tháng 6, 2011

Thể chế giao dịch nông sản - Institution for transaction of agricultural commodities

Thể chế giao dịch nông sản

TS. Bảo Trung


Theo cuốn "Từ điển tiếng Việt" năm 2008 của Trung tâm từ điển học, "thể chế là những quy định, luật lệ của một chế độ xã hội, buộc mọi người phải tuân theo".

Khái niệm học thuật về thể chế (Institution) rất phong phú và đa dạng. Khái niệm thể chế đầu tiên do tác giả Thorstein Veblen (1914) đưa ra, thể chế là "tính quy chuẩn của hành vi hoặc các quy tắc xác định hành vi trong tình huống cụ thể, được các thành viên của một nhóm xã hội chấp thuận và tuân thủ".

Trong báo cáo của Ngân hàng thế giới năm 2002, cũng đưa ra khái niệm thể chế là "Những quy tắc và tổ chức, gồm cả các chuẩn mực không chính thức, phối hợp hành vi con người".

Theo các tác giả đề tài KX-01-06, "Thể chế là cách thức xã hội xác lập khung khổ, trật tự, trong đó diễn ra các quan hệ giữa con người và cơ chế, quy chế, quyền lực, quy tắc, luật lệ vận hành của trật tự xã hội đó".

Theo Douglas C. North (1994), thể chế được định nghĩa là "những giới hạn do con người đặt ra nhằm cơ cấu sự tương tác giữa con người với nhau. Đó là tổng hợp những giới hạn chính thức (như nguyên tắc, luật lệ, hiến pháp) và phi chính thức (ví dụ những quy phạm về hành vi, tục lệ, nguyên tắc đạo đức) và những đặc điểm cưỡng chế của chúng". Một nhánh kinh tế học đã xuất hiện đặt trọng tâm vào các thể chế, gọi là "Kinh tế học về thể chế mới (New Institutional Economics - NIE)". Theo NIE, thể chế là "những nguyên tắc của cuộc chơi" trong xã hội; không có chúng thì các thị trường không hoạt động được.

Thông qua nhiều khái niệm khác nhau về thể chế, thì phần lớn thống nhất ở các nội dung sau:

  • Thứ nhất, "luật chơi" là những quy định chung ai ở vị trí nào, làm gì, tác động với người khác ra sao theo nguyên tắc nào;
  • Thứ hai, các chủ thể tham gia "trò chơi", hoặc "người chơi" bao gồm những ai, hai người hay nhiều người;
  • Thứ ba, cơ chế thực hiện luật chơi hoặc "cách chơi"; cơ chế là "cách thức tổ chức nội bộ và quy luật vận hành, biến hóa của một hiện tượng".

Như vậy, với các khái niệm trên thể chế bao gồm hai thành phần là cấu trúc (structures) và cơ chế (mechanism).
Tuy nhiên, các khái niệm này chỉ mới liên quan đến "phần mềm". Thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội nói chung, người ta nhận thấy rằng "phần mềm" có thể hoạt động tốt trong điều kiện vật chất này mà không hoạt động tốt trong điều kiện vật chất khác. Các điều kiện vật chất chính là "phần cứng". Chính vì vậy, thể chế phải bao gồm các điều kiện vật chất cụ thể tạo điều kiện để "phần mềm" vận hành. Đây chính là "sân chơi" mà các chủ thể tham gia. Các "luật chơi" và chủ thể tham gia "trò chơi" hình thành nên cấu trúc tổ chức của thể chế và cấu trúc này được vận hành theo một cơ chế nhất định, trong điều kiện vật chất nhất định. Như vậy, thể chế là cấu trúc tổ chức và cơ chế vận hành của một hệ thống xã hội điều chỉnh hành vi của 2 hay nhiều chủ thể khác nhau phù hợp với những điều kiện vật chất cụ thể.

Trong một hệ thống xã hội, người ta chia thể chế thành nhiều bộ phận khác nhau như chính trị, kinh tế, gia đình, tôn giáo… Thể chế kinh tế (economic institution) là thể chế liên quan hệ thống kinh tế (economic system) của một xã hội. Như vậy, thể chế kinh tế là cấu trúc tổ chức và cơ chế vận hành của hệ thống kinh tế điều chỉnh hành vi của 2 hay nhiều chủ thể khác nhau phù hợp với điều kiện vật chất nhất định.

Thể chế kinh tế thị trường (market economic institution) hay còn gọi tắt là thể chế thị trường (market institution)
là thể chế kinh tế được hình thành và phát triển trong nền kinh tế thị trường. Nếu xét theo mức độ can thiệp của Nhà nước vào thị trường thì người ta chia thể chế thị trường thành 3 loại: thể chế thị trường tự do, thể chế thị trường xã hội và thể chế thị trường nhà nước phát triển. Nếu xét theo đối tượng tham gia thị trường, người ta chia thể chế thị trường thành 5 loại: thể chế thị trường hàng hóa và dịch vụ (goods and services market institution), thể chế thị trường bất động sản (real estate market institution), thể chế thị trường tài chính (financial market institution), thể chế thị trường sức lao động (labour market institution) và thể chế thị trường chuyển giao công nghệ (technology transfer market institution). Ở Việt Nam có khái niệm "Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (Socialism-oriented market economic institution)", đây là một khái niệm mới và việc luận giải khái niệm này khá phức tạp. Trong giới hạn phạm vi đề tài này, nhóm nghiên cứu không đi sâu phân tích khái niệm này.

Thể chế giao dịch nông sản nói đầy đủ là thể chế thị trường trong hoạt động giao dịch hàng hóa nông sản (market institution for agricultural commodities transaction) là một bộ phận cấu thành của thể chế thị trường hàng hóa và dịch vụ, trong đó hàng hóa và dịch vụ ở đây chính là hàng nông sản. Như đã trình bày, giao dịch nông sản liên quan đến hoạt động trao đổi hàng hóa nông sản từ người sản xuất đến người tiêu dùng. Các hoạt động trao đổi này diễn ra trong hệ thống tiêu thụ nông sản (agricultural marketing system). Một hệ thống tiêu thụ nông sản bao gồm cấu trúc tổ chức, cơ chế vận hành và điều kiện vật chất. Cấu trúc tổ chức của hệ thống tiêu thụ nông sản liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của từng chủ thể tham gia vào quá trình chuyển giao quyền sở hữu nông sản hàng hóa từ người sản xuất đến người tiêu dùng. Cơ chế vận hành của hệ thống tiêu thụ nông sản là mối tương tác giữa các chủ thể khác nhau trong việc phân phối giá trị, rủi ro và quyền quyết định (Sykuta và Parcell (2003)). Đây chính là mối quan hệ hợp đồng giữa các chủ thể khác nhau trong trao đổi nông sản hàng hóa. Hợp đồng là thỏa thuận giữa hai bên liên quan các điều kiện trao đổi hàng hóa; hợp đồng có thể là hợp đồng miệng (verbal) hoặc hợp đồng bằng văn bản (written). Cấu trúc tổ chức và cơ chế vận hành của hệ thống tiêu thụ nông sản được biểu hiện thông qua các hình thức giao dịch nông sản. Hay nói khác đi thể chế giao dịch nông sản liên quan đến cấu trúc tổ chức và cơ chế vận hành của các hình thức giao dịch nông sản. Cũng giống như thể chế và thể chế kinh tế, thể chế giao dịch nông sản cũng cần có những điều kiện vật chất nhất định như kết cấu hạ tầng thương mại, kết cấu hạ tầng giao thông, các phương tiện, công cụ và những điều kiện khác giúp cho các chủ thể có thể thực hiện được hoạt động giao dịch.

Tóm lại, thể chế giao dịch nông sản là cấu trúc tổ chức và cơ chế vận hành của các hình thức giao dịch nông sản giữa 2 hay nhiều chủ thể tham gia phù hợp với điều kiện vật chất nhất định. Như vậy, nghiên cứu cơ sở khoa học hình thành và phát triển thể chế giao dịch nông sản chính là nghiên cứu cấu trúc tổ chức, cơ chế vận hành và điều kiện vật chất cần thiết của hệ thống các hình thức giao dịch nông sản.

Thứ Tư, 8 tháng 6, 2011

Lớp tập huấn tiểu giáo viên về chuỗi giá trị



Giảng viên phụ trách: TS. Bảo Trung
Đơn vị tư vấn kỹ thuật: GTZ Vietnam (Cố vấn trưởng: Christoph Feldkotter và cố vấn kỹ thuật: Nguyễn Thị Huyền Linh)

Chủ Nhật, 29 tháng 5, 2011

Sản xuất theo hợp đồng

LUẬN CỨ KHOA HỌC SẢN XUẤT NÔNG SẢN THEO HỢP ĐỒNG

TS. Bảo Trung

1. GIỚI THIỆU

Sản xuất và tiêu thụ nông sản theo hợp đồng ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp - nông thôn nước ta. Việc sản xuất và tiêu thụ nông sản theo hợp đồng ở nước ta đã được xuất hiện từ lâu, nhưng chỉ phát triển nhanh chóng kể từ khi Thủ tướng chính phủ đã ban hành Quyết định 80/2002/QĐ-TTg về “Chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hóa thông qua hợp đồng” ngày 24/6/2002. Theo Quyết định này, Việt Nam phấn đấu đến năm 2005, phương thức ký hợp đồng tiêu thụ nông sản hàng hóa chiếm 30% và năm 2010 là 50% sản lượng hàng hóa của một ngành sản xuất hàng hóa lơn. Bên cạnh Quyết định 80/2002/QĐ-TTg, các bộ ngành cũng đã có nhiều thông tư hướng dẫn nhằm đẩy mạnh phương thức này. Tuy nhiên, trong thời gian qua, việc thực hiện hợp đồng bao tiêu nông sản cho nông dân còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc. Hiện tượng phá vỡ hợp đồng hay lạm dụng hợp đồng vẫn xảy ra. Một số doanh nghiệp đổ lỗi cho nông dân khi nông dân không thực hiện hợp đồng và ngược lại. Chính vì vậy, cả nông dân và doanh nghiệp không mặn mà lắm đối với phương thức ký hợp đồng tiêu thụ nông sản. Nhiều hội nghị, hội thảo cũng đã bàn đến nhiều nguyên nhân dẫn đến sự thất bại của phương thức ký hợp đồng bao tiêu nông sản. Việc sản xuất và tiêu thụ nông sản qua hợp đồng là xu hướng tất yếu và là định hướng đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta, nhưng việc tổ chức thực hiện phương thức này có phần chủ quan và duy ý chí. Chúng ta đang chạy theo số lượng hợp đồng được ký kết hơn là đi vào chất lượng của việc thực hiện hợp đồng. Theo số liệu của Bộ Nông Nghiệp Mỹ, tại Mỹ, năm 1969, 12 % giá trị nông sản được sản xuất và tiêu thụ qua hợp đồng; năm 1991 tăng lên 28% và năm 2004 là 36%. Các số liệu, tuy chưa đủ để đánh giá nguyên nhân và đề ra giải pháp để đẩy nhanh sản xuất và tiêu thụ nông sản qua hợp đồng, nhưng đủ để minh chứng một điều chúng ta chưa nhận thức đầy đủ luận cứ khoa học về sản xuất và tiêu thụ theo hợp đồng, mà theo các triết gia cho rằng nếu nắm được luận cứ khoa học thì nhân loại sẽ tránh được ít nhất một nửa lầm lạc. Một trong những luận cứ khoa học quan trọng mà bài viết này muốn trình bày là chúng ta cần hiểu rõ các khái niệm liên quan đến tổ chức thị trường tiêu thụ nông sản mà sản xuất và tiêu thụ nông sản theo hợp đồng là một hình thức. Vì chỉ hiểu rõ các khái niệm này thì chúng ta mới có bước đi phù hợp để thị trường nông sản vận hành được tốt.

2. SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ NÔNG SẢN THEO HỢP ĐỒNG LÀ GÌ ?

Trong sản xuất nông nghiệp, người nông dân có thể ký kết một số hợp đồng với người cung cấp để mua các yếu tố đầu vào sản xuất nông nghiệp như phân bón, thuốc trừ sâu hay nước tưới v.v… Bên cạnh đó, để tiêu thụ nông sản hàng hóa, người nông dân có thể ký kết hợp đồng với người mua. Người mua có thể là nhà bán buôn, bán lẻ, nhà chế biến ….Ngày nay, việc mua và bán của nông dân theo phương thức ký kết hợp đồng tương đối phổ biến. Tuy nhiên, những hợp đồng mua và bán này không phải tất cả đều có nghĩa là “Sản xuất theo hợp đồng” (Contract farming) hay còn gọi là hợp đồng sản xuất (Production contracts).

Để tiêu thụ nông sản hàng hóa, giữa người nông dân và người mua có 4 phương thức giao dịch như sau:

2.1 Thị trường giao ngay (Spot market)
Thị trường giao ngay là phương thức giao dịch hàng hóa truyền thống. Nông dân có thể bán nông sản hàng hóa thông qua hợp đồng với người mua hoặc bán trực tiếp đến người mua tại chợ hoặc sàn đấu giá. Việc mua bán này được thực hiện ngay tại thời điểm diễn ra giao dịch, theo giá cả của thị trường hiện tại. Nông dân kiểm soát và quyết định toàn bộ quá trình sản xuất như sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu như thế nào, cũng như họ phải tự bỏ vốn đầu tư cho hoạt động của mình. Sau khi thu hoạch thì người nông dân phải tự tìm kiếm thị trường và thương lượng với người mua để bán nông sản mình sản xuất ra. Trong trường hợp này nếu giá cả thị trường tại thời điểm giao dịch cao hơn chi phí mà người nông dân bỏ ra để sản xuất thì nông dân có lời và ngược lại thì nông dân thua lỗ. Phương thức này tương đối đơn giản vì người mua và người bán nắm được thông tin về giá cả và chất lượng sản phẩm tại thời điểm giao dịch.

2.2 Hợp đồng sản xuất (Production contracts)

“Sản xuất theo hợp đồng” (Contract farming) hoặc hợp đồng sản xuất (Production contracts) là hợp đồng giữa nông dân và người mua theo những thoả thuận triển hạn (Forward Agreements). Đây là phương thức giao dịch của thị trường giao sau khác với thị trường giao ngay. Hợp đồng sản xuất được ký kết trước khi người nông dân tiến hành sản xuất. Hợp đồng này quy định chi tiết về trách nhiệm của nông dân và người ký kết hợp đồng. Trong loại hợp đồng này, người nông dân ít có quyền quyết định vấn đề sản xuất mặc dù họ là vẫn là người trực tiếp sản xuất. Người ký kết hợp đồng với nông dân sẽ quy định cụ thể về các yếu tố đầu vào cần sử dụng và phương thức canh tác, kể cả người ký hợp đồng chịu trách nhiệm công tác hướng dẫn kỹ thuật canh tác và thường xuyên kiểm tra thực tế trên đồng ruộng. Hợp đồng sản xuất thường xuất hiện dưới hai hình thức. Thứ nhất, hợp đồng gia công, điều này có nghĩa người mua đầu tư toàn bộ từ cơ sở vật chất đến các yếu tố đầu vào và nhận lại toàn bộ sản phẩm. Trong trường hợp này người nông dân được trả công chăm sóc và một số chi phí khác được thoả thuận trong hợp đồng. Hình thức hợp đồng này đang được Công ty CP Việt Nam áp dụng. Thứ hai, người mua đầu tư ứng trước vốn, vật tư, hướng dẫn kỹ thuật và cũng thu lại toàn bộ sản phẩm theo giá đã được thoả thuận tại thời điểm ký kết hợp đồng. Hình thức hợp đồng này đang được áp dụng tại Công ty Bông Việt Nam. Trong hợp đồng sản xuất, thì nông sản do người sản xuất ra thuộc quyền sở hữu của người đầu tư, là người ký kết hợp đồng với nông dân.

2.3 Hợp đồng tiêu thụ (Marketing contracts)

Đây cũng là hình thức hợp đồng triển hạn (Forward contract). Người sản xuất và người mua đồng ý ký kết hợp đồng mua một số lượng hàng hóa nhất định với giá cả được quy định trước trong thời gian trước khi nông sản được thu hoạch. Người sản xuất hoàn toàn kiểm soát vấn đế sản xuất nông sản của mình và phải đảm bảo việc giao hàng đúng số lượng, chất lượng và giá cả theo hợp đồng. Trong trường hợp đến khi thu hoạch, do rủi ro về thới tiết hay các yếu tố khác người sản xuất không đủ hàng giao cho người mua thì họ có trách nhiệm đi thương lượng với nông trại khác để đảm bảo cung cấp đủ hàng cho người mua. Việc giao dịch này giúp cho người sản xuất định hướng được thị trường, nắm bắt được giá cả và triển vọng tiêu thụ nông sản. Tuy nhiên, trách nhiệm cam kết chưa cao, việc chế tài giữa các bên gặp rất nhiều khó khăn. Chính vì vậy, ở các nước người ta nâng cấp thành hợp đồng kỳ hạn (Future contract) và được giao dịch thông qua Sở giao dịch hàng hóa, như Sở giao dịch hàng hóa Luân Đôn hoặc NewYork. Về sau người ta gọi thị trường tiêu thụ nông sản qua sở giao dịch hàng hóa là thị trường kỳ hạn. Thị trường kỳ hạn đã giải quyết được vấn để tiêu thụ hàng hóa trước khi thu hoạch một cách ổn định và vững chắc. Tuy nhiên, thị trường nông sản đầy biến động, rủi ro lớn, nên với các hợp đồng kỳ hạn, giá hàng hóa vẫn còn bấp bênh, chênh lệch lớn với giá thực tế. Vì vậy xuất hiện một nghiệp vụ thị trường mới là hợp đồng quyền chọn (Option Contract). Hợp đồng quyền chọn trong đó người mua mua của người bán một cái quyền được mua hay quyền được bán nông sản trong thời gian nhất định với mức giá thỏa thuận. Người mua phải trả cho người bán một số tiền gọi là phí hay tiền cược (premium) là giá quyền chọn. Có hai loại quyền là quyền tự chọn mua (Short sales) và quyền tự chọn bán (long sales). Quyền này có thời hạn, nếu hết thời hạn hợp đồng người mua không tiến hành mua hoặc bán thì quyền tự chọn không còn hiệu lực. Trong thực tế, các nhà chế biến lo sợ giá cả nguyên liệu tăng nên thường mua quyền chọn mua để bảo hiểm giá nguyên liệu. Người sản xuất lo sợ giá sản phẩm sẽ giảm mạnh nên mua quyền tự chọn bán để bảo hiểm cho việc tiêu thụ nông sản. Các hợp đồng quyền chọn, việc mua bán quyền chọn đều diễn ra tại sàn giao dịch của Sở giao dịch hàng hóa.

Thị trường giao sau lúc đầu chỉ thực hiện giữa người sản xuất và người bán và hình thành nên thị trường sơ cấp. Sau đó thị trường này trở nên nhộn nhịp khi xuất hiện hình thức mua đi bán lại các hợp đồng này. Phương thức này đã hình thành thị trường giao dịch thứ cấp và trở nên phổ biến ngày này. Thị trường kỳ hạn hay thị trường quyền chọn chỉ được thực hiện tại Sở giao dịch hàng hóa, tuân theo những quy định chặt chẽ và dưới sự giám sát của Uy ban hàng hóa kỳ hạn của Nhà nước.

2.4 Hội nhập dọc (Vertical integration)

Hội nhập dọc là hình thức liên kết giữa nông trại và người sử dụng. Người sử dụng ở đây thường là các nhà máy chế biến. Đối với hình thức này, các nhà máy chế biến tự đầu tư nguồn cung cấp nguyên liệu cho nhà máy mình thông qua việc mua đất hoặc thuê đất để tự sản xuất. Người nông dân chỉ là người làm thuê cho nhà máy chế biến. Một cách khác người chế biến và nông dân cùng tham gia góp vốn dưới dạng cổ đông để hình thành mối liên kết giữa sản xuất và chế biến. Nông dân có thể góp vốn vào nhà máy chế biến bằng quyền sử dụng đất của mình và nhà máy chế biến có thể tham gia góp vốn với nông dân trong đầu tư vùng nguyên liệu. Người nông dân và người chế biến cùng chia sẻ rủi ro trong sản xuất nguyên liệu và tiêu thụ nông sản đã qua chế biến. Ngoài ra, trong hội nhập dọc còn có một hình thức khá phổ biến ở Việt Nam là “Sự tái lập trang trại gia đình trong lòng doanh nghiệp nông nghiệp nhà nước”. Hình thức này có hai chủ thể kinh doanh, người mua nông sản là chủ thể kinh doanh thứ nhất đồng thời là chủ thể pháp lý; người sản xuất là chủ thể kinh doanh thứ hai, nông dân nhận khoán đất để tự tổ chức sản xuất và bán lại nông sản cho chủ thể kinh doanh thứ nhất theo hợp đồng ký kết. Điển hình ở Việt Nam cho phương thức giao dịch này là “Nông Trường Sông Hậu”.

3. NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT TRONG VIỆC THỰC HIỆN SẢN XUẤT THEO HỢP ĐỒNG

Xuất phát từ khái niệm vừa trình bày ở trên, chúng ta thấy rằng có sự khác biệt giữa 4 phương thức giao dịch trong thị trường nông sản hàng hóa. Ngoài phương thức thứ nhất là thị trường giao ngay, 3 phương thức còn lại chỉ có thể vận hành tốt trong những điều kiện nhất định. Chính vì vậy, chúng ta cần giải quyết một số vấn đề sau:

- Thứ nhất, các bên tham gia vào thị trường nông sản hàng hóa và Nhà nước cần phải nhận thức đầy đủ các khái niệm trên để có thể hành xử đúng theo cơ chế thị trường.
- Thứ hai, đối với thị trường giao ngay thì đây vẫn còn là phương thức hiệu quả trong quá trình sản xuất và tiêu thụ nông sản vì người mua và người bán có đủ thông tin thị trường và trên thực tế, người mua như các doanh nghiệp hay thương nhân thường chỉ muốn hàng có sẵn trên thị trường.
- Thứ ba, sản xuất theo hợp đồng đang có xu hướng phát triển. Tuy nhiên, để việc sản xuất theo hợp đồng vận hành được tốt đòi hỏi phải có điều kiện tiên quyết là người mua và nông dân đều nhận thấy có lợi nhuận trong tương lai và mang tính chất ổn định lâu dài. Ngoài ra phương thức này đòi hỏi cần phải có sự hỗ trợ của Nhà nước. Theo một số nhà khoa học thì phương thức này chỉ phát triển trong 4 điều kiện sau: thứ nhất, nhu cầu về sản phẩm riêng biệt đáp ứng nhu cầu của khách hàng cụ thể; thứ hai, áp lực của của việc truy xét nguồn gốc (traceability) sản phẩm; thứ ba, áp lực về quản lý chặt chẽ hệ thống sản xuất để bảo vệ môi trường; và thứ tư, nông trại có quy mô lớn chiếm tỷ trọng cao.
- Thứ tư, đối với phương thức hợp đồng tiêu thụ, đòi hỏi phải có Sở giao dịch hàng hóa.
- Thứ năm, đối với phương thức hội nhập dọc, đòi hỏi phải thiết lập mối liên kết chặt chẽ giữa người mua và nguời sản xuất trên cơ sở cùng chia sẻ rủi ro trong kinh doanh.

Tóm lại, sản xuất theo hợp đồng là phương thức sản xuất tiến tiến nhưng để phương thức này vận hành được tốt chúng ta cần nghiên cứu tổng kết lý luận và thực tiễn để từ đó có những bước đi phù hợp trong điều kiện nền kinh tế nước ta hiện nay.

Thứ Hai, 11 tháng 4, 2011

Vận dụng lý thuyết giao dịch

LÝ THUYẾT CHI PHÍ GIAO DỊCH: ÁP DỤNG VÀO NGHIÊN CỨU SẢN XUẤT THEO HỢP ĐỒNG VÀ SỰ LIÊN KẾT DỌC GIỮA DOANH NGHIỆP VÀ NÔNG DÂN
TS. Bảo Trung

Lý thuyết chi phí giao dịch (Transaction Cost Economics) của doanh nghiệp được Ronald Harry Coase đưa ra lần đầu tiên trong bài báo với nhan đề “Bản chất của Hãng (Nature of Firms)” vào năm 1937 và được O.E. Williamson cùng những người khác tiếp tục phát triển cho đến nay. Mục đích chính của lý thuyết là giải thích mức độ hội nhập hàng dọc tối ưu; nghĩa là giải thích lý do tại sao một số hoạt động được đưa vào trong nội bộ doanh nghiệp và tại sao một số hoạt động được để lại bên ngoài thị trường. Yếu tố phân biệt là mức chi phí giao dịch.

Khi chi phí giao dịch thấp, các bên có thể soạn thảo văn bản hợp đồng về những tình huống phát sinh để bảo vệ kết cấu chặt chẽ của các giao dịch của họ. Vì thế, các giao dịch có thể được giao cho thị trường, và thị trường sẽ cung ứng cho các bên những động cơ mạnh mẽ, không bằng nhau, khuyến khích hành vi tối đa hoá sự hợp tác. Ngoài ra, các bên có thể dựa vào thông tin thị trường để ước lượng giá trị tài sản và chi phí cơ hội. Trước tình trạng thông tin cân xứng đối với các bên, tiềm tăng xảy ra chủ nghĩa cơ hội sẽ giảm xuống và tính đáng tin cậy của sự cưỡng chế thi hành của bên thứ ba (tòa án) sẽ tăng lên (nếu điều đó tỏ ra là cần thiết).

Khi chi phí giao dịch cao, các mối quan hệ được đưa vào bên trong doanh nghiệp, ở đó các mối quan hệ này được quản lý bằng cơ cấu quản trị theo tôn ti thứ bậc trong nội bộ doanh nghiệp. Nhìn từ góc độ lý thuyết chi phí giao dịch, quyết định đưa các mối quan hệ vào bên trong doanh nghiệp chỉ là quyết định chọn lựa cơ cấu quản trị trong nội bộ công ty hơn là cơ cấu quản lý của thị trường. Giao dịch có chi phí cao là những giao dịch liên quan đến những tài sản có tính chuyên biệt cao (Asset Specificity); giao dịch thường xuyên trong một thời gian kéo dài; sự phát triển công việc theo thời gian; và sản lượng kết hợp giữa nhiều bên tham gia. Tính chất chuyên biệt của tài sản là đặc điểm trọng tâm vì nó thường xác định cường độ của những yếu tố khác. Trong một chừng mực đáng kể, khả năng phát đạt của doanh nghiệp trong các thị trường cạnh tranh phụ thuộc vào năng suất của những tài sản chuyên biệt của doanh nghiệp. Vì những công ty khác có thể tái sản xuất những tài sản tổng quát (General Asset), họ không thể tạo ra một lợi thế cạnh tranh bền vững. Hệ quả là tài sản càng có tính chuyên biệt đối với một giao dịch cụ thể, khả năng giao dịch đó được mang vào bên trong doanh nghiệp càng lớn.

Trọng tâm của phương pháp chi phí giao dịch là việc sử dụng hệ thống tôn ti thứ bậc trong công ty như một cơ cấu tổ chức để chỉ đạo hoạt động chung của những thành phần khác nhau được mang vào bên trong doanh nghiệp, trong đó có người lao động. Hệ thống tôn ti thứ bậc chỉ đạo hoạt động của doanh nghiệp bằng những qui tắc và tiêu chuẩn tự cưỡng chế. Chính công cụ này sẽ thay thế cho thị trường để làm cơ chế tổ chức giao dịch.

Lý thuyết chi phí giao dịch đặc biệt liên quan đến phân tích thị trường nông sản ở các nước đang phát triển và sự thay đổi khu vực nông nghiệp nói chung. Khi khu vực nông nghiệp hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu thì nhiều quy định bị bãi bỏ, do đó chí phí giao dịch trở thành một công cụ quyết định. Điều này có nghĩa là lý thuyết chi phí giao dịch được xem là hữu ích trong phân tích chính sách nông nghiệp. Trong bối cảnh đòi hỏi sự phối hợp lớn hơn, vai trò của chi phí giao dịch, niềm tin và mối quan hệ, hợp đồng chính thức và phi chính thức, liên kết dọc, sự bất đối xứng về thông tin và liên minh chiến lược trở nên quan trọng. Vấn đề đặt ra làm thế nào nông dân sản xuất nhỏ tiếp cận tham gia vào thị trường xuất khẩu. Ơ đây chúng ta cần hiểu vai trò của hợp đồng và nó được bắt đầu như thế nào. Khung lý thuyết chi phí giao dịch có thể đóng góp trong việc giải thích sự lựa chọn hợp đồng giữa nông dân và doanh nghiệp.

Sản xuất theo hợp đồng (Contract farming) và liên kết dọc giữa doanh nghiệp và nông dân (Vertical Coordination) được xem như là cầu nối giữa nông dân sản xuất nhỏ với thị trường ở nước ta hiện nay. Hợp đồng sản xuất được ký kết giữa doanh nghiệp với nông dân với một mức giá xác định. Hai bên thỏa thuận một mức giá cố định trước khi tiến hành sản xuất. Doanh nghiệp sẽ cung cấp thông tin về công nghệ, dịch vụ khuyến nông và một số yếu tố đầu vào cho sản xuất. Liên kết dọc là sự liên kết toàn bộ quá trình từ cung cấp nguyên liệu đến sản xuất và cung cấp sản phẩm cho thị trường. Doanh nghiệp lựa chọn chiến lược liên kết dọc sẽ tìm cách tự sản xuất lấy các nguồn lực đầu vào hoặc lo liệu các đầu ra của mình. Tùy theo chiến lược kinh doanh, doanh nghiệp sẽ quyết định mức độ liên kết với nông dân. Sản xuất theo hợp đồng và liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân sẽ giảm được rủi ro về thị trường và sản xuất. Doanh nghiệp sẽ đảm bảo có đủ nguồn nguyên liệu cần thiết để sản xuất, chế biến tiêu thụ; nông dân có thể tiêu thụ được sản phẩm. Tuy nhiên, chương trình sản xuất theo hợp đồng thường bị thất bại do nhiều lý do như hợp đồng không được thực hiện, quyền lực thương lượng không công bằng giữa nông dân và doanh nghiệp và hành vi độc quyền của doanh nghiệp. Ngoài ra, nếu doanh nghiệp ký kết tiêu thụ sản phẩm với nhiều nông dân sản xuất nhỏ thì chi phí cho việc ký kết hợp đồng này tương đối cao. Bên cạnh đó, nhận thức của nông dân còn yếu trong việc đáp ứng những yêu cầu về chất lượng hoặc an toàn vệ sinh thực phẩm. Điều này sẽ dẫn đến xu thế là các doanh nghiệp không muốn ký hợp đồng với nông dân sản xuất nhỏ, lúc này người nông dân sản xuất nhỏ bị loại khỏi chương trình sản xuất theo hợp đồng. Trong khi đó, đây là lực lượng chủ yếu trong nền sản xuất nông nghiệp nước ta hiện nay.

Việc nghiên cứu lý thuyết chi phí giao dịch và thực tiễn sản xuất theo hợp đồng và liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân sẽ cung cấp một nền tảng cơ bản để đánh giá việc sản xuất theo hợp đồng và sự liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân ở nước ta hiện nay. Sản xuất theo hợp đồng và sự liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp không phải là công cụ giải quyết được việc tiêu thụ tất cả các sản phẩm nông nghiệp. Tuỳ theo đặc điểm của từng loại sản phẩm khác nhau và tùy theo từng vùng khác nhau sẽ tác động đến sự thất bại hay thành công của chương trình sản xuất theo hợp đồng. Việc vận dụng lý thuyết chi phí giao dịch rất hữu ích cho phân tích mối quan hệ giữa nông dân và doanh nghiệp, khi những quyết định về mức độ hội nhập dọc và tiêu chuẩn hợp đồng có liên quan có thể ảnh hưởng đến trạng thái và hiệu quả tài chính của cả hai bên. Trong phạm vi sản xuất theo hợp đồng, lý thuyết chi phí giao dịch có thể sử dụng phân tích và giải quyết các vấn đề khó khăn có thể thúc ép hoặc dẫn đến phá vỡ mối quan hệ hợp đồng. Việc nghiên cứu vận dụng lý thuyết chi phí giao dịch giúp cho chúng ta xác định được những ngành hàng nào chi phí giao dịch thấp và ngành hàng nào có chi phí giao dịch cao. Từ đó, chúng ta có thể đề xuất những chính sách khuyến khích sản xuất theo hợp đồng và sự liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân phù hợp.

Tóm lại, việc vận dụng lý thuyết chi phí giao dịch vào nghiên cứu thực tiễn sản xuất theo hợp đồng và sự liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân sẽ giúp cho các nhà hoạch định chính sách đề xuất những chính sách khuyến khích sản xuất theo hợp đồng và chính sách khuyến khích liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân phù hợp với từng ngành hàng và từng vùng khác nhau vì chi phí giao dịch của từng ngành hàng và từng vùng sẽ khác nhau. Điều này có nghĩa là khó có chính sách khuyến khích chung cho việc sản xuất theo hợp đồng và liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân.


Chủ Nhật, 6 tháng 2, 2011


Bao giờ nông dân bán nông sản qua sàn giao dịch?
Anh Thư, Dak Lak
Thứ Ba,  25/1/2011, 11:27 (GMT+7)










Bao giờ nông dân bán nông sản qua sàn giao dịch?
Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải gõ chiêng khai trương sàn giao dịch cà phê BCEC vào ngày 11-12-2008 - Ảnh: Hồng Văn.
(TBKTSG Online) - LTS: Chủ trương phát triển thương mại nông sản của Chính phủ cùng với việc hình thành nhiều sàng giao dịch hàng hóa đã có hơn chục năm qua nhưng tới nay, khá nhiều sàn đăng ký thành lập nhưng hoạt động thì chỉ lèo tèo ở vài sàn và còn quá xa với nông dân.
Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online xin giới thiệu tới độc giả loạt bài viết phản ánh thực trạng cũng như những tham vọng của các sàn giao dịch nông sản trong nước hiện nay.
Kỳ 1: Nhìn từ sàn giao dịch cà phê
Anh Thư, Dak Lak
Lâu nay báo chí lẫn người trồng cà phê ở Tây Nguyên đã bàn nhiều, nói nhiều về Trung tâm giao dịch cà phê Buôn Ma Thuột (viết tắt là BCEC), cứ mỗi khi có tin tức nói về BCEC thì không chỉ trên các diễn đàn về cà phê mới tranh luận sôi nổi mà các phương tiện truyền thông đại chúng khác cũng nói đến nhiều, cho dù những ý kiến còn trái ngược nhau, nhưng cho dẫu thế nào thì chúng ta cũng phải chấp nhận rằng điều đó chứng tỏ chúng ta có quan tâm đến sự ra đời và hoạt động của BCEC.
Nghĩ về sàn cà phê
Tôi không có ý bình luận gì về quan điểm của mỗi người về tính hiệu quả của BCEC trong thời gian qua mà chỉ xin đưa ra một số thông tin mà tôi biết cũng như một số suy nghĩ của mình về sàn giao dịch với ước mong tương lai sàn sẽ khẳng định được vị trí của mình trong ngành cà phê Việt Nam.
Chủ trương xây dựng một nơi để cho người mua và bán cà phê gặp nhau ở quy mô xứng tầm với sự phát triển cà phê của nước nhà trên bản đồ địa lý cà phê thế giới là một điều phải làm sớm hay muộn mà thôi, bởi đó cũng là con đường mà các nước tiên tiến đã đi qua thành công và đó cũng là nền móng cho xu hướng hội nhập thị trường thế giới.
Bước thứ nhất của BCEC là tạo cho người nông dân có một chỗ đứng bình đẳng trong vị trí của người bán sản phẩm, mà không phải chạy quanh thông qua năm tầng mười lớp rải đầy những rủi ro, phía đối diện là người mua xuất khẩu, những doanh nghiệp nước ngoài có cơ hội mua trực tiếp cà phê thông qua hệ thống trực tuyến của sàn. Dựa trên căn bản dùng thị trường kỳ hạn để bảo hộ cho hàng thực, giảm thiểu những tác động xấu do "được mùa mất giá, được giá mất mùa" bởi người bán có thể rải đều lượng bán hàng giao thực qua các tháng.
Sau hai năm hoạt động BCEC đã nhiều lần điều chỉnh những chính sách đưa ra lúc đầu chưa được phù hợp với tình hình thực tế của Việt Nam, nhằm tạo mọi điều kiện dễ dàng hơn để cho nông dân tiếp cận với cách bán hàng mới, ví dụ như:
- Giảm lượng hàng tối thiểu một lần bán trước đây theo lô (lot) của thị trường London (Liffe) là 5 tấn (nay 1 lot của Liffe là 10 tấn) xuống còn chỉ 1 tấn, để cho người nông dân có ít cũng bán vào được thông qua BCEC.
- Mở ra một phương hướng cho người nông dân có thể bán hàng khi cà phê còn nằm trên cây mà gặp lúc giá tốt và giao hàng sau để tránh bán hàng đồng loạt sau khi thu hoạch.
- Công tác kiểm hàng công bằng và vô tư thông qua công ty kiểm định đóng vai trò trọng tài hàng đầu là Cafe Control khi nông dân giao hàng cho bên nhận, cà phê được chăm sóc tốt có tỷ lệ hạt lớn loại 1 cao, hay cà phê được chế biến sạch ít tạp chất hơn 1% sẽ được cộng thêm giá, điều này khuyến khích nông dân đầu tư tốt hơn cho chăm sóc và sơ chế bước đầu để nâng cao chất lượng cà phê ở giai đoạn quyết định.
- Mở nhiều đợt tuyên truyền qua hội thảo đến nhiều huyện cùng với sự kết hợp của nhiều ngành như ngân hàng, công ty kiểm định, công ty tiếp nhận hàng hóa ... để giải thích chi tiết cho nông dân.
- Hàng hóa gởi vào sàn nếu chưa muốn bán không lo bị mất như gởi cho các đại lý, không những thế còn được ngân hàng cho vay 70% giá trị thời điểm lô hàng gởi dựa trên chứng thư gởi kho.
- Nghiên cứu hướng thành lập các điểm giao hàng nằm xa trung tâm để tiện cho việc giao nhận giữa nông dân và sàn giao dịch. Và rất nhiều điểm khác nữa thể hiện sự cố gắng của sàn giao dịch cà phê vốn "cũ người nhưng mới ta".
Tại sao sàn chưa hấp dẫn nông dân, doanh nghiệp?
Theo yêu cầu giao dịch của BCEC hiện nay thì nếu ông Bill Gates, người sáng lập Microsoft có chuyển sang nghề buôn cà phê ở Việt Nam thì cũng sẽ không đủ điều kiện để trở nên thành viên vì ông ấy chưa có bằng đại học, cho dù tài sản của ông có gấp 50 năm tổng doanh thu của ngành cà phê Việt Nam.
Chắc chắn đọc đến đây sẽ có rất nhiều bạn đọc sẽ hỏi lại: chủ trương đúng đắn, cơ sở hạ tầng của sàn đầy đủ, nhiều chính sách có lợi cho nông dân thế thì tại sao sàn giao dịch không thu hút được nông dân đem cà phê vào sàn?
Về phía người mua, trừ một số doanh nghiệp nước ngoài tham gia và một ít các doanh nghiệp trong nước, tại sao các doanh nghiệp thu mua cà phê xuất khẩu nổi tiếng Việt Nam không có trong danh sách?. Lượng hàng nhập vào của sàn còn ít hơn một đại lý nhỏ cấp huyện.
Đứng ở góc độ người quan sát tôi nhận thấy vì những điểm sau đây: cho dù trong thời gian qua hệ thống đại lý bộc lộ nhiều điều bất cập như nhận hàng gởi của nông dân rồi làm ăn thua lỗ mà trốn mất. Rồi hàng hóa qua nhiều khâu trung gian nhiều khi đấu trộn vào thêm những thứ không phải là cà phê hoặc cà phê hạt đen không phải chỉ để tăng lợi nhuận mà cho đúng tiêu chuẩn hàng giao loại R2; loại 1% tạp chất, 5% đen vỡ để rồi các nhà chế biến phải nhập hay mua thiết bị cao cấp về mới loại ra được các thành phần tạp nham để có loại hàng chất lượng cao hơn R2.
Nhưng chúng ta không thể chối cãi một điều rằng từ lâu nông dân xem những đại lý này là các bà đỡ của mình, từ chuyện cưới xin, tang lễ, lo cho con ăn học cho đến khi khó khăn lúc giáp hạt, từ dầu tưới cho đến phân bón thuốc trừ sâu, đều có hệ thống "ngân hàng nhân dân" một cách nói ví von của người trồng cà phê - sẵn sàng đáp ứng, dẫu sao thì một bà lang vườn làm công tác bà đỡ ở gần vẫn tốt hơn một bác sĩ sản khoa có trình độ chuyên môn cao nhưng ở quá xa.
Không chỉ mối thâm tình tối lửa tắt đèn có nhau, lúc đem trả nợ bằng sản phẩm thì tiện thể bán luôn phần còn lại hoặc sau đó thì cũng bán cho đại lý khi mà hệ thống này phục vụ đến tận mỗi nhà. Chúng ta có thể thấy điều khác biệt là các đại lý đầu tư sâu rộng ngay khi nông dân chưa có cà phê, trong khi hệ thống ngân hàng thương mại chưa làm tròn được nhiệm vụ này và thường có xu hướng hỗ trợ khi nắm được hàng trong tay, chưa nói đến những thủ tục "hành tỏi" khác mà để vượt qua nó mà nông dân cảm thấy còn mệt mỏi hơn là đi đào bồn trồng cà phê.
Các công ty xuất khẩu cà phê tên tuổi trong nước cũng không tham gia vì nhiều lý do, trong đó rõ ràng nhất là hầu hết các công ty này đều có mạng lưới chân rết thu mua sâu rộng truyền thống từ lâu, các quy định, thông lệ được thống nhất bằng văn bản hay phi văn bản trong hệ thống của chính họ từ người mua trung gian đến nhà máy của công ty đã gắn chặt và được phổ biến lâu đời, các công ty này không có nhu cầu phải tìm đến với sàn mới có được cà phê cho nhà máy.
Nhân viên BCEC đang nhập lệnh mua bán cà phê - Ảnh: Hồng Văn.
Nói ra 2 điều ở trên để thấy rằng thời gian ngủ đông của BCEC kéo dài không phải chỉ vì sinh lực nội tại của sàn chưa đủ tới ngày thức giấc mà còn phụ thuộc vào thời tiết bên ngoài tác động lên giấc ngủ đông, một chính sách mang tầm tổng thể để làm sống động một trung tâm kết nối giữa người mua tới tận gốc và người bán đến tận ngọn cần có sự can thiệp mang tính chiến lược từ nhà nước, nếu không thì đành phải chấp nhận một thị trường truyền thống tự phát như xưa nay.
Điều kiện đặt ra để trở thành thành viên tại BCEC bảo đảm sự chặt chẽ mang tính pháp lý cao và là điều cần thiết đối với một sàn giao dịch chuyên nghiệp nhưng quả thật không hề đơn giản và dễ hiểu đối với nông dân. Ở đây tôi chỉ xin nói một số điểm chính.
Theo định nghĩa của BCEC có 3 loại thành viên là gồm thành viên đăng ký bán là tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, thành viên kinh doanh là tổ chức, hộ kinh doanh và thành viên môi giới là các tổ chức. Có hướng dẫn cụ thể cho 2 loại thành viên kinh doanh và thành viên môi giới, nhưng không hề thấy hướng dẫn cho thành viên đăng ký bán trong khi đây là đối tượng quan trọng nhất để có hàng thực cung cấp cho người mua cũng như dùng thị trường giao sau để phòng hộ hàng thực cho người bán (tôi đã cố tìm trên website của BCEC nhưng không thấy, nếu ai có xin cho đường link).
Cuối cùng thì vai trò trung gian của các bà đỡ vẫn là còn cần thiết, bởi để có được mạng lưới thu gom từng tạ, từng tấn từ nông dân để giao vào các kho tiếp nhận của BCEC, chưa nói đến sự ký quỹ bắt buộc phải có đối với thành viên để chịu trách nhiệm về lệnh bán, mua và giao hàng của mình mà nông dân ít người có đủ để tự tham gia trực tiếp.
Bên cạnh đó theo tôi chính BCEC cũng cần nghiên cứu lại một số vấn đề như sau: trong quy định để trở thành thành viên kinh doanh điều kiện phải có là: vốn điều lệ/vốn đầu tư tối thiểu 75 tỉ đồng (đối với giao dịch cà phê kỳ hạn).
Theo tôi biết thì việc giao dịch tại sàn (nói chung) phải lấy khoản tiền ký quỹ để chịu trách nhiệm sự mua/bán khối lượng giao dịch, với điều khoản này BCEC đã bỏ qua những công ty có vốn điều lệ/vốn đầu tư 74,9999 tỉ trở xuống.
Một điều kiện khác nữa cũng khiến cho một số vị lãnh đạo các công ty chạnh lòng đó là chủ nhiệm hợp tác xã, giám đốc/tổng giám đốc có bằng đại học trở lên.
Theo yêu cầu trên thì nếu ông Bill Gates có chuyển sang nghề buôn cà phê thì cũng sẽ không đủ điều kiện để trở nên thành viên vì ông ấy chưa có bằng đại học, cho dù tài sản của ông có gấp 50 năm tổng doanh thu của ngành cà phê Việt Nam.
Góp ý thêm
Các bản quy định của sàn để trừ hàng nhập khi chưa đạt tiêu chuẩn cần được biên soạn sao cho phải theo thông lệ của thị trường đã có hàng mấy chục năm qua và quá quen thuộc với hầu hết những người có liên quan đến cà phê, như bản tiêu chuẩn trừ độ ẩm, tạp chất, đen vỡ.
Người nông dân muốn công khai tất cả những quy định, thông báo ban hành từ BCEC để người muốn tham gia dễ dàng tham khảo trên website, đồng thời cần có những chuyên gia giỏi để phân tích định hướng cũng như cảnh báo những rủi ro theo tình hình thị trường, tạo kênh thông tin thường xuyên giữa khách hàng và BCEC, như cách mà các sàn giao dịch nước ngoài hay làm.
Không thể nói đã thành lập 2 năm mà BCEC hiện chưa hoàn thiện hệ thống website (bạn đọc vào thử www.bcec.vn sẽ rõ) được bởi đây là điều nằm trong tầm tay. Mở rộng cánh cửa của trung tâm và khu vực tiếp nhận hàng hóa để hân hoan chào đón nông dân như cách của các ngân hàng lớn đang làm đối với khách hàng của họ, ít nhất trước mắt cũng làm vui lòng nông dân có lượng hàng trong tay từ 5-7 tấn/năm trở lên vào sàn giao dịch.
Ngoài ra, những tiểu tiết mà sàn cũng nên quan tâm, nghiên cứu kỹ hơn, đó là tâm lý người nông dân không thích bị hỏi "anh đến gặp ai? có việc gì?" hay đại loại như "Ra vào cơ quan xuống xe dẫn bộ" khi bước chân vào trụ sở sàn giao dịch.
Còn bao lâu nữa để cho tiếng cồng của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải gióng lên khai trương ngày nào vẫn vang xa và kêu to mãi thì còn tùy thuộc vào sự nhiệt tâm và cố gắng của BCEC lẫn của nông dân trồng cà phê và của cả các doanh nghiệp.

 

Kỳ 2: Sàn giao dịch hàng hóa: Tiềm ẩn nhiều rủi ro
Thái Hằng
Thứ Tư,  26/1/2011, 11:56 (GMT+7)










Kỳ 2: Sàn giao dịch hàng hóa: Tiềm ẩn nhiều rủi ro
Thái Hằng
Đã nhiều năm qua, ngành thủy sản mong muốn xây dựng sàn giao dịch tôm cá nhưng đều thất bại, trong ảnh là cảnh chế biến tôm xuất khẩu ở một nhà máy ở ĐBSCL - Ảnh: TL.
(TBKTSG) - Các sàn giao dịch hàng hóa trong nước đang hướng đến những hình thức giao dịch được cho là phù hợp với xu thế của thế giới như giao dịch kỳ hạn, giao dịch quyền chọn... Tuy nhiên, trong bối cảnh các văn bản pháp lý, quy định hướng dẫn còn thiếu, sự hiểu biết về thị trường giao sau còn hạn hẹp đã đặt ra nhiều vấn đề, nhất là việc quản lý rủi ro.
>>Tiếp tục chờ sàn giao dịch

>>Thay đổi thói quen nông dân: nhìn từ sàn cà phê

>>Giao dịch cà phê kỳ hạn: cũ người nhưng khó ta

>>Hơn 200 tấn đường giao dịch qua Sacom-STE

>>Bao giờ nông dân bán nông sản qua sàn giao dịch?

Từ thất bại của phương thức giao ngay
Phần lớn các sàn giao dịch đang hoạt động đều áp dụng phương thức giao dịch giao ngay khá đơn giản với ưu điểm là giá cả minh bạch, hàng hóa qua kiểm định, có chất lượng và việc thanh toán diễn ra chỉ một hoặc hai ngày sau khi khớp lệnh. Nhưng với kiểu giao dịch này, nhiều sàn giao dịch cũng không tránh khỏi khó khăn, chủ yếu đến từ thói quen mua bán của nông dân và doanh nghiệp.
Sàn giao dịch đường (gồm hai mặt hàng đường thô và đường tinh) của Công ty cổ phần Giao dịch hàng hóa Sài Gòn Thương Tín (Sacom-STE) ra mắt vào tháng 3-2010, nhưng đến tháng 11 thì mỗi phiên chỉ giao dịch trên dưới 10 tấn đường. Trong khi sàn cần một con số gấp 50 lần để các bên mua bán có thể tiến hành giao dịch. Ít lâu sau đó, giá đường trong nước lẫn thế giới tăng lên vùn vụt, nhà máy và doanh nghiệp "mặn mà" hơn với chuyện trữ đường tại kho chờ giá lên thì sàn giao dịch đường của Sacom-STE cũng gần như ngưng hoạt động vì không còn người bán...
Trước đó, Sacom-STE đã đầu tư một hệ thống cơ sở hạ tầng khá bài bản, từ phần mềm giao dịch, bảng điện tử, hệ thống kho lưu ký, và đặc biệt, có tập đoàn tài chính Sacombank đứng đằng sau, hỗ trợ cho giao dịch thanh toán. Bên cạnh đó, giao dịch sàn hướng đến là các giao dịch thật với hàng hóa thật.
Ông Phan Vũ Hùng, Giám đốc Sacom-STE, cho rằng vấn đề không nằm ở chất lượng hàng hóa vì đường đã được giám định trước khi lưu ký tại hệ thống kho của Sacom-STE nên được nhiều doanh nghiệp sản xuất bánh kẹo, nước giải khát ưa chuộng vì chất lượng khá đồng đều và đảm bảo. Cái khó của sàn nằm ở việc sổ sách chứng từ và giá cả qua sàn được minh bạch hóa lại không "được lòng" nhiều công ty đường vốn đã quen với hình thức mua bán có các khoản "hoa hồng" ngoài sổ sách. Giá đường trên thị trường biến động mạnh theo chiều hướng tăng từ thời điểm giữa năm kéo dài đến tận vụ ép vào tháng 9, tháng 10 do nguồn cung thiếu hụt lại càng thúc đẩy các công ty đường có cam kết tham gia trước đó, quay lưng lại với sàn giao dịch.
Đến sức hút giao dịch kỳ hạn
Trong bối cảnh các sàn giao dịch trong nước loay hoay với việc tìm kiếm khách hàng cho các sản phẩm giao ngay thì đã có không ít doanh nghiệp xuất khẩu tham gia các giao dịch kỳ hạn ở các sàn giao dịch như giao dịch cà phê Robusta trên sàn Liffe ở London hay cà phê Arabica trên sàn Nybot của Mỹ, Tocom của Nhật Bản... thông qua môi giới của các ngân hàng như Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), hay Techcombank.
Với giao dịch loại này, doanh nghiệp chỉ cần ký quỹ một số tiền chiếm tỷ lệ chỉ một vài phần trăm so với giá trị hàng hóa giao dịch (ảo) là có thể mua bán ngay mà chẳng cần có hàng hóa lưu kho, tiết kiệm được rất nhiều chi phí cho lãi vay, chi phí lưu kho, vận chuyển... Mức độ tham gia của các doanh nghiệp Việt Nam ngày càng nhiều, đến mức sàn giao dịch hàng hóa Sicom nổi tiếng của Singapore tháng 4 năm trước đã qua Việt Nam để quảng bá cho giao dịch kỳ hạn duy nhất với mặt hàng cà phê Robusta.
Nhận thấy xu hướng và mong muốn thu hút được các doanh nghiệp xuất khẩu nói trên, các sàn giao dịch trong nước gần đây cũng nhanh chóng đưa giao dịch kỳ hạn vào danh mục các sản phẩm cung cấp cho khách hàng.
Ngày 1-11 vừa qua, Công ty cổ phần Giao dịch hàng hóa Việt Nam đã đưa vào hoạt động Sở Giao dịch hàng hóa Việt Nam (Vietnam Commodity Exchange - VNX) với giao dịch kỳ hạn dành cho ba mặt hàng được Bộ Công Thương cấp phép là cà phê, cao su và thép.
Mới đây, ông Nguyễn Tuấn Hà, Giám đốc Trung tâm Giao dịch cà phê Buôn Ma Thuột, cho biết sau một thời gian triển khai giao dịch giao ngay, trung tâm sẽ khai trương giao dịch kỳ hạn nhân sự kiện Festival cà phê lần thứ 3 diễn ra ở tỉnh Daklak vào tháng 3 tới.
Theo ông Hà, khai trương giao dịch kỳ hạn nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường là tạo ra một kênh đầu tư cho các doanh nghiệp trong bối cảnh kỳ vọng vào giá cà phê xuất khẩu vẫn tiếp tục đứng ở mức cao, trong khi một số kênh đầu tư phổ biến của doanh nghiệp như chứng khoán, bất động sản còn gặp nhiều khó khăn.
Rủi ro cao
Các sàn giao dịch hàng hóa đã đăng ký và đang hoạt động chủ yếu với loại hình giao ngay và giao sau bao gồm: sàn giao dịch hàng hóa Sài Gòn Thương Tín (Sacom - STE) đăng ký khá nhiều mặt hàng là thép, đường, điều, cao su. Nhưng hai mặt hàng điều và đường hiện đang tạm ngưng giao dịch.
- Sở Giao dịch hàng hóa Việt Nam (VNX), tiền thân là Sở Giao dịch hàng hóa Triệu Phong, cũng đăng ký giấy phép giao dịch giao sau các mặt hàng cà phê, cao su, thép.
- Trung tâm Giao dịch cà phê Buôn Ma Thuột, chính thức đi vào hoạt động vào cuối năm 2008.
Trước đó, vào năm 2002 TPHCM cũng có một số sàn giao dịch ra đời nhưng nhanh chóng đóng cửa vì hoạt động không hiệu quả như sàn giao dịch thủy sản Cần Giờ hay sàn giao dịch điều của Trung tâm Chứng khoán TPHCM phối hợp với Hiệp hội Điều Việt Nam.
Thái độ thận trọng của ông Hà là có lý vì thực tế các sàn giao dịch hàng hóa ở Việt Nam chỉ mới "mon men" chứ chưa thật sự bước vào giao dịch kỳ hạn vì loại hình giao dịch này đòi hỏi quản lý chặt chẽ và hiểu biết chuyên sâu.
Theo ông Nguyễn Văn Nam, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Thương mại - Bộ Công Thương, chuyên gia về sàn giao dịch hàng hóa, thì việc sàn giao dịch hàng nông sản ở Việt Nam đứng ra cung cấp hợp đồng kỳ hạn trong bối cảnh các quy định pháp luật chưa có, giao dịch chưa đạt tiêu chuẩn quốc tế, yếu kém về tổ chức lẫn năng lực đang tiềm ẩn nhiều rủi ro lớn.
Những quy định chung nhất về cơ sở pháp lý và thể lệ sàn giao dịch hàng hóa hiện nay đã có trong Nghị định 158/2006/NĐCP. Đến năm 2009, Bộ Công Thương tiếp tục hướng dẫn việc cấp phép thành lập và chế độ báo cáo của Sở Giao dịch hàng hóa bằng Thông tư 03/2009/BCT. Sau đó, bộ cũng tiếp tục công bố danh mục sản phẩm được mua bán qua sàn giao dịch hàng hóa, gồm cao su, cà phê nhân, mủ cao su thiên nhiên và một số loại thép.
Thế nhưng điều cần nhất là quy định chi tiết về tổ chức để một sàn giao dịch hàng hóa hoạt động thì cho đến nay vẫn chưa được bộ hướng dẫn cho doanh nghiệp.
Ông Nam cho biết, về bản chất giao dịch kỳ hạn nhằm giúp nông dân - nhà sản xuất, người kinh doanh biết được mức giá tương ứng với kỳ vọng hàng hóa trong tương lai nhằm định hướng, tính toán các kế hoạch sản xuất kinh doanh. Đặc biệt với nông sản thì giá giao dịch kỳ hạn sẽ giúp nông dân tính toán được nhu cầu và giá cả trong các vụ tiếp theo, tránh tình trạng được mùa mất giá như vẫn xảy ra.
"Tuy nhiên, tổ chức giao dịch kỳ hạn trong khi trình độ tổ chức và quản lý các sàn giao dịch hàng hóa ở nước ta đều còn khá non kém trong bối cảnh cơ sở pháp lý lẫn thể lệ hoạt động đều lỏng lẻo nên nguy cơ xảy ra tình trạng thiếu thanh khoản trong giao dịch, hay tranh chấp xảy ra là khó tránh khỏi" ông nói thêm.
Trong khi đó, theo một giám đốc sàn giao dịch thì điều kiện để thành lập sàn giao dịch hàng hóa thực chất rất đơn giản, chủ yếu là cần số vốn đăng ký đạt 150 tỉ đồng và một số cơ sở vật chất cơ bản là đã có thể mở sàn. Theo ông này, loại giao dịch kỳ hạn này, với hàng hóa chủ yếu nằm trên giấy, được mở ra thực chất nhắm đến phục vụ cho tâm lý đầu cơ, kiếm lãi trong ngắn hạn của các nhà sản xuất và thương mại.
Một doanh nghiệp đang tham gia sàn giao dịch cà phê quốc tế thì đề cập đến một nguy cơ khác là các sàn trong nước tổ chức giao dịch kỳ hạn trong khi trình độ tổ chức còn non kém sẽ nhanh chóng làm "mồi" cho các thế lực kinh doanh nông sản lớn trên thế giới.
Kỳ 3: Tiền lệ xấu từ sàn vàng, cà phê "giấy"
Anh Thư
Thứ Sáu,  28/1/2011, 09:37 (GMT+7)










Anh Thư
Màn múa Hoa cà phê trong lễ hội cà phê Buôn Ma Thuột - Ảnh: Hồng Văn
(TBKTSG Online) - Trong kỳ 1 và kỳ 2 chúng ta đã thấy sự cố gắng và những khó khăn của BCEC cũng như nhiều sàn giao dịch nông sản đã ra đời ở Việt Nam. Trước khi đi vào kỳ 3 về sàn nông sản mà tôi muốn đề cập đến chủ yếu là cà phê, có lẽ cần thiết phải nói qua một chút về tính hai mặt của một cái gọi là "sân chơi" nông sản kiểu của ta.
>> Bao giờ nông dân bán nông sản qua sàn giao dịch?

>> Xem bài "Bão không đến từ biển" đăng trên TBKTSG số 27 ra ngày 29-6-2006 bằng file word

>> Kỳ 2: Sàn giao dịch hàng hóa: Tiềm ẩn nhiều rủi ro

Lúc mở cửa sàn vàng người ta có một ngàn lẻ một lý do tốt đẹp cũng như những ưu điểm được phân tích hùng hồn để mở, và gần 3 năm sau khi nhận thấy loài ký sinh cờ bạc nó trưởng thành nhanh chóng và bắt đầu gây hại đến chủ thể thì cũng có không kém chừng đó nguyên do để đóng cửa sàn vàng.
Sau năm 2000 tại Daklak và Gia Lai đã xuất hiện một hệ thống chơi "cà phê giấy", hay có người còn gọi là "hàng future", căn cứ trên giá cà phê của hai thị trường Liffe và CSCE đã lôi kéo một lượng người khá lớn tham gia, điều đặc biệt là hầu hết những người chơi còn không biết luật chơi của cái thị trường này nó ra làm sao?
Lúc đầu chỉ biết là mua bán cà phê "trên mạng" một đêm lời đến những vài tỉ đồng, để rồi sau đó nhanh chóng biến thành những con thiêu thân mua bán cà phê "liều mạng" đến nỗi rất nhiều người tán gia bại sản, thậm chí đi tù, tất nhiên là đi tù vì tội danh khác nhưng cũng xuất phát từ cà phê giấy, mà sau đó một số ngân hàng thương mại nghe ngóng bất kỳ một đại lý, công ty nào có dính dáng đến cái chữ "mạng" hay "giấy" là tìm đường thoái thác cho vay.
Chúng ta không phản đối chương trình xổ số kiến thiết quốc gia cũng như không phản đối sự ra đời của một sàn giao dịch nông sản hoạt động vì ích lợi cộng đồng trong tính chất giao hàng kỳ hạn và tính chất bảo hộ hàng thực mà một số bài viết đã phân tích.
Không ai chối cãi được tính tích cực của chương trình xổ số kiến thiết quốc gia, thế nhưng song hành với nó, hay nói đúng hơn cùng ký sinh với nó là nạn số đề khiến cho bao nhiêu gia đình tan nát, nhưng dù sao thì loại ký sinh này chưa gây chết đến chủ thể.

Sàn giao dịch nông sản cũng vậy, cũng có mặt trái của nó là dễ dàng biến tướng thành cờ bạc.
Nhưng nếu mượn những điều tốt đẹp và hoa mỹ như "sự ra đời của sàn giao dịch nông sản góp phần rút ngắn con đường đưa sản phẩm của nông dân đến với thị trường thế giới" mà không chỉ ra được con đường đó nó dài ngắn, khúc khuỷu ra làm sao thì rõ ràng là một kiểu nói lấy được.
Cũng tương tự như sàn vàng, sự biến thiên khá lớn của sàn giao dịch cà phê là tính hấp dẫn cho những nhà đầu tư, sẽ không có gì để nói khi một nông dân đứng tại thời điểm tháng 9 (lúc chưa thu hoạch cà phê) nhìn thấy giá tháng 11 trên thị trường Liffe ở London đang cao và thỏa mãn cho sự đầu tư trồng trọt của mình và anh ta quyết định bán kỳ hạn giao tháng 11 cho sản phẩm nhằm tránh rủi ro theo nhận định đến tháng 11 giá sẽ hạ lúc đi vào cao điểm thu hoạch.
Vấn đề sẽ khác đi trong một hoàn cảnh khác khi một người bỏ ra số tiền ngang bằng khoảng 1 tấn cà phê thật để ký quỹ cho đặt lệnh bán/mua với giá trị tương đương 10 tấn trên mạng (thường mua bán qua sàn Liffe chỉ cần ký quỹ 10% giá trị hàng thật từng thời điểm).
Tôi xin đưa ra ví dụ: một người sau khi ký quỹ đang đứng tại thời điểm tháng 9 nhìn thấy giá tháng 11 đang giao dịch tăng và có cùng nhận định như anh nông dân nói trên là trong tương lai càng gần tháng 11 giá sẽ sụt giảm nên ra lệnh bán giao hàng tháng 11 với giá 2.000 đô la/tấn.
Đến gần thời điểm giao hàng tình hình thực tế lại không như nhận định là sụt mà giá lại tăng lên 2.200 đô la/tấn, đối với anh nông dân thì được xem như là mất lời, nhưng không lỗ bởi sự lỗ lãi của anh nông dân được cân đối trên sự đầu tư vườn cây trong năm, quá trình cân nhắc bán giá nào của anh nông dân cũng tác động thị trường và phản ánh lên tình hình thực tế của giá thành sản xuất như một chuỗi hệ quả của thị trường thực.
Thế nhưng đối với một người chơi hàng giấy thì phải mua vào lại từ trên mạng để thanh toán cho cái vị thế bán trước đây của mình đã tạo, động tác mua vào lại của nhà đầu tư này gọi là mua bù bán mà trong thuật ngữ thị trường gọi là Short Covering (xem chi tiết các thuật ngữ giao dịch nông sản thế giới tại đây).
Đến đây chúng ta đã thấy nhà đầu tư lỗ 200 đô la x 10 tấn = 2.000 đô la. Nếu như trước đây nhà đầu tư này đã ký quỹ vào hệ thống ngân hàng trung gian giao dịch giữa họ và thị trường Liffe là 2.000 đô la thì từ nay trở đi nhà đầu tư này sẽ không còn quyền ra lệnh bán hay mua gì nữa, muốn chơi tiếp thì họ phải đặt tiếp tiền ký quỹ vào, đoạn này giống như chơi bài xì phé vậy, phải đặt "chến" (như một cách ký quỹ ban đầu) vào thì mới được chơi tiếp.
Nó còn nghiệt ngã hơn cả chơi xì phé trong trường hợp giả sử nhà đầu tư chỉ lỗ ví dụ 1.700 đô la, tức là còn 300 đô la trong tiền ký quỹ thì vẫn không được chơi tiếp vì số tiền không đủ bảo đảm lượng tối thiểu để bán hay mua.
Vẫn chưa hết, nếu như mức lỗ của nhà đầu tư nằm đúng với số tiền họ đã ký quỹ thì theo quy định của Stoploss (ngưng thua lỗ) sẽ tự động chốt giá giùm cho anh ta khi giá đụng đến mức 2.200 đô la/tấn, nếu muốn không bị tự động ngưng thua lỗ để chờ cơ hội biết đâu giá xuống lại thì phải đóng tiếp tiền ký quỹ vào sao cho phải cao hơn mức có thể lỗ tiếp.
Tôi đã từng chứng kiến nhiều nhà đầu tư thiêu thân chạy vạy xoay xở tiền bằng mọi giá, bằng mọi loại lãi suất nóng đóng vào ngân hàng trung gian để không bị stoploss, nhưng sau đó vẫn dính stoploss, có nghĩa là họ mất luôn cả tiền vừa đóng vào thêm.
Người ta thường lấy định luật bảo toàn của nhà bác học Lomonoxop để nói đùa "tiền bạc không mất trong không gian, nó chỉ được chuyển đổi từ túi của người này sang người khác" trong trường hợp này rõ ràng là nó chạy từ túi người thua sang người thắng và chúng ta thử xem người thắng là ai?
Họ là những nhà đầu tư lớn từ nước ngoài, tham gia cuộc chơi trên sàn giao dịch với một nguồn tài chính hùng mạnh với đầy đủ thông tin cung cấp từ những tay phân tích chuyên nghiệp trên mọi bình diện từ thời tiết, kinh tế - chính trị 5 châu cho đến đồng tiền các nước mạnh yếu thế nào trong những ngày tới, họ thừa sức biết lúc nào nên bỏ ra lỗ nhỏ và lúc nào nên gom hết.
Năm 2005, không chỉ doanh nghiệp mà nhiều nông dân, đại lý cà phê ở Tây Nguyên đổ xô "chơi cà phê giấy", sau đó nhiều đại lý phá sản vì thua lỗ. Trong ảnh là nông dân phơi cà phê (ảnh chỉ có tính minh họa) - Ảnh: TL.
Không những có khả năng khuynh đảo giá thị trường mà còn có khả năng tạo luồng thông tin định hướng suy nghĩ người chơi là nhà đầu tư theo ý họ muốn, trong quá trình làm việc tôi đã có dịp gặp một trong số những người mua lớn và họ đã không ít lần nói chính xác giá mở cửa chiều nay (theo múi giờ thì sàn Liffe mở cửa vào 4-5 giờ chiều giờ Việt Nam).
Tôi không có ý tự ti chúng ta nhỏ bé nhưng biết người biết ta cũng là một quyết sách của ngày xưa nhờ vậy mà Tư Mã Ý còn sống sót để xây dựng lên nhà Tấn nhờ tránh đối đầu trực diện với Khổng Minh.
Cách chơi trên sàn nông sản hiện nay trên thế giới chẳng khác chơi tài xỉu là mấy, một người đánh cược vào tài (lớn) với hy vọng tổng của 3 con xúc xắc lớn hơn 10 và ngược lại trong cùng thời điểm có người hy vọng nó là xỉu (nhỏ - từ 10 trở xuống) cũng với ba con xúc xắc sau khi lắc, những tay cờ bạc bịp có thể lắc xúc xắc ra tài hay xỉu là tùy ý, tùy vào bên nào có lượng tiền đặt lớn hơn.
Cũng tương tự như tài xỉu, một người ra lệnh mua vào với hy vọng giá lên để bán ra là người đang theo phía "tài" trong thuật ngữ thương mại tiếng Anh gọi là những người theo "Bullish Trend" - xu hướng tăng và ngược lại là những người ra lệnh bán ra để chờ giá hạ xuống sẽ mua thuộc về phía "Bearish Trend" - xu hướng hạ là những người đang hy vọng sẽ ra kiểu "xỉu".
Sở dĩ tôi đem so sánh vấn đề sàn giao dịch nếu làm ăn theo kiểu nêu trên giống như đánh tài xỉu là bởi giữa hai
Hiện nay hàng giấy, hàng future tại Lâm đồng cũng đang có xu hướng hồi sinh (mà rồi sẽ hồi tử) như ở Daklak và Gia Lai trước kia.

Nghe đâu hiện đang có phong trào mở sàn giao dịch nông sản, nhìn lại chúng ta đã thua trên sàn nông sản tự phát trước đây (giao dịch với các sàn nước ngoài), chúng ta đã có tiền lệ xấu trên sàn vàng được phép mở cửa chính thức để rồi phải đóng cửa cũng chính thức và để lại bao nhiêu hệ lụy tổn thất.
loại hình này giống nhau về căn bản ở một điểm, đó là người đặt cược (nhà con) không hề có một chút gì chủ động hay một yếu tố nào có thể nói tương đối chắc rằng 3 con xúc xắc kia tổng sẽ ra dưới hay trên 10, một tay bạc bịp không những giỏi xóc xúc xắc mà còn rất rành tâm lý người chơi, họ biết lúc nào là cho nhà con ăn (có thế người ta mới hào hứng chơi tiếp) và lúc nào là nên đánh đòn knock-out.
Nếu như số tiền thắng thua này chạy vòng quanh trong nước thì chúng ta có thể yên tâm với định luật của ngài Lomonoxop nhưng vấn đề không phải vậy, khi chuyển số tiền này cho người thắng ở nước ngoài bằng đô la, trong khi có biết bao nhiêu rào cản để chống chảy máu ngoại tệ mạnh nhưng lại để ngoại tệ ngang nhiên sắp hàng tự nguyện chảy ra một cách hợp pháp thông qua chơi hàng giấy, qua ngân hàng trung gian.
Điều đáng buồn là hàng trăm công ty nông sản trong nước chơi hàng giấy qua các ngân hàng trung gian được ngân hàng nhà nước cho phép nhưng hàng năm, không một ngân hàng nào công bố tổng lượng ngoại tệ giao dịch với các sàn nông sản nước ngoài là bao nhiêu, phía doanh nghiệp Việt Nam thua bao nhiêu, thắng bao nhiêu?

Digital Marketing – Chìa khóa mở cửa kỷ nguyên tiếp thị hiện đại

  Trong thời đại số hóa, khi mọi tương tác, giao tiếp và quyết định mua hàng dần chuyển dịch lên môi trường trực tuyến, Digital Marketing ( ...