Thứ Bảy, 13 tháng 9, 2008

PHÁT TRIỂN CÁC HÌNH THỨC SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP

THEO HỢP ĐỒNG Ở VIỆT NAM


 

Bảo Trung

Đặt vấn đề.

Sản xuất nông nghiệp gắn với tiêu thụ sản phẩm làm ra luôn là thách thức và là mối quan tâm, lo lắng của chính phủ các quốc gia trên thế giới. Bởi lẽ sản phẩm nông nghiệp do các hộ nông dân, phần lớn thuộc đối tượng nghèo trong xã hội làm ra, nếu không được tiêu thụ tốt và có lợi cho họ, thì thu nhập và đời sống của họ sẽ bị ảnh hưởng xấu, trách nhiệm sẽ có phần thuộc về Chính phủ.

Vì vậy, trên nghị trường quốc tế, nhiều cuộc đàm phán song phương và đa phương về tự do hóa thị trường nông nghiệp luôn gặp nhiều bất đồng, vì Chính phủ các quốc gia đều lo ngại nông dân của họ sẽ gặp khó khăn trong tự do hóa tiêu thụ nông sản. Sự thất bại của vòng đàm phán Doha của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) về thương mại nông nghiệp là điển hình cho sự bất đồng về chính sách bảo hộ sản xuất nông nghiệp của các quốc gia.

Ở Việt Nam, trong tiêu thụ nông sản của mình, người nông dân cũng thường rơi vào tình trạng "được mùa thì mất giá và mất mùa thì được giá". Hiện tượng người nông dân "lúc trồng, lúc chặt" diễn ra khắp nơi gây nên tình trạng bất ổn về đời sống của chính họ và tạo ra khó khăn cho Chính phủ trong điều hành sản xuất nông nghiệp. Để giải quyết những mẫu thuẫn hiện nay trong tiêu thụ nông sản, ngày 24/6/2002 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 80/2002/QĐ-TTg về khuyến khích tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng. Kể từ đó đã dấy lên phong trào gọi là "sản xuất theo hợp đồng và liên kết 4 nhà".

Thực hiện Quyết định nói trên, ở nhiều địa phương các doanh nghiệp, hợp tác xã (HTX) đã tích cực triển khai và đã đạt kết quả tốt. Một số doanh nghiệp đã thực hiện thành công việc ký kết hợp đồng tiêu thụ nông sản với nông dân như Công ty nông nghiệp Sông Hậu, Công ty nông nghiệp Cờ Đỏ, Công ty bông Việt Nam, Công ty xuất nhập khẩu nông sản – thực phẩm An Giang, thực hiện bao tiêu toàn bộ sản phẩm của nông dân đã ký kết hợp đồng; Công ty bông Việt Nam ứng trước vốn, vật tư và thu mua sản phẩm theo giá cố định trên hợp đồng; Công ty lương thực Tiền Giang bao tiêu lúa hàng hoá trên diện tích 3.300 ha của nông dân; Công ty chăn nuôi Tiền Giang hợp đồng mua bắp hạt của nông dân với diện tích 50 ha...

Tuy vậy, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, trong thời gian qua, nhiều doanh nghiệp đã thất bại trong quan hệ hợp đồng với nông dân, không mua được nông sản do nông dân làm ra, hoặc không thu hồi được vốn đã ứng trước cho nông dân, tình trạng vi phạm hợp đồng xảy ra khắp nơi. Nông dân đổ lỗi cho doanh nghiệp và ngược lại. Năm 2005, Tổng công ty lương thực Miền Nam ký hợp đồng tiêu thụ lúa cho nông dân trên diện tích 10.606 ha, với sản lượng là 54.727 tấn, nhưng chỉ mua được 17.510 tấn, đạt 32,0% hợp đồng đã ký kết (Vinafood, 2006). Nhiều doanh nghiệp khác cũng chỉ thực hiện mua được theo hợp đồng đã ký dưới 10% , tỷ lệ nợ khó thu hồi vốn ứng trước gia tăng.

Vậy, sản xuất theo hợp đồng theo Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ được xem một trong hình thức giao dịch nông sản tiên tiến, nhưng tại sao lại khó hoặc không thành công trên thực tiễn, bài viết này sẽ phân tích những nguyên nhân không thành công dựa trên phân loại và phân tích các hình thức sản xuất theo hợp đồng đã và đang diễn ra ở Việt Nam hiện nay, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện phù hợp với điều kiện của Việt Nam.

  1. Một số luận giải về sản xuất theo hợp đồng trong nông nghiệp.

Eaton và Shepherd (2001) định nghĩa sản xuất theo hợp đồng là "thoả thuận giữa những người nông dân với các doanh nghiệp chế biến hoặc doanh nghiệp kinh doanh trong việc sản xuất và cung cấp các sản phẩm nông nghiệp dựa trên thỏa thuận giao hàng trong tương lai, giá cả đã được định trước" [1].

Theo Sykuta và Parcell (2003), sản xuất theo hợp đồng trong nông nghiệp đưa ra những luật lệ cho việc giao dịch nông sản qua việc phân bổ thật rõ ba yếu tố chính: lợi ích, rủi ro, và quyền quyết định [3]. Như vậy, bản chất của sản xuất theo hợp đồng hoàn toàn khác với hình thức giao ngay mang tính truyền thống (đó là mua bán trực tiếp hoặc thông qua các chợ) hoặc giao dịch giao sau (đó là mua, bán nông sản thông qua Sở giao dịch hàng hóa). Điểm khác biệt về bản chất của ba hình thức giao dịch này chính là cơ chế hình thành giá. Đối với giao dịch giao ngay, giá thỏa thuận trên hợp đồng phản ánh cung cầu thị trường hiện tại; đối với giao dịch giao sau, giá cả phản ánh cung cầu thị trường tương lai; đối với sản xuất theo hợp đồng, giá cả phản ánh lợi ích, rủi ro và quyền quyết định của người mua và người bán. Điều này có nghĩa là, giá đã được thỏa thuận phải đảm bảo người bán thu được lợi ích nhất định và người mua có thể mua hàng với mức giá có thể chấp nhận được; cho dù vào thời điểm giao hàng, giá thị trường có thể cao hơn hoặc thấp hơn giá thỏa thuận.

Có thể phân loại sản xuất theo hợp đồng theo cấu trúc tổ chức của hợp đồng. Cấu trúc tổ chức của sản xuất theo hợp đồng phụ thuộc vào quy trình sinh học của sản phẩm nông nghiệp, nguồn lực của doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ và tính chất của mối quan hệ giữa nông dân và doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ. Eaton và Shepherd (2001) đã chia các hình thức sản xuất theo hợp đồng trong nông nghiệp thành 5 mô hình, đó là: mô hình tập trung, mô hình trang trại tập trung, mô hình phi chính thức, mô hình đa thành phần và mô hình trung gian [1].

  1. Thực trạng các mô hình sản xuất theo hợp đồng trong nông nghiệp ở Việt Nam
  1. Mô hình tập trung

Mô hình tập trung là mô hình các doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ trực tiếp ký hợp đồng với nông dân. Doanh nghiệp chịu trách nhiệm cung cấp hầu hết các yếu tố đầu vào, hướng dẫn quy trình kỹ thuật và giám sát toàn bộ quá trình sản xuất từ khâu xuống giống đến khâu thu hoạch. Nông dân chịu trách nhiệm cung cấp nguồn lực đầu vào là đất đai, chuồng trại và công lao động để thực hiện khâu trực tiếp sản xuất mang tính sinh học. Bản chất của mô hình này chính là sản xuất theo hợp đồng gia công. Lợi ích và rủi ro được chia sẻ giữa các bên tham gia hợp đồng tùy theo sự đóng góp của mỗi bên, nhưng quyền quyết định thuộc về doanh nghiệp.

Ở Việt Nam do số hộ nông dân đông, quy mô sản xuất nhỏ nên doanh nghiệp phải ký hợp đồng với rất nhiều hộ nông dân mới đủ lượng sản phẩm cần thiết cho nhu cầu sử dụng của doanh nghiệp. Bảng 1 cho chúng ta thấy diện tích và số hộ tham gia ký kết hợp đồng tiêu thụ bông với trạm bông Krông Chro, thuộc công ty bông Việt Nam.

Để thực hiện công việc này, trạm bông Kông Chro với 12 người và 41 cộng tác viên phải ký hợp đồng với 1586 hộ nông dân đẻ mua sản phẩm. Điều này làm tăng đáng kể chi phí thu mua và quản lý sản phẩm đã thu mua của nông dân

Bảng 1: Diện tích và Số hộ nông dân tham gia trồng bông 2002-2004

tại Trạm Kông Chro

Năm 

Diện tích (ha)

Tổng số hộ

Bình quân ha/hộ

2002 

738 

460 

0,62 

2003 

1.882 

1.028 

0,55 

2004 

2.669 

1.586 

0,59 

Nguồn: Báo cáo sản xuất bông ở trạm Kông Chro (2006)

Khảo sát cho thấy, nếu các hộ nông dân có nhu cầu cao về bán sản phẩm làm ra và doanh nghiệp có nhu cầu và khả năng tiêu thụ lớn thì thường các hợp đồng đã ký kết được thực hiện tốt. Những hộ sản xuất quy mô lớn có nhu cầu bán sản phẩm cao hơn và họ cần sản xuất theo hợp đồng hơn so với những hộ sản xuất quy mô nhỏ. Đối với doanh nghiệp, chi phí triển khai ký kết và thu mua theo hợp đồng với những hộ có quy mô sản xuất lớn đã giảm đáng kể, nguy cơ rủi ro cũng thấp hơn. Điều này thúc đẩy doanh nghiệp thực hiện ký hợp đồng hợp đồng mua sản phẩm.

  1. Mô hình trang trại hạt nhân

Mô hình trang trại hạt nhân tương tự như mô hình tập trung, nhưng bên mua sản phẩm là doanh nghiệp nắm quyền sở hữu đất đai, chuồng trại, vườn cây. Bên bán sản phẩm chỉ thực hiện hoạt động sản xuất tạo ra sản phẩm và bán lại sản phẩm cho doanh nghiệp. Mô hình này hình thành kể từ khi thực hiện Nghị định của chính phủ số 01/CP ngày 04 tháng 01 năm 1995 về "việc giao khoán đất sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản trong các doanh nghiệp nhà nước" và nay thực hiện theo Nghị định số 135/2005/NĐ-CP ngày 08/11/2005 về "giao khoán đất nông nghiệp, đất rừng sản xuất và đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản trong các nông trường quốc doanh, lâm trường quốc doanh". Trong mô hình này[2], giữa người sản xuất và người mua ký một hợp đồng gọi là "hợp đồng giao khoán". Trong đó quy định: Doanh nghiệp kinh doanh nông nghiệp giữ vai trò định hướng sản xuất, hướng dẫn kỹ thuật (khuyến nông), cung ứng dịch vụ đầu vào, đầu ra…, giám sát các hoạt động kinh doanh sản xuất trên vườn cây, đàn gia súc giao khoán.. Quan hệ giữa doanh nghiệp giao khoán và bên nhận khoán được thiết lập theo nguyên tắc thị trường, thuận mua, vừa bán [2, trang 187]. Đây chính là kiểu sản xuất theo hợp đồng với mô hình trang trại hạt nhân. Điển hình cho mô hình này là công ty cao su ĐăkLăk, công ty cà phê IASAO…mô hình này hình thành dựa trên cơ sở doanh nghiệp quy mô lớn nhưng chỉ làm dịch vụ đầu vào – đầu ra cho các trang trại gia đình tham gia ký hợp đồng với doanh nghiệp, họ thực hiện các quá trình sản xuất gắn với cây trồng, vật nuôi. Để hợp đồng đã ký được thực hiện nghiêm chỉnh thì doanh nghiệp phải làm đủ và đúng chức năng của mình đối với những hộ gia đình nhận khoán.

  1. Mô hình đa chủ thể

Mô hình đa chủ thể tham gia hợp đồng sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam thường gọi là mô hình "liên kết 4 nhà". Tham gia mô hình này bao gồm nhiều chủ thể khác nhau như: nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ nông dân. Đặc điểm của mô hình này là các chủ thể khác nhau sẽ có trách nhiệm và vai trò khác nhau. Trong đó, doanh nghiệp đóng vai trò hạt nhân gắn kết nhà khoa học với nông dân, gắn kết nhà tài chính với nông dân và tiêu thụ sản phẩm cho nông dân. Doanh nghiệp là người quyết định việc tiêu thụ sản phẩm của nông dân, nên họ biết được thị trường cần gì để đặt hàng cho nông dân sản xuất. Ngoài ra, doanh nghiệp cũng chính là người đặt hàng cho các nhà khoa học, ngân hàng, cung cấp các dịch vụ cho mình và cho nông dân. Vai trò của nhà nước là xử lý các mối quan hệ giữa các bên ký kết hợp đồng, quy hoạch vùng sản xuất, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, giải quyết những vấn đề khó khăn nảy sinh do thị trường, thiên tai gây ra, và vận động, giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức, kỹ năng cho các bên tham gia sản xuất theo hợp đồng. Mô hình đa chủ thể ở Việt Nam đã hình thành nhưng chưa phát triển bền vững. Những trường hợp thành công như HTX Bình Tây chỉ là số ít và khó nhân rộng. Nguyên nhân chưa thành công của mô hình đa chủ thể là do các doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ chưa đóng vai trò hạt nhân. Doanh nghiệp chưa lựa chọn và quy hoạch vùng nguyên liệu một cách kỹ càng và thị trường đầu ra chưa ổn định. Vai trò của nhà nước chưa được phát huy, chưa thúc đẩy được mối liên kết thị trường giữa doanh nghiệp và các HTX hoặc nhóm nông dân và chưa có biện pháp xử lý các trường hợp vi phạm hợp đồng giữa các bên tham gia.

  1. Mô hình phi chính thức

Mô hình phi chính thức xuất hiện ở Việt Nam từ nhiều năm qua và phát triển mạnh trong lĩnh vực sản xuất và tiêu thụ lúa gạo ở ĐBSCL vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Đây chính là hợp đồng miệng giữa nông dân với người mua gom (thương lái). Người mua đồng thời là người cung cấp vật tư phân bón nên họ thực hiện phương thức ứng trước vật tư phân bón cho nông dân và đến khi thu hoạch họ nhận lại sản phẩm. Ở ĐBSCL, người ta thường quy lúa và áp dụng theo tỷ lệ "1 giạ ăn 1,1 giạ". Giữa thương lái và nông dân hoàn toàn sử dụng "cơ chế lòng tin" [4] để ràng buộc nhau nên giữa người mua và nông dân ít xảy ra tình trạng vi phạm hợp đồng.

Mô hình này thường chỉ áp dụng trong cùng cộng đồng, sản xuất ở quy mô nhỏ. Mối quan hệ giữa nông dân và người mua là mối quan hệ thân tình, láng giềng rất chặt chẽ nên hợp đồng mua bán lúa gạo được đảm bảo. Tuy nhiên, khi mô hình này khó mở rộng phạm vi hoạt động vì những người thương lái thường gặp rủi ro lớn, không đảm bảo khả năng tái hoạt động.

  1. Mô hình trung gian

Đây là mô hình doanh nghiệp ký hợp đồng mua sản phẩm của nông dân thông qua các đầu mối trung gian như hợp tác xã, tổ hợp tác, nhóm nông dân hoặc người đại diện cho một số hộ nông dân. Đặc điểm của mô hình này là doanh nghiệp không ký kết hợp đồng trực tiếp với nông dân mà thay vào đó doanh nghiệp thuê các tổ chức trung gian thực hiện vai trò của mình. Mô hình này thể hiện rõ ở trường hợp Công ty lương thực Đồng Tháp ký. Công ty đã ký hợp đồng với Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp Bình Thành thực hiện mua lúa chất lượng cao. HTX nhận vật tư, giống, phân bón từ doanh nghiệp và phân giao cho nông dân; HTX chịu trách nhiệm hướng dẫn kỹ thuật canh tác cho xã viên, thu lại sản phẩm từ xã viên giao và cho Công ty. Công ty thanh toán tiền hoa hồng cho HTX 50 đ/kg lúa.

Qua khảo sát, những hợp tác xã làm ăn hiệu quả, có uy tín, thực hiện tốt vai trò của mình thì hợp đồng được thực hiện. Các hợp tác xã hoạt động yếu kém thường để lại nợ đọng lớn cho doanh nghiệp. Bảng 2 sau đây minh họa số nợ của các HTX khi thực hiện sản xuất theo hợp đồng với Công ty lương thực Tiền Giang trong năm 2007.

Bảng 2: Các HTX nợ vật tư đầu vào của Công ty Lương thực Tiền Giang

(Tính đến ngày 30/6/2007)

STT 

Đơn vị

Nợ phải trả công ty (đồng)

1 

HTX Quyết Tiến

56.203.000 

2 

HTX Hòa Thành 

137.591.140 

3 

HTX Tân Thịnh

114.237.300 

4 

HTX Tân Quý 

11.953.632 

5 

HTX Mỹ Hòa

25.280.000 

 

Tổng cộng

345.265.072 

Nguồn: Công ty Lương thực Tiền Giang (2007), Báo cáo các HTX nợ vật tư đầu tư đến ngày 30/6/2007.

Quan hệ hợp đồng giữa doanh nghiệp với nông dân theo mô hình trung gian sẽ góp phần giúp cho các doanh nghiệp giảm đầu mối ký hợp đồng, nhưng doanh nghiệp cũng sẽ gặp rủi ro lớn lớn khi đối tác trung gian (các HTX) không thực hiện tốt vai trò của mình.

  1. Đề xuất hướng hoàn thiện các mô hình sản xuất theo hợp đồng ở Việt Nam
  1. Hoàn thiện mô hình tập trung

Mô hình tập trung trong sản xuất nông nghiệp theo hợp đồng sẽ góp phần tạo nên vùng nguyên liệu lớn cho các doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ trong điều kiện doanh nghiệp không đủ khả năng tập trung đất đai, chuồng trại. Mô hình này chỉ có thể phát triển khi các doanh nghiệp có nhu cầu hình thành vùng nguyên liệu chất lượng cao, ổn định và nông dân có nhu cầu bán nông sản trước khi sản xuất. Để mô hình này phát triển ở Việt Nam, chúng ta cần có một số giải pháp hoàn thiện như sau:

  • Thứ nhất, các doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ cần phải đầu tư từ khâu thiết kế đến khâu thu hoạch để đảm bảo sản phẩm do nông dân sản xuất đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp. Trong khâu thiết kế, doanh nghiệp phải tham gia thiết kế đồng ruộng, chuồng trại; xây dựng quy trình sản xuất; xây dựng định mức kinh tế kỹ thuật và công khai hóa tất cả các tiêu chuẩn đầu vào và đầu ra cho nông dân. Trong khâu sản xuất, doanh nghiệp cần cử cán bộ theo dõi quá trình sản xuất của nông dân và trực tiếp xử lý những vấn đề nảy sinh trong khâu sản xuất, giúp cho người nông dân hạn chế tối đa rủi ro. Trong khâu thu hoạch, doanh nghiệp cần phải nhận lại toàn bộ sản phẩm và thanh toán cho nông dân.
  • Thứ hai, nông dân phải cung cấp cơ sở vật chất (đất đai, chuồng trại), toàn bộ công lao động; làm đúng theo quy trình sản xuất do doanh nghiệp đưa ra; thông báo những trường hợp bất thường trên cây trồng, vật nuôi cho doanh nghiệp để hai bên cùng phối hợp xử lý.
  • Thứ ba, giá cả trong hợp đồng là giá gia công. Giá này bao gồm toàn bộ tiền công lao động theo giá thị trường bình quân tại địa phương (căn cứ vào định mức kinh tế - kỹ thuật); tiền khấu hao tài sản được sử dụng vào sản xuất nông sản (chuồng trại) hoặc giá trị quyền sử dụng đất được tính theo giá thuê quyền sử dụng đất tại thời điểm ở địa phương.
  • Thứ tư, nhà nước cần có chính sách thúc đẩy hình thành những trang trại sản xuất hàng hóa quy mô lớn.
  • Thứ năm, nhà nước cần có chính sách bắt buộc các doanh nghiệp khi đưa sản phẩm ra thị trường phải đạt tiêu chuẩn chất lượng quy định và có khả năng truy xét nguồn gốc sản phẩm. Điều này sẽ buộc các doanh nghiệp phải hợp tác cùng nông dân để sản xuất nông sản. Đối với nông dân, nhà nước cần tiếp tục đầu tư đào tạo cho nông dân, chủ trang trại quy trình sản xuất nông nghiệp an toàn (GAP) và chuyển giao công nghệ sản xuất nông sản chất lượng cao cho nông dân miễn phí.
  1. Hoàn thiện mô hình trang trại hạt nhân

Mô hình trang trại hạt nhân ở Việt Nam được hình thành và phát triển trong quá trình thực hiện công tác khoán ở nông, lâm trường quốc doanh. Do đó việc hoàn thiện mô hình này sẽ gắn liền với việc hoàn thiện cơ chế khoán. Một số giải pháp hoàn thiện mô hình trang trại hạt nhân như sau:

  • Thứ nhất, đối với các doanh nghiệp đang thực hiện cơ chế giao khoán không có đầu tư cần phải chuyển sang hình thức giao khoán gắn liền với việc đầu tư trong suốt thời gian giao khoán. Điều này có nghĩa là trách nhiệm của doanh nghiệp phải là người đảm bảo đầy đủ các yếu tố đầu vào cho hộ nhận khoán và nhận lại toàn bộ sản phẩm do hộ nhận khoán sản xuất.
  • Thứ hai, hoàn thiện cơ chế phân phối lợi ích giữa bên giao khoán và bên nhận khoán. Việc phân phối và xây dựng phương thức phân phối lợi ích là một trong những nội dung quan trọng của hợp đồng sản xuất nông nghiệp theo mô hình trang trại hạt nhân. Việc phân phối lợi ích sẽ có hai phương án: (1) phân phối bằng giá trị theo cơ cấu giá thành dự toán và (2) phân phối bằng hiện vật theo tỷ lệ đầu tư mỗi bên. Theo phương án (1), các doanh nghiệp giao vườn cây, chuồng trại cho hộ nông dân. Nông dân được tự chủ tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh trên vườn cây của mình nhận khoán. Đồng thời, họ có trách nhiệm giao nộp đầy đủ các khoản về tài chính theo quy định cho Nhà nước, cho doanh nghiệp. Tuy nhiên phương án này chưa thể hiện rõ cơ chế cùng đầu tư, cùng chia sẻ rủi ro; và chưa phản ánh được lợi ích của các bên sẽ hưởng theo mức đóng góp về công sức tiền của, vật tư và công quản lý của họ. Theo phương án (2), trên cơ sở dự toán đầu tư trong toàn bộ chu kỳ, xác định được tổng mức đầu tư và mức đầu tư của mỗi bên. Việc đầu tư bằng hiện vật và doanh nghiệp nhận lại toàn bộ sản phẩm được giao khoán; phần sản phẩm vượt khoán thuộc quyền sở hữu của hộ nhận khoán. Phương án này thể hiện rõ ràng cơ chế cùng đầu tư, cùng chia sẻ lợi ích theo tỷ lệ vốn đầu tư, tôn trọng cơ chế thị trường, khắc phục được hạn chế của phương án (1). Do đó, các doanh nghiệp cần phải thực hiện việc phân phối lợi ích bằng hiện vật theo tỷ lệ đầu tư mỗi bên.
  1. Hoàn thiện mô hình đa chủ thể

Thực tiễn mô hình đa chủ thể ở Việt Nam rất đa dạng. Sự thành công của mô hình này phụ thuộc vào vai trò của doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ vì thị trường luôn là yếu tố quyết định đến mối quan hệ giữa các chủ thể và quyết định đến sản xuất nông nghiệp. Để hoàn thiện mô hình đa chủ thể tham gia vào hợp đồng sản xuất nông nghiệp, chúng ta cần phải có một số giải pháp sau:

  • Thứ nhất, xác định lại vai trò của Nhà nước. Nhà nước không phải là chủ thể tham gia vào quá trình liên kết giữa nông dân với doanh nghiệp; giữa nông dân, doanh nghiệp với ngân hàng; giữa nông dân, doanh nghiệp với nhà khoa học. Thay vào đó, nhà nước đóng vai trò thúc đẩy các quá trình liên kết.
  • Thứ hai, doanh nghiệp đóng vai trò hạt nhân, là chủ thể chính trong mối quan hệ hợp đồng với tất cả các bên tham gia liên kết sản xuất nông nghiệp. Trong trường hợp HTX là chủ thể chính thì đứng đằng sau HTX cũng phải là các doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ.
  • Thứ ba, nhà nước cần chuyển đổi các tổ chức khoa học - công nghệ và các cơ quan khuyến nông trở thành các đơn vị chuyên cung cấp dịch vụ khoa học - công nghệ cho nông dân và doanh nghiệp.
  • Thứ tư, phát triển các trung tâm tư vấn và hỗ trợ sản xuất theo hợp đồng. Các trung tâm này sẽ tham gia xây dựng mô hình liên kết giữa các chủ thể tham gia; đào tạo nâng cao nhận thức về sản xuất theo hợp đồng cho nông dân, doanh nghiệp; tư vấn hợp đồng cho nông dân và giải thích cho nông dân những yêu cầu, khó khăn, thuận lợi khi thực hiện sản xuất theo hợp đồng.
  1. Hoàn thiện mô hình phi chính thức

Trong điều kiện sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam còn manh mún, phân tán và trình độ của người nông dân còn thấp, mô hình phi chính thức sẽ còn tiếp tục phát triển. Để hoàn thiện mô hình này, chúng ta cần có một số giải pháp sau:

  • Thứ nhất, nhà nước cần phải giáo dục tuyên truyền cho các chủ thể tham gia mô hình nhận thức được các thỏa thuận không bằng văn bản cũng được xem như hợp đồng chính thức giữa người bán và người mua.
  • Thứ hai, cần thực hiện chế độ đăng ký bắt buộc đối với các hộ mua gom có tham gia mua nông sản của nông dân. Tuy nhiên, việc đăng ký này được thực hiện ở cấp xã, hoàn toàn miễn phí, thủ tục rất đơn giản và không thu bất kỳ khoản thuế hoặc đóng góp nào khác từ những người mua gom này.
  • Thứ ba, khuyến khích nông dân thực hiện thỏa thuận với các HTX thay vì với các người mua gom nhỏ lẻ.
  1. Hoàn thiện mô hình trung gian

Trong nền kinh tế thị trường, mối quan tâm chủ yếu của các doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ là thị trường tiêu thụ sản phẩm của họ. Do đó, họ không thể quan tâm đáp ứng các nhu cầu nhỏ lẻ của các trang trại/hộ nông dân. Điều này dẫn đến họ rất cần các tổ chức hợp tác của các chủ trang trại/hộ nông dân để thay mình đáp ứng nhu cầu dịch vụ đầu vào và đầu ra của sản xuất nông nghiệp. Các tổ chức hợp tác này là một trợ thủ hay một cầu nối giữa doanh nghiệp và trang trại. Mô hình trung gian hợp đồng sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam hiện nay chủ yếu thông qua các hợp tác xã, tổ hợp tác hoặc hội nông dân. Tuy nhiên các tổ chức này chưa đủ khả năng để đảm đương vai trò của mình. Chính vì vậy, để hoàn thiện mô hình trung gian trong hợp đồng nông nghiệp cần phải có một số giải pháp phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của hợp tác xã như sau:

  • Thứ nhất, việc thành lập HTX và tổ hợp tác phải dựa trên nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm, tránh chạy theo thành tích. HTX và tổ hợp tác phải thực sự là đại diện của nông dân, không phải là "cánh tay nối dài" của Nhà nước.
  • Thứ hai, phương thức vận động thành lập HTX và tổ hợp tác phải phù hợp với môi trường văn hóa xã hội của từng vùng và từng địa phương khác nhau. Sự thành công hay thất bại của việc phát triển HTX và tổ hợp tác trong thời gian phần lớn phụ thuộc vào phương thức tuyên truyền vận động của chính quyền địa phương. Để phát triển HTX và tổ hợp tác theo hướng bền vững, Cục kinh tế hợp tác và PTNT cần phối hợp với các Viện, Trường và các Chi Cục ở địa phương nghiên cứu xác định rõ những nhân tố văn hóa – xã hội đã dẫn đến sự hợp tác của nông dân. Từ đó, đề xuất những phương thức vận động và hỗ trợ phù hợp với từng địa phương.
  • Thứ ba, vận động người mua gom tham gia vào HTX. Người mua gom có kinh nghiệm thương mại và có quan hệ gần gũi với nông dân. Vì thế, tập họp họ vào trong một tổ chức và trở thành người trung gian giữa doanh nghiệp và nông dân là điều cần thiết trong quá trình sản xuất theo hợp đồng.
  • Thứ tư, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của HTX thông qua chính sách thúc đẩy tập trung đất đai và giáo dục – đào tạo. Kinh nghiệm trên thế giới, các HTX thành công phần lớn là HTX của những chủ trang trại quy mô lớn. Ở Việt Nam, nhiều mô hình thành công cũng nhờ vào chủ trang trại quy mô lớn. Ví dụ, HTX Cổ Đông (Xã Cổ Đông, Thành phố Sơn Tây, Tỉnh Hà Tây) là một trường hợp thành công nhờ xã viên HTX là những ông chủ trang trại chăn nuôi quy mô lớn nên. Chính vì vậy, Nhà nước cần có chính sách thúc đẩy tập trung đất đai, để từ đó hình thành nên các trang trại quy mô lớn. Nhà nước cần có chính sách tài trợ 100% kinh phí giáo dục – đào tạo từ tiểu học đến trung học nghề cho con em nông dân để hình thành một đội ngũ 'thanh nông tri điền". Đặc biệt cần phải đào tạo nghề nông cho con em nông dân để họ đủ khả năng quản lý các trang trại quy mô lớn, các HTX đích thực quy mô lớn.

    Tóm lại, việc gắn kết nông dân với các doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ là xu hướng tất yếu khách quan trong nền nông nghiệp hiện đại. Sản xuất hợp đồng trong tiêu thụ nông sản là một trong những hình thức góp phần gắn kết nông dân với doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ. Căn cứ vào cấu trúc tổ chức của sản xuất theo hợp đồng, người ta chia thành 5 mô hình. Mỗi mô hình có cấu trúc, cơ chế vận hành và điều kiện áp dụng khác nhau. Bài viết đã phân tích thực trạng các mô hình sản xuất theo hợp đồng ở Việt Nam và đề xuất hướng hoàn thiện các mô hình sản xuất theo hợp đồng ở Việt Nam.


     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Charles Eaton and Andrew W.Shepherd (2001), Contract farming – Partnerships for growth, FAO agricultural services bulletin 145.
  2. Vũ Trọng Khải và Nguyễn Thắng (2006), Đa dạng hóa chủ thể sở hữu doanh nghiệp nông nghiệp nhà nước, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
  3. Michael Sykuta and Joseph Parcell (2003), "Contract Structure and Design in Identity Preserved Soybean Production", Review of Agricultural Economics 25(2):332-350, (working paper version).
  4. Đặng Kim Sơn (2004), Ba cơ chế thị trường, nhà nước và cộng đồng - ứng dụng cho Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

Thứ Bảy, 9 tháng 8, 2008


Six Steps to Secure Global Supply Chains
Leveraging a risk management process to build an agile supply network and make a positive impact on the bottom line
Posted: July 28th, 2008 03:43 PM EDT
By Jim Le Tart

Supply chains are the lifeblood of retailers, distributors and manufacturers, yet threats abound all over the world. With globalization making supply chains longer and more complex, the risks keep increasing.

Terrorism has been the major focus (and cost) of supply chain security since 9/11, even though those threats to supply chains are remote. There are more immediate and disruptive threats more likely to impact supply chains — for instance, Hurricane Katrina, the toy recalls, the Minneapolis bridge collapse. In fact, a recent beef recall forced a nationally known meat company out of business.

Properly securing supply chains goes beyond mitigating risk; it also makes them more flexible and efficient. A 2006 study by Stanford University, the National Association of Manufacturers and IBM found that improvements in supply chain security led to:

  • 38 percent reduction in theft, loss, or pilferage
  • 12 percent increase in reported on-time delivery
  • 14 percent reduction in excess inventory
  • 49 percent reduction in cargo delays
  • 29 percent reduction in transit times

That's why companies should change the traditional thinking of supply chain security as a necessary evil and instead think of it in terms of the bottom line. While natural and man-made disasters cannot be eliminated, companies can plan for them and mitigate the risk.

The keys to securing global supply chains are visibility to products at suppliers, in-transit and throughout the distribution network, as well as the ability to immediately take action when disruptions occur. Here are six steps companies can take to secure their global supply chains:

Step 1. Identify the Threat — A company must first understand which threats it is most susceptible to, the likelihood of these disruptions affecting the supply chain and the potential impact to its business. There certainly is no lack of threats — terrorist attacks, natural disasters, pandemics, and recalls, as well as theft, counterfeiting and organized crime, just to name a few.

A company should first consider those threats most likely to occur in its supply network and those that would have the greatest impact on its business. An oil company with major refineries along the Gulf Coast would be most concerned with hurricanes and terrorist attacks. A food company would fear product contamination. A pharmaceutical company's main concern would be counterfeiting. Theft might be the biggest problem for retailers.

In order to prioritize potential threats, a matrix should be set up that has the likelihood of occurrence along one axis and severity of impact along the other. A company should start working with those threats scoring highest on both axes and work its way down. This process likely overlaps corporate risk assessment efforts, so leverage this information to ensure supply chain and corporate goals are aligned.

Step 2. Create a Disruption Map — Once key threats are identified and prioritized, it is important to evaluate where they most likely could occur. A "disruption map" overlays these threat locations onto the global supply and distribution network to see where a company is most vulnerable, highlighting the areas of greatest impact. Threats do not typically affect supply networks evenly, so steps taken to secure the supply chain will vary based on the threat and location.

The flip side to this analysis is to identify opportunities. If a company manufactures or sells products in high demand before or after a natural disaster, a surge strategy quickly stocks high-demand items in stores and nearby distribution centers, generating additional revenue as well as great PR. Planning alternate distribution routes is critical here.

Step 3. Design Security and Recovery Plans — Mitigating risk reduces the opportunity for threats to impact the supply chain, while carefully planning responses to threats a company cannot control minimizes the impact and aids quick recovery.

To prevent threats from significantly harming a business, companies must think in terms of redundancy. When examining the disruption map, companies should look for alternate ways to source, ship and distribute products so no link in the chain becomes a chokepoint — and a major liability — during a disruption.

Creating this redundancy does not necessarily mean added cost. In many cases, multiple suppliers, carriers and distribution centers are already part of the supply chain. Plan alternatives and get agreement from all parties ahead of time to be flexible and handle surges in volume. Adding additional suppliers or carriers may also spur competition, leading to lower prices, innovation and improved service.

Disruptions can affect the supply chain no matter how well a company plans because so many things are beyond its control. Recovery plans can get networks back to normal quickly and efficiently. They should define alternate supply sources, rerouting of supply and distribution lines, and movement of people, equipment and supplies into affected areas. Where disruption events can be forecast (i.e., hurricanes or blizzards), pre-staging equipment and supplies speeds their deployment into impacted areas.

Security and recovery plans should be written out in detail and agreed upon by all parties involved, both internally and externally. If a company doesn't do this, the chances of reacting effectively in a crisis are minimal.

Step 4. Leverage Technology — Technology is critical to securing global supply chains, providing visibility to products and assets across extended networks so companies can immediately take action.

The technology making this possible is the same technology making supply chains more agile and efficient. A number of different, yet integrated technologies are discussed in the accompanying story (see sidebar), showing how they can secure and improve supply chain operations. They include network-wide visibility, asset management, transportation and global trade management, demand forecasting, quality assurance and recall, and workforce management applications. By more effectively leveraging existing technology, operations become more agile, efficient and resilient, and better able to quickly recover from disruptions.

Step 5. Test, Test, Test — Periodically testing security and recovery plans is the only way to know whether they will actually work when a real disruption occurs. Many companies hold emergency response drills that simulate disasters and test the procedures for evacuating injured and other personnel, but few simulate the impact on supply chains.

A thorough testing program simulates disruptions and defines benchmarks for recovery processes. Separate test plans should be developed for each disruption scenario. It is important to accurately simulate each disruption's impact on inventory, physical plant, people and external parties.

There are two stages to testing. First, conduct well-communicated, controlled tests to walk the organization and third parties through the process. This identifies gaps in the plan and gets everyone comfortable with reacting to each scenario. Then conduct surprise tests to see how the plan — and people — hold up under pressure. Without surprise tests, a company doesn't know how well it will react when a real event occurs.

Depending on the extent of the test, a company may want to let customers know ahead of time just in case the test results create temporary glitches in delivery. Many customers will accept this small risk if they understand it means a company will be better able to serve them during a disruption. Others will not and the test plan will need to work around them.

Step 6. Reevaluate Risks — Supply chains are never static, and neither are the threats. It's critical to reevaluate potential disruption scenarios and supply chain operations regularly to ensure security and recovery plans reflect and support operations as they and the environment change over time.

During this reevaluation, a company may want to move down the list of potential disruptions to begin addressing the next tier of threats not covered earlier. Over subsequent loops through this six-step process, a company can leverage previous work to build ever-broader coverage of potential threats, further reducing risks. This creates further supply chain efficiencies, turning these efforts into a de facto continuous improvement program.

These six steps mitigate as much as possible the risks these threats pose to a supply chain. They also make the supply chain more agile and efficient, turning security from a necessary evil to a source of greater efficiencies positively affecting the bottom line.


Friday, August 08, 2008

 
ONE of the biggest brand names in food this summer doesn't carry a trademark. It's the word "local," which has entered the language as a powerful symbol of high quality and goodness.

 
Supermarkets are beginning to catch on that stocking corn and tomatoes grown nearby is not enough for customers. Now they are competing with farm stands and farmers' markets for a wider variety of fresh fruits and vegetables.

 
It's been a boon for local farmers. Ten years ago local produce was devalued at the wholesale Hunts Point market, said Lyle Wells, whose family has been farming on Long Island since 1660. "Now you can't get enough of the stuff."

 
Last month Wal-Mart announced that it plans to spend $400 million this year on locally grown produce, making it the largest player in that market.

 
"When Wal-Mart makes a major effort to reach out to local food systems, it's a major signal," said Gus Schumacher Jr., a consultant to the nonprofit Kellogg Foundation and a former Massachusetts commissioner of food and agriculture, who has worked to introduce farmers to restaurateurs and retailers since the 1980s.
Some independently owned, small-to-medium-size chains have been selling extensive lines of local seasonal fruits and vegetables for years, lines they are now expanding.

 
For the largest supermarket chains, though, where for decades produce has meant truckloads transported primarily from the West Coast, it's not always easy to switch to the farmer down the road.

 
But soaring transportation costs, not to mention the cachet customers attach to local food, have made it more attractive not just to supermarkets but to the agribusiness companies that supply them.

Growers like Dole and Nunes have contracted with farmers in the East to grow products like broccoli and leafy greens that they used to ship from the West Coast. Because of fuel costs, in some instances the cost of freight is more than the cost of the products.

 
"There is a huge shift," said Brian Nicholson, an owner of Red Jacket Orchards in Geneva, N.Y., who has also become a distributor for local farmers. "Wholesalers and retailers no longer say, I can get it cheaper from out West."

Some supermarket chains are allowing farmers' markets to take over part of their parking lots on certain days; others have put a farmers' market right inside the store.

 
But not all chains are there yet. "The whole commercial value of local is just now being appreciated by retail," said Bill Bishop, chairman of Willard Bishop, retail marketing consultants in Barrington, Ill. "It's a little bit behind the curve."

Hannaford Brothers, with 165 stores in New York, Vermont, New Hampshire, Maine and Massachusetts, has always sold local produce, but in the last two years its customers have pushed it to offer more. "There's been a 20 percent increase in sales" in the last year, said Michael Norton, a company spokesman. "Our research tells us consumers have about five or six reasons for wanting local: freshness and taste; keeping farmland in the community and having open spaces; a desire to be close to the food source and know where it comes from; support of local farmers and keeping money in the community. Embedded in all of this is concern about food safety. All this creates pretty powerful interest."

Will Wedge, director of produce for the chain, said that in company surveys, "82 percent of all customers told us loud and clear, locally grown produce tastes better. We have over 200 farmers selling over 50 different commodities, primarily from June through September."

 
Wegmans Food Markets, a 71-store chain based in New York with locations in Pennsylvania, New Jersey, Maryland and Virginia, has been buying from local farmers for the last 20 years. Today it has 800 farmers and has also experienced a 20 percent increase in sales of local produce over the past year. "There's a real emotional connection with local," said Dave Corsi, vice president for produce.

 
Mr. Corsi said that in order to buy from local farms, the chain had to stop acting like a chain. "We don't control these relationships centrally — the produce manager in each store does this directly," he said. "We only guide the stores."

 
The King Kullen Grocery Company, with 45 stores, all but one on Long Island, has become famous for its local produce, but it took a while. Tom Cullen, a vice president of the family-owned chain, said the company started to buy from local farms 12 years ago but it didn't work out because neither the quality nor the supply was consistent. "It's taken years to build trust with farmers," he said.

Some of the early attempts by retailers have shown that local does not always mean better.
In New York last week there was no discernible difference between blueberries from New Jersey and those from California at Food Emporium, both priced the same. Jersey tomatoes at Whole Foods were barely more flavorful than those from away. Packaged plums and apricots at both stores were hard as rocks, and the corn was not really fresh.

 
Mr. Bishop said he wasn't surprised. "Part of being new means not completely perfected. To a significant number of shoppers it seems logical that local has the connotation of being fresher and better tasting, but it isn't necessarily so."

 
Several companies and nonprofits are working to put farmers and supermarket executives together to iron out the kinks. A major focus of Karp Resources of Southold, N.Y., is how to re-regionalize the food system.

 
"Regional agriculture systems in the Northeast, mid-Atlantic and Southeast are really quite broken," said Karen Karp, the president of the company. "Small farmers can sell direct, but there is no infrastructure for middle-sized farmers to get stuff into supermarkets." There are no warehouses, limited trucking facilities and few distributors.
These growers are used to picking the zucchini and bringing it to a stall at a farmers' market. In order to sell to grocery stores, they have to learn pricing, invoicing and ordering systems as well as post-harvest handling techniques that include chilling, sorting and grading for size and color.

 
Big retailers have even more work to do. Used to making just a few phone calls to large produce distributors, often thousands of miles away, they do not have the setup or the personnel to deal with individual farmers who deliver to the back door.

 
Some of them are reluctant to do so and small farmers either have to join a co-op or find a distributor who can deliver to the supermarket's warehouse.

 
The chains also have to change their purchasing practices to make room for seasonal local produce instead of being locked into a year-round contract with one source in order to insure the lowest prices.

 
"It takes innovation and reallocation of resources," said Mr. Nicholson of Red Jacket Orchards. "It takes passion, and patience to get good collaboration. They have to be willing to spend more money because it's costlier buying from small growers."

 
Ms. Karp said: "If retailers want to deal with these farmers they can no longer push all the risk about food safety and quality assurance back on the individual farmers, who can't bear those costs."

 
Joe Casa, owner of Harbor View Foods, on Long Island, knows the difficulties firsthand. Mr. Casa's company helps growers and markets communicate, telling stores what is ripe in the fields and telling farmers what produce managers will buy. After he convinced some East End farmers to grow extra produce for the Great Atlantic & Pacific Tea Company, which owns Food Emporium, Pathmark and Waldbaum's, the process stalled. "It's hard to make things happen at A.&P., to get approval from top management," Mr. Casa said. "I told them I had stuck my neck out to get farmers to grow extra stuff for them, but I couldn't get an answer from them."

 
The impasse was resolved when the Long Island Farm Bureau called Senator Charles E. Schumer and told him that a number of farmers might be stuck with unsold produce. He agreed to intervene and soon enough the senator and the chain held a press conference to announce that Long Island produce would be available in some of its stores.

 
Despite the difficulties, many in the food industry believe the demand for local food is here to stay. "It's going to be a way of life," said Matt Seeley, vice president for marketing of the Nunes Company, which sells Foxy brand vegetables. "I don't think there is any turning back."

Thứ Bảy, 21 tháng 6, 2008

Khai giảng lớp Đào tạo Giám đốc doanh nghiệp


Ngày 20 tháng 6 năm 2008, tại Công ty Cổ phần Cao su Đồng Phú, Trường cán bộ quản lý nông nghiệp và PTNT II làm lễ khai giảng lớp Đào tạo Giám đốc doanh nghiệp khóa 21.

Thứ Ba, 10 tháng 6, 2008

Sàn giao dịch cà phê Buôn Ma Thuột

Sàn giao dịch" cà phê

Trần Ngọc Quyền (thực hiện)- Báo Thanh Niên ngày 08/06/2008


 

Sau hai năm chuẩn bị, Trung tâm Giao dịch (TTGD) cà phê Buôn Ma Thuột sẽ hoạt động vào đầu vụ cà phê 2008-2009 sắp tới. Ông Nguyễn Tuấn Hà (ảnh), Phó giám đốc Sở Công thương Đắk Lắk, Giám đốc TTGD cà phê Buôn Ma Thuột, nhận định đây là dấu mốc lịch sử trong hoạt động xuất khẩu cà phê của Đắk Lắk và của ngành cà phê Việt Nam.

* Lần đầu tiên, một TTGD về cà phê được hình thành ở Việt Nam. Trung tâm này sẽ tác động như thế nào đối với hoạt động mua bán, xuất khẩu cà phê?

- Cà phê là mặt hàng xuất khẩu chiến lược, kim ngạch hiện nay đã đạt hơn 1 tỉ USD mỗi năm. Tuy nhiên, dù là một cường quốc xuất khẩu cà phê nhưng cà phê Việt Nam lại thiếu một chỗ đứng ổn định trên thị trường thế giới. Các đơn vị xuất khẩu không dự báo chính xác nhu cầu của thị trường, chiều hướng biến động giá, cũng không chủ động được nguồn hàng, vốn thu mua, thường xảy ra tình trạng cạnh tranh, ép giá, chiếm dụng vốn lẫn nhau. Các cơ quan quản lý nhà nước thì không kiểm soát được thị trường. Ngoài ra, hiện nay đang nổi lên việc buôn bán cà phê qua mạng, giao dịch trên thị trường London (LIFFE), New York (NYBOT) thông qua những nhà môi giới mà người ta gọi là buôn bán "hàng giấy", dùng giao dịch kỳ hạn không phải như một công cụ phòng chống rủi ro. Điều này dẫn đến sự thiếu lành mạnh trong kinh doanh, khiến cho thị trường cà phê càng thêm phức tạp, khó quản lý, kiểm soát.


 

TTGD cà phê Buôn Ma Thuột ra đời nhằm thiết lập một thị trường giao dịch đấu giá tập trung, công khai cho các tổ chức sản xuất, kinh doanh, chế biến, tiêu thụ cà phê trong nước và quốc tế. Trên cơ sở đó tăng cường sự quản lý của Nhà nước, xây dựng thương hiệu cho cà phê VN, gắn kết sản xuất với thị trường, khắc phục những hạn chế trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu truyền thống.

* TTGD cà phê Buôn Ma Thuột sẽ hoạt động theo cơ chế nào?

- TTGD cà phê Buôn Ma Thuột là thị trường giao dịch mua bán giao ngay và mua bán giao sau theo kỳ hạn. Mua bán giao ngay là giao dịch mua bán thông thường theo thông lệ "tiền trao cháo múc", việc giao dịch, ký kết và thực hiện hợp đồng diễn ra một cách liên tục trong một khoảng thời gian ngắn, tính theo ngày. Còn đối với thị trường mua bán giao sau, hợp đồng mua bán được ký kết hôm nay, nhưng việc giao hàng và trả tiền được thực hiện sau đó theo các kỳ hạn.

TTGD cà phê Buôn Ma Thuột vừa là thị trường sơ cấp, vừa là thị trường thứ cấp. Ở thị trường sơ cấp, những giao dịch mua bán sản phẩm của người sản xuất lần đầu tiên được đưa vào giao dịch, hình thành hợp đồng nguyên thủy. Đối với thị trường thứ cấp (dành riêng cho giao dịch kỳ hạn), những giao dịch có thể mua bán lại quyền mua từ hợp đồng nguyên thủy (bên mua bán lại hợp đồng cho người khác). Nghĩa là TTGD cà phê Buôn Ma Thuột phục vụ cho cả người sản xuất và người kinh doanh, tiêu thụ.

* Để tham gia mua bán tại TTGD, các tổ chức, cá nhân phải đạt tiêu chuẩn gì? 

- Theo quy chế thành viên thì các tổ chức kinh doanh xuất nhập khẩu cà phê trong nước và nước ngoài, các nông trường, chủ trang trại, hộ gia đình, tổ chức chế biến, tiêu thụ cà phê là những chủ thể có thể tham gia mua bán cà phê tại TTGD. Nhưng chỉ có các thành viên của TTGD cà phê Buôn Ma Thuột mới được trực tiếp thực hiện giao dịch mua bán tại đây. Các tổ chức, cá nhân không thành viên có thể thực hiện giao dịch mua bán thông qua một tổ chức môi giới thành viên.

Các tổ chức tài chính tham gia thị trường với vai trò là trung gian môi giới giao dịch mua bán và tư vấn cho các tổ chức không thành viên để hưởng phí giao dịch, phí môi giới. TTGD cà phê Buôn Ma Thuột sẽ có 2 tổ chức ủy thác: ngân hàng (Techcombank) ủy thác thanh toán, thanh toán bù trừ các khoản vốn, ký quỹ theo kết quả giao dịch tại trung tâm; tổ chức kiểm định chất lượng sản phẩm (Cafécontrol), thực hiện việc xác định chất lượng sản phẩm trong quá trình chuyển giao khi thực hiện hợp đồng.

* Hoạt động của TTGD cà phê Buôn Ma Thuột sẽ đem lại lợi ích thế nào cho doanh nghiệp và người sản xuất?

- Việc chuẩn bị cho TTGD đi vào hoạt động đang trong giai đoạn nước rút. Hoạt động của TTGD cà phê chưa diễn ra nên chưa thể nói ngay là lời lãi cụ thể của các doanh nghiệp tham gia. Nhưng có thể thấy cái lợi cho các nhà kinh doanh khi thực hiện giao dịch tại đây, nhất là giao dịch sơ cấp, là tính thanh khoản cao (bởi hàng có sẵn trong kho), được cung cấp thông tin, tư vấn và các dịch vụ tiện ích, các thủ tục cho hoạt động kinh doanh xuất khẩu. Qua nhiều hội thảo, chúng tôi đã nhận được nhiều ý kiến ủng hộ của người nông dân. Nhất là khi họ biết rằng có thể ký gửi hàng hóa tại kho của TTGD, có thể dùng chứng thư hàng ký gửi vay vốn đầu tư của các tổ chức tín dụng trong hệ thống của TTGD với sự bảo đảm chắc chắn, không phải lo "xù nợ" như diễn ra ở nhiều nơi bên ngoài.

Chuẩn bị cho nghị quyết mới của Trung ương về "nông nghiệp – nông thôn – nông dân" Việt Nam


 

Nông nghiệp Việt Nam đóng vai trò to lớn trong phát triển kinh tế nông thôn, xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho dân cư nông thôn. Nông nghiệp đã trở thành ngành sản xuất hàng hoá quan trọng, tham gia ngày càng sâu sắc vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Nền nông nghiệp của Việt Nam đã và đang chuyển mạnh từ sản xuất theo mục tiêu số lượng sang hiệu quả và chất lượng, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm và bền vững. Phát triển nông nghiệp nông thôn luôn là vấn đề trọng tâm mà Đảng và Chính phủ quan tâm và đã được thể hiện bằng nhiều chủ trương, chính sách như Chỉ thị 100 của Ban Bí thư (khoá IV), Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (khoá VI) được triển khai cùng các chỉ thị, nghị quyết khác của các Đại hội và Hội nghị Trung ương của các khoá V, VI, VII đã đưa đến những thành tựu to lớn trong nông nghiệp, nông thôn nước ta

Đề án này tập trung vào giải quyết hài hoà các mối quan hệ: phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nông dân là nhiệm vụ mang tính chiến lược đặc biệt trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đây vừa là mục đích, vừa là giải pháp đảm bảo ổn định chính trị, xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thành công. Phát triển nông nghiệp nông thôn phải hài hoà và phù hợp với yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn phải gắn với xây dựng đời sống văn hoá và bảo vệ, cải tạo môi trường. Công nghiệp và dịch vụ phải tham gia tích cực thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, giải quyết việc làm và nâng cao đời sống của nông dân. Trung ương tới đây cần phải phân tích cho đúng tình hình để đề ra được nghị quyết với những chính sách mới nhằm thực hiện được đúng chủ trương hài hoà các mối quan hệ này.

 Phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nông dân là nhiệm vụ mang tính chiến lược đặc biệt trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Để chuẩn bị cho việc đánh giá 5 năm triển khai thực hiện nghị quyết TW 5, Trung ương tới đây sẽ thực hiện phân tích tình hình để đề ra được nghị quyết với những chính sách mới nhằm thực hiện hài hoà các mối quan hệ giữa "nông nghiệp – nông thôn – nông dân". Tuy nhiên, lâu nay hầu hết các hội thảo đều tập trung vào nông nghiệp và nông thôn, chưa chú ý đến "nông dân", chưa xem xét các khía cạnh liên quan đến xã hội, văn hoá nông thôn.

 Vì vậy, Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn đã phối hợp với Báo Tia sáng tổ chức hội thảo "Người dân nông thôn miền nam Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa: Vấn đề và Giải pháp".  Hội thảo được tổ chức vào ngày 09/06/2008 tại trường cán bộ quản lý nông nghiệp trung ương 2, qui tụ khoảng 50 các nhà khoa học và quản lý trong lĩnh vực nông nghiệp cũng như lĩnh vực khoa học xã hội có liên quan có uy tín và kinh nghiệm thực tiễn để trao đổi các vấn đề mà người nông dân cũng như của ngành nông nghiệp và nông thôn miền nam Việt Nam đang phải đối mặt, tìm ra những giải pháp có hiệu quả để giải quyết các trở ngại cho công cuộc phát triển nền nông nghiệp Việt Nam theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa, nâng cao đời sống tinh thần và vật chất cho nông dân cũng như phát triển nông thôn theo hướng bền vững, hài hòa với thiên nhiên.

 Hội thảo tập trung thảo luận và làm rõ một số vấn đề sau: Nguyên nhân chính gây cản trở cho phát triển nông nghiệp nông thôn, gây cản trở cho việc huy động lực lượng của nông dân? Đề xuất các giải pháp chính sách có liên quan như: chính sách thương mại thị trường, chính sách quản lý tài nguyên (Đất đai, lao động), chính sách tài chính, chính sách thu hút đầu tư phát triển doanh nghiệp ngành nghề nông thôn, chính sách phát triển cộng đồng thể chế nông thôn,chính sách cải cách hành chính và dịch vụ công, chính sách quy hoạch nông thôn, chính sách xóa đói giảm nghèo, phúc lợi xã hội, phòng chống rủi ro cho xã hội và các chính sách ưu tiên khác. Ngoài ra khuyến khích các ý tưởng đề xuất về mô hình nông thôn mới, nông nghiệp mới cho từng vùng.

 Với các chuyên đề nhìn thẳng vào thực trang và những vấn đề mà nông nghiệp – nông thôn  - nông dân miền nam Việt Nam đang đối mặt như: Những ảnh hưởng của kinh tế vĩ mô đến nông nghiệp nông dân Nam bộ, Vai trò của nông dân trong phát triển nông nghiệp nông thôn đồng bằng sông Cửu Long, Đời sống của người nông dân An Giang và Đồng bằng Sông Cửu Long, Tri thức, quản lý tri thức và phương pháp tham vấn cộng đồng trong việc thực hiện mục tiêu phát triển nông thôn Nam Bộ, Tham gia "4 nhà" trong phát triển nông thôn nông nghiệp nông dân đồng bằng sông Cửu Long, Phải tránh một kịch bản xấu về nông thôn và nông dân trong thời gian tới, Động lực cho người dân nông thôn Nam Bộ trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hoá … do các nhà khoa học và quản lý với nhiều góc nhìn khác nhau. Hội thảo đã cung cấp nhiều thông tin mang tính thực tiễn và đề xuất nhiều giải pháp để thúc đẩy quá trình đổi mới và công nghiệp hóa – hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn miền nam nói riêng cũng như của Việt Nam nói chung phù hợp với xu hướng phát triển của thế giới, xu hướng hội nhập WTO và phù hợp với sự mong đợi của người nông dân.

 Hội thảo là một trong chuỗi các cuộc hội thảo, tọa đàm do Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn phối hợp với nhiều cơ quan thông tin hoặc các tổ chức trong nước nhằm thu nhận ý kiến đóng góp ở nhiều khía cạnh khác nhau có liên quan đến  nông nghiệp – nông thôn – nông dân Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế thế giới của nước ta.


Nguồn: Từ Minh Thiện – Giám đốc Trung tâm tư vấn và hỗ trợ nông nghiệp Tp.HCM.

http://www.tuvannongnghiep.com.vn/

Thứ Bảy, 31 tháng 5, 2008

Nghiệm thu đề tài "Nghiên cứu cơ sở khoa học của việc hình thành và phát triển thể chế thị trường giao dịch nông sản"


Ngày 27/5/2008, Bộ Nông nghiệp và PTNT tổ chức nghiệm thu đề tài: "Nghiên cứu cơ sở khoa học của việc hình thành và phát triển thể chế thị trường giao dịch nông sản" do ThS. Bảo Trung chủ trì đề tài. Thành viên hội đồng bao gồm:

1. TS. Chu Tiến Quang - Viện Quản lý kinh tế Trung ương - Chủ tịch Hội đồng

2. PGS.TS. Nguyễn Đình Long - Viện chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn - Phó chủ tịch Hội đồng

3. TS. Trần Hữu Cường - Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội - Phản biện 1

4. KS. Phạm Thị Tước - Vụ Kế hoạch và quy hoạch - Bộ NN & PTNT - Phản biện 2

5. TS. Lê Bá Thăng - Trường cán bộ quản lý nông nghiệp và PTNT I - Ủy viên

6. KS. Nguyễn Văn Thành - Tổng giám đốc Tổng công ty Rau quả, nông sản - Ủy viên

7. ThS. Trần Minh Vĩnh - Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường - Bộ NN & PTNT - Thư ký

Đề tài đạt loại khá.

Thứ Bảy, 17 tháng 5, 2008


Khủng hoảng lương thực thế giới – Hình dạng thực sự của chủ nghĩa tư bản theo thị trường

 
WORLD FOOD CRISIS
The real face of market capitalism
BY NIDIA DIAZ —Special for Granma International
BEYOND the statistics, diagnoses and prognoses, the imminent food crisis that is about to hit the world, especially the poorest countries and the most vulnerable groups – as was to be expected – has exposed for all to see the real face of market capitalism, its unrelenting mechanisms, insatiable greed and operating methods subject to laws that invariably act against the least protected.
It is no longer a matter of apocalyptic warnings or slogans from a group of "rebels" attempting to disrupt the "sacred peace" of a world order established by the globalized and neoliberal capitalist system.
There are many reasons, certainly technically explicable, for humanity being pushed into such an abysm but , at the end of the day, every analysis leads to the conclusion that the inevitable laws of the capitalist market are causing the looming disaster.
International and regional agencies — the United Nations, the Food and Agriculture Organization (FAO), UNESCO, the Economic Commission for Latin American and the Caribbean (ECLAC) — have understood this to be the case, and have sounded the kind of alarm that in times past was only sounded by certain statespersons and researchers who have been alerting the world to this danger for decades, in a bipolar world where such claims and solid arguments served only to be described by the powerful as "communist threats."
Undoubtedly, certain factors have accelerated the crisis, such as the unstoppable increase in the price of oil and the consequent race to develop biofuels on an unprecedented scale, the trade war surrounding food, extremely high subsidies, the appearance of genetically modified seeds… All of this and much more are nothing more than part of the capitalist world's mechanisms.
Some commentators recall how deregulation and privatization in agriculture, together with the peak of globalization in the 1990s, led the World Trade Organization (WTO) to describe food reserves as a "market distortion," thus contributing to the domination of the market by transnational corporations, some of them with patent rights controlling planting methods and seed bioengineering.
The "opening up" of the agricultural sector by the WTO conceded financial domination over this extremely important industry — so closely tied to human survival — to transnational agribusinesses. As never before, food has become a for-profit enterprise, and the food and agricultural production process has become an even more lucrative and globalized business, in which land is to be exploited without any regulation whatsoever, until its resources are exhausted.
It is impossible to ignore that, according to figures from world food markets, a dozen key companies associated with 40 intermediate companies control the so-called "food chain,",with the most important link dominated by a handful of grain cartel transnationals: Cargill, Continental Grains (CGC), Archer Daniels Midland (ADM), Louis Dreyfus and Bunge & Born. Their domination is virtually complete in the grains market, from wheat to corn and oatmeal, including sorghum, barley and rye, to meat, milk products, oils and fats, fruit, vegetables, sugar and spices. Cargill, for example, exports 25% of all grains exported from the United States and is one of the most important businesses in the country with an $88 million income last year alone. Continental (CGC) specializes in cereals, poultry and beef, along with investments in securities, real estate and the purchase of business assets; ADM has focused on the biofuels business and almost half of its profits come from products subsidized by the U.S. government.
The dramatic reality, especially for the peoples of the Third World, is that the price of food has risen 45% in the last nine months, with the highest one-month increase in 20 years registered last December, according to FAO figures. The price of cereal grains increased by 41%, vegetable oils by 60% and dairy products head the list with an increase of 80%.
This trend appears to be accelerating, with the price of wheat this March reaching 130% of its cost at the same time last year.
In this context, Jacques Diouf, general director of the FAO, was particularly explicit during the group's last meeting in Brasilia, emphasizing that governments cannot put their confidence in market forces to counteract the skyrocketing cost of food and that clear political decision-making is needed to increase agricultural production.
Diouf attributed the price increases to "a group of factors;" among these he mentioned the role of speculators, who have been "looking for opportunities" in the raw materials and food markets.
As for Latin America and the Caribbean, the forecasts made by the United Nations Economic Commission for the region (ECLAC) couldn't be more terrifying. They predict an additional 15.7 million destitute people as a result of the price increases, without mentioning those who will pass into the category of poor. The Commission also states that there will be a worsening of the situation facing those living in extreme poverty before these increases.
Institutions that have shown no sensitivity to the needs of broad layers of the population, basically the poorest, have not been able to hide their alarm at predictions that the seriousness of the crisis may also have a "domino" effect on the capitalist system in its entirety.
This explains some of the statements recently made during the spring meeting of the International Monetary Fund and the World Bank which, on other occasions, have been less than credible. For example, they point to the cost of oil as a prime cause of the increases in food prices such as wheat and rice. The current president of the World Bank, U.S. Robert Zoellick went so far as to say: "While many (in the U.S.) are worrying about filling their gas tanks, many others around the world are struggling to fill their stomachs."
Confirming the expected failure to meet the UN Millennium Goals as a consequence of the world food crisis and price increases, IMF Director General Dominique Strauss-Khan described these latter as "a source of disequilibrium that has, in one blow, eliminated the progress made in the struggle against poverty."
What the IMF, the World Bank or any other institutional guardians of the world capitalist order cannot conceal, is that the food crisis - its causes and its consequences - have revealed, as have few other events, the very nature, the naked truth and the inequality of a predatory and exploitative system.

Thứ Năm, 1 tháng 5, 2008

TÓM TẮT ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN THỂ CHẾ GIAO DỊCH NÔNG SẢN Ở VIỆT NAM


 


 

Nghiên cứu này nhằm xây dựng cơ sở khoa học hình thành và phát triển thể chế giao dịch nông sản ở Việt Nam. Nghiên cứu thể chế giao dịch nông sản bao gồm phân tích, đánh giá cấu trúc tổ chức, cơ chế hoạt động và điều kiện vật chất của các hình thức giao dịch nông sản ở Việt Nam. Các hình thức giao dịch nông sản được nghiên cứu chia thành 3 nhóm chính: giao dịch giao ngay, giao sau và sản xuất theo hợp đồng.

Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính để xây dựng cơ sở khoa học hình thành và phát triển thể chế giao dịch nông sản. Thông qua nghiên cứu thực địa (Field research) và nghiên cứu so sánh lịch sử (Historical comparative research), đề tài mô phỏng thế giới thực các hình thức giao dịch nông sản về mặt cấu trúc, cơ chế tương tác giữa các chủ thể tham gia vào quá trình giao dịch trong điều kiện vật chất cụ thể có tính lịch sử. Đề tài sử dụng lý thuyết kinh tế, quản trị, luật học và lý thuyết hệ thống (System theory) để phân tích so sánh các tình huống thực tế trong thế giới động nhằm hệ thống hóa, phân loại, tổng quát hóa vấn đề tìm ra bản chất, đặc trưng của các hình thức giao dịch nông sản. Việc nghiên cứu các hình thức giao dịch nông sản được thực hiện thông qua phỏng vấn sâu nông dân, người mua gom, HTX, doanh nghiệp và một số tổ chức nhà nước.

Đề tài nghiên cứu các văn bản pháp lý để đánh giá những chính sách quản lý vĩ mô tác động đến hoạt động giao dịch nông sản.

Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu tình huống (case study) để nhận dạng và phân loại các hình thức giao dịch nông sản ở Việt Nam. Các tình huống chọn lựa mang tính chất phổ biến ở Việt Nam. Thông qua việc nghiên cứu tình huống, đề tài phân tích, đánh giá và đưa ra các vấn đề nảy sinh trong hoạt động giao dịch nông sản ở Việt Nam. Đây là cơ sở để hình thành và phát triển thể chế giao dịch nông sản.

Để hình thành và phát triển thể chế giao ngay, đề tài đã đề xuất cấu trúc, cơ chế và điều kiện vật chất, cùng với một số giải pháp: xây dựng hệ thống thông tin thị trường nông sản cả nước; phát triển thương mại điện tử; đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực; tổ chức hoạt động cho người mua gom trong hoạt động tiêu thụ nông sản; phát triển kết cấu hạ tầng; điều tiết cung cầu nông sản và tổ chức lưu thông hàng hóa.

Để hình thành và phát triển thể chế giao sau, đề tài đã đề xuất cấu trúc, cơ chế và điều kiện vật chất cho hợp đồng tiêu thụ sản phẩm và Sở giao dịch hàng hóa, cùng với một số giải pháp: hoàn thiện pháp luật liên quan đến giao dịch giao sau nông sản; xây dựng và thực hiện chương trình đào tạo cấp chứng chỉ hành nghề giao dịch hàng hóa.

Để hình thành và phát triển thể chế giao dịch sản xuất theo hợp đồng, đề tài đã đề xuất cấu trúc, cơ chế và điều kiện vật chất một số mô hình sản xuất theo hợp đồng và đề xuất một số giải pháp: sản xuất nông sản theo tiêu chuẩn chất lượng; xây dựng và hoàn thiện chính sách đất đai nhằm thúc đẩy tích tụ và tập trung đất đai cho sản xuất nông nghiệp; thành lập trung tâm xúc tiến sản xuất theo hợp đồng và giám sát thực thi hợp đồng thuộc Sở Nông nghiệp và PTNT; phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động tổ hợp tác, hợp tác xã, hiệp hội.

Đề tài cũng đề xuất một số kiến nghị đối với các Bộ, Ngành trung ương, UBND các tỉnh, thành phố và một số kiến nghị đối với doanh nghiệp để nhằm hoàn thiện thể chế giao dịch nông sản.

Từ khóa:

  • Tiếng Việt: giao dịch, thể chế, thị trường nông sản, giao dịch giao ngay, giao dịch triển hạn, giao dịch kỳ hạn, giao dịch quyền chọn, sản xuất theo hợp đồng, hợp đồng tiêu thụ, chợ đầu mối nông sản.

Tiếng Anh: transaction, institution, agricultural produce market, spot transaction, forward transaction, futures transaction, option transaction, contract farming, marketing contract, agricultural wholesale market.

Digital Marketing – Chìa khóa mở cửa kỷ nguyên tiếp thị hiện đại

  Trong thời đại số hóa, khi mọi tương tác, giao tiếp và quyết định mua hàng dần chuyển dịch lên môi trường trực tuyến, Digital Marketing ( ...