Thứ Sáu, 19 tháng 3, 2010

Lớp tập huấn nâng cao năng lực quản lý HTX


Ngày 15/3/2010, tại Chi cục Phát triển nông thôn tỉnh Ninh Thuận, Trường cán bộ quản lý nông nghiệp và PTNT II phối hợp với Chi cục PTNT tỉnh Ninh Thuận khai giảng lớp tập huấn nâng cao năng lực quản lý HTX cho ban quản lý các HTX tại tỉnh Ninh Thuận. Đến dự buổi khai giảng có ông Châu Kim Long - Phó Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Ninh Thuận và lãnh đạo Chi cục PTNT.
Khóa tập huấn kéo dài 5 ngày từ 15/3/2010 đến 19/3/2010. Nội dung bao gồm:
  • Hội nhập kinh tế quốc tế
  • Phát hiện cơ hội kinh doanh
  • Kỹ năng marketing
  • Tổ chức hoạt động dịch vụ HTX
  • Tâm lý và nghệ thuật lãnh đạo.


Các chuyên đề trên do TS. Bảo Trung và ThS. Nguyễn Thế Phong giảng viên khoa quản trị doanh nghiệp - Trường cán bộ quản lý nông nghiệp và PTNT đảm nhận.

Thứ Ba, 9 tháng 3, 2010

Chủ Nhật, 7 tháng 2, 2010

Ký gửi cà phê: rủi ro đeo bám nông dân

Hồng Văn  

Thứ Năm,  4/2/2010, 15:30 (GMT+7)


 

(TBKTSG Online) – Gần 100 hộ nông dân trồng cà phê ở thị xã Buôn Hồ, Dak Lak đang đứng ngồi không yên vì hàng trăm tấn cà phê mà họ ký gửi cho đại lý có nguy cơ mất trắng khi đại lý tuyên bố vỡ nợ.  

Điều nguy hiểm là trong tình hình cà phê rớt giá như hiện nay, nguy cơ vỡ nợ dây chuyền hay đại lý nhận gửi cà phê vì thua lỗ quá nặng có thể bỏ trốn như đã từng xảy ra trong vài năm trước.  

Gửi nhầm  

Theo thông tin từ một số công ty kinh doanh cà phê ở Dak Lak thì có khoảng 80 hộ nông dân trồng cà phê ở xã Bình Thuận, thị xã Buôn Hồ đã ký gửi cho đại lý cà phê Tám Loan chừng 190-200 tấn, tính theo thời giá hiện nay khoảng 5,5 tỉ đồng. Tuy nhiên, không chỉ ký gửi, các hộ nông dân ở đây còn cho đại lý cà phê này vay hơn 18 tỉ đồng theo cách mà họ thường làm là khi thu hoạch cà phê thì mang tới kho của đại lý để ký gửi, khi chốt giá bán có dư dả tiền bạc thì cho đại lý vay.  

Trên nguyên tắc, sau khi nông dân ký gửi cà phê vào kho của đại lý, đại lý không được kinh doanh lượng cà phê này để khi cần tiền hoặc thấy giá cà phê chấp nhận được, nông dân sẽ chốt giá bán cho đại lý bất kỳ lúc nào. Nhưng hơn một tuần nay, khi cần tiền để đầu tư tưới cà phê và tiêu, nông dân đến đại lý để rút tiền thì chỉ nhận được lời hứa suông và có dấu hiệu đại lý chạy nợ, không chịu trả tiền cho người bán. Hiện công an xã Bình Thuận đã nhận được 60 đơn thưa kiện của nông dân.  

Ký gửi cà phê là hình thức mua bán cà phê giữa nông dân và các đại lý cà phê ở xã, huyện các tỉnh Tây Nguyên, xuất hiện cách nay chục năm và được xem là phương thức mua bán hay hơn hẳn so với phương thức truyền thống "tiền trao cháo múc" khiến nông dân luôn ở thế yếu khi thu hoạch và bán cà phê.  

Ký gửi được xem là "hiện đại" hơn cách mua bán cũ vì các đại lý kinh doanh cà phê cũng lớn dần lên, xây dựng được kho chứa, có vốn lớn để khi cần thì mua một lúc cà phê của nhiều hộ nông dân. Còn nông dân, thay vì thu hoạch và bán ngay cho đại lý như trước với bất kỳ mức giá nào của ngày hôm đó, thì phương thức này cho phép nông dân đưa cà phê tới kho của đại lý, như hình thức tạm trữ và lựa chọn thời gian với giá bán tốt nhất.

Các công ty kinh doanh cà phê có mạng lưới đại lý chân rết ở các huyện, xã cho biết phần lớn nông dân trồng cà phê bài bản, có đầu tư lớn, diện tích nhiều, đều đã thực hiện phương thức ký gửi vì họ không cần kíp phải bán ngay cà phê sau khi thu hoạch như những nông dân nghèo khác.  

Chuyện đại lý cà phê vỡ nợ, phải bỏ trốn gây thiệt hại cho nông dân đã từng xảy ra. Năm 2008, hàng chục đại lý kinh doanh cà phê ở Dak Lak vỡ nợ đã bỏ trốn do giá cà phê dù vẫn đang ở mức cao, trên 30.000 đồng/kg song lên xuống thất thường khiến các đại lý nhận gửi cà phê bị lỗ nặng, gây thiệt hại cho nông dân hàng chục tỉ đồng, thậm chí cơ quan pháp luật phải vào cuộc.  

Điều đáng quan tâm là khi giá cà phê xuống thấp như hiện nay, đại lý vỡ nợ đã đành thì khi giá lên cao như năm 2008, họ cũng vỡ nợ, bởi hám lời, bán trước cà phê của nông dân ký gửi với giá thấp cho nhà xuất khẩu, tới khi giá lên, nông dân chốt giá bán, đại lý thua lỗ, vỡ nợ.

Trước đó nữa, vào năm 2006 do các đại lý kinh doanh cà phê thật nhưng tham gia chơi cà phê giấy (mua bán cà phê qua mạng với sàn giao dịch London) bị thua lỗ, cũng kéo theo vỡ nợ dây chuyền cho cà phê ký gửi của nông dân.  

Nhà nước ra tay  

"Các doanh nghiệp đang bắt đầu xúc tiến việc đăng ký tạm trữ cà phê nhằm được vay vốn ngân hàng với lãi suất ưu đãi. Tuy nhiên, việc đăng ký năm nay không nhộn nhịp và có vẻ như các nhà tạm trữ ít được lợi  trong đợt này bởi giá lúc này rất khó chịu, cũng không khác việc nông dân gửi kho là mấy. Chưa thấy các tác động tích cực do việc tạm trữ này mang lại". Đây là bình luận của ông Nguyễn Vỹ, nhà phân tích giá cà phê trên trang web www.giacaphe.com

Không phải bây giờ mà nhiều năm trước, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng Hiệp hội cà phê Việt Nam (Vicofa) từng có nhiều cuộc họp bàn khắc phục những rủi ro từ phương thức ký gửi cà phê cho đại lý của nông dân, bằng cách doanh nghiệp xuất khẩu nhận ký gửi kết hợp với tạm trữ khi giá cà phê xuống thấp.  

Thế nhưng, dường như các doanh nghiệp xuất khẩu hội viên của Vicofa không mấy mặn mà với việc nhận ký gửi, bởi không phải doanh nghiệp nào cũng có kho tàng, nhân lực hay mạng lưới thu mua cà phê xuống tới huyện xã.

"Làm sao chúng tôi nhận ký gửi trực tiếp của nông dân khi mà công ty có hệ thống đại lý, khi cần hàng chục container xuất khẩu thì gom vài đại lý là có ngay, còn gom cà phê lẻ mẻ của nông dân thì biết chừng nào mới đủ", một doanh nghiệp cà phê ở Buôn Ma Thuột nói.  

Cũng tương tự như xuất khẩu gạo, phần lớn các nhà xuất khẩu cà phê hiện nay chỉ là nhà thương mại đơn thuần, tìm khách hàng nhập khẩu, ký hợp đồng và đưa xe container tới đại lý cà phê "đóng hàng'; có nghĩa là các đại lý đảm nhận luôn cả khâu sơ chế, phân loại cà phê theo từng tiêu chuẩn riêng của nhà xuất khẩu.  

Trung tâm giao dịch cà phê Buôn Ma Thuột (BCEC) ra đời hơn 2 năm nay, trong đó có chức năng nhận cà phê ký gửi và xác nhận để nông dân ký gửi được vay vốn ngân hàng trong thời gian gửi kho. Tuy vậy, trong những tháng đầu niên vụ cà phê 2009-2010, hàng ngày nông dân, đại lý chỉ ký gửi vài chục tấn, chẳng thấm là bao so với hàng trăm ngàn tấn cà phê nhân ở Dak Lak.  

Một đại lý kinh doanh cà phê là thành viên của BCEC cho rằng trung tâm này có hệ thống kho lớn nhưng nông dân thu hoạch mỗi lần vài tấn cà phê ở các huyện, xã cách xa trung tâm hàng chục cây số phải thuê xe chở về trung tâm, làm phát sinh chi phí. Thế nên, nông dân gửi cà phê cho đại lý trong thôn, xã vẫn thuận tiện hơn.  

Do giá cà phê xuống thấp nên Chính phủ đã đồng ý cho các nhà xuất khẩu cà phê có kho tàng bắt đầu đăng ký tạm trữ 200.000 tấn cà phê nhân vào ngày mai, 5-2 bằng vay vốn có lãi suất ưu đãi, tức 20% sản lượng cà phê thu hoạch trong vụ. Tuy nhiên, chính những doanh nghiệp có khả năng tạm trữ (một hình thức ký gửi) lại công nhận rằng họ chỉ có khả năng tạm trữ cà phê bằng cách gom từ các đại lý lớn của mình, chứ không thể gom cà phê trực tiếp của nông dân.  

Vậy là nông dân tiếp tục ký gửi cà phê cho đại lý cùng với những nỗi lo...  

Thứ Bảy, 16 tháng 1, 2010

Thời Báo Kinh tế Sài Gòn
Số đầu năm dương lịch 2010

 
 

Khủng hoảng kinh tế và
khủng hoảng trong kinh tế (học)

Trần Hữu Dũng

 
 

Vào ngày 5 tháng 11, 2008, trong lúc viếng thăm Trường Kinh tế Luân Đôn (London School of Economics) nổi tiếng, nữ hoàng Anh Elizabeth II hỏi các nhà kinh tế hiện diện: "Tại sao không ai tiên đoán được cuộc khủng hoảng tín dụng hiện nay?" (Nghe đâu hoàng gia đã mất ít nhất 50 triệu bảng Anh vì cuộc khủng hoảng này).

Câu hỏi của nữ hoàng  ̶  và có lẽ cũng của nhiều người khác  ̶  đã làm các giáo sư hiện diện vô cùng bối rối  Thật vậy, trong các "bong bóng" bị vỡ vì cuộc khủng hoảng tài chính hai năm nay, thì cái bị vỡ một cách "ngoạn mục" nhất có lẽ là "uy tín" của các nhà kinh tế vĩ mô.  (Nên nói cho rõ: những chỉ trích này thường nhắm vào kinh tế học vĩ mô (macroeconomics) và kinh tế tài chính (financial economics), còn kinh tế vi mô (microeconomics) thì được xem như "vô can"!).  Điều này không chỉ được nhận thấy từ người ngoài ngành, nhưng gay gắt nhất lại chính từ các nhà kinh tế.  Paul Krugman (Nobel 2008) chẳng hạn, thẳng thắn cho rằng môn kinh tế học vĩ mô trong 30 năm qua "nhẹ lời nhất thì có thể nói là cực kỳ vô dụng, còn thật nặng lời thì phải nói là thật sự có hại!"

Sự "thất vọng" này thường nhắm vào ba điểm.  Thứ nhất, kinh tế học là một phần "nguyên nhân" của cuộc khủng hoảng tài chính hiện tại.  Thứ hai, đại đa số các nhà kinh tế, dù có trách nhiệm gây ra khủng hoảng hay không, đã không dự báo được nó.  Và thứ ba, các nhà kinh tế đã không có một kế sách hữu hiệu nào để "chữa trị" cuộc khủng hoảng này khi nó đã xảy ra.

Hư thực ra sao?

Trước hết, hãy nói về nguyên nhân cuộc khủng hoảng.  Tất nhiên, không ai phủ nhận vai trò then chốt của các ngân hàng khổng lồ, các công ty bảo hiểm, các quỹ đầu tư, các ngân hàng trung ương (nhất là Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang (Fed) của Mỹ thời kỳ Alan Greenspan làm chủ tịch), các chính khách (nhất là Henry Paulson, Bộ trưởng Ngân khố Mỹ thời Bush)... Cũng nên thêm vào danh sách "can phạm" này đông đảo những người có thu nhập thấp nhưng không lượng sức mình, liều lĩnh mua nhà (một phần cũng vì bị các công ty địa ốc dụ dỗ) để rồi không có tiền trả, gây khủng hoảng cho thị trường bất động sản, kéo theo phản ứng dây chuyền đến những thị trường khác...

Tất cả những điều trên đều là đúng, song nhiều người cho rằng thủ phạm sâu xa nhất không phải là vài cá nhân, một số công ty tài chính, thậm chí thể chế chính trị hay kinh tế, mà là một trường phái tư tưởng. Tư tưởng ấy là sự chấp nhận quá dễ dãi, thiếu phê phán, ý niệm "thị trường tự do" ảo huyền và không tưởng.  Chính ý niệm ấy, và những hệ luận "lô gích" (và chỉ là lô gích!) của nó, là nền móng trí thức, là một lăng kính để nhìn thực tế, mà "ngành kinh tế" (cụ thể ở các nước tư bản) đã chấp nhận gần suốt nửa thế kỷ qua, và được tôn sùng bởi những người làm chính sách như Alan Greenspan. Hệ tư tưởng ấy đã khống chế kinh tế học, trở nên lý thuyết "kinh tế học dòng chính" (mainstream economics) , đôi khi gọi là "trường phái Chicago" (vì Đại học Chicago là nơi tập trung đông đảo những nhà kinh tế hàng đầu có tư duy này, và mạnh mẽ truyền giảng nó).

Đối với những người cho rằng giới kinh tế đã "đóng góp" vào cuộc khủng hoảng này, thì thủ phạm thật là dễ thấy: đó là tư duy theo "trường phái Chicago" nói trên, và cụ thể là "giả thuyết thị trường hữu hiệu" (efficient market hypothesis) mà cái nôi là đại học này. 

 
 

Trường phái Chicago và
"giả thuyết thị trường hữu hiệu"

Hai người khai sanh "giả thuyết thị trưòng hữu hiệu" là Eugene Fama và Michael Jensen (đều là giáo sư kinh tế tài chính ở Đại học Chicago).  Giả thuyết này có ba "phiên bản".  Theo "phiên bản mạnh" (cực đoan) của nó thì tất cả những gì mà người đầu tư cần biết đều được phản ảnh trong giá của chứng khoán.  Đây là một hệ quả của thuyết "kỳ vọng họp lý" (rational expectations) khống chế kinh tế học vĩ mô trong gần 30 năm nay.  Một hệ luận của thuyết "kỳ vọng họp lý" là, về lâu về dài, mọi can thiệp của nhà nước vào thị trường đều vô hiệu, hoặc phản tác dụng, nếu không thật sự là có hại. Giá cả trên thị trường là phản ảnh "những giá trị căn bản".  Không thể nào xảy ra những cái gọi là "bong bóng tài sản".  (Song, nên để ý ngay chỗ tự mâu thuẫn của giả thuyết này: nếu mọi thông tin đều "gói trọn" trong giá, thì ai dại gì tìm (mua) thêm thông tin?). Theo phiên bản "yếu" của giả thuyết này thì không thể dựa vào giá của chứng khoán trong quá khứ để tiên đoán giá của chúng trong tương lai.  Còn "phiên bản trung dung" của giả thuyết này thì cho rằng giá chứng khoán là phản ảnh những thông tin "công cộng" (public information) tức là những thông tin mà mọi người đều có được mà không tốn kém gì cả.  Phiên bản này của giả thuyết không loại trừ khả năng có những thông tin tư riêng, hoặc thông tin nội bộ, mà giá chứng khoán không phản ánh (và do đó những người sở hữu những thông tin này (hoặc có khả năng đặc biệt để phân tích và khai thác những thông tin ấy) sẽ có lợi thế trên thị trường chứng khoán).

Nói ngắn gọn: "giả thuyết thị trường hữu hiệu" cho rằng "thị trường" là trung thực và không bao giờ sai.  Trong "thế giới" của những người tin giả thuyết này, những "bất ngờ" ngoài dự đoán như các loại "bong bóng" (địa ốc hoặc tín dụng) không thể xảy ra! Nhìn từ quan điểm toán học thì "giả thuyết thị trường hữu hiệu" quả là "đẹp" tuyệt vời: mọi sự kiện đều lô-gích, chính xác, ăn khớp với nhau, đâu vào đấy.

Quả thật, mô hình toán học của giả thuyết này là quá "đẹp": mỗi tác nhân kinh tế đều luôn luôn cư xử hợp lý (thậm chí lạnh lùng!) để "tối đa hoá" quyền lợi cuả mình, luôn luôn tính toán sáng suốt, với đầy đủ thông tin.  Chính vì cái "đẹp toán học" của mô hình này mà "giả thuyết thị trường hữu hiệu" đã quyến rũ biết bao nhiêu nhà kinh tế.  Và đó chính là điểm chính của những người quy trách nhiệm cho trường phái Chicago – nếu không là đa số các nhà kinh tế vĩ mô nói chung – cho khủng hoảng kinh tế hai năm nay.  Nói rõ ra, những nhà kinh tế này đã quá coi trọng "cái đẹp" mà không chú ý đến thực tế.  Họ mê những mô hình toán cực kỳ lô gích, thật trang nhã, bất chấp sự "hỗn độn", "bừa bãi" của thực tế. Họ lánh mắt, không nhìn đến những trường họp ứng xử nằm ngoài mô hình thanh lịch của họ, dù những trường hợp này đầy rẫy trên thực tế.

Ngoài những lỗi lầm chung chung của giả thuyết thị trường hữu hiệu do sự thiếu thực tế của nó, có hai sự kiện khác, có liên hệ đến giả thuyết này mà, nghĩ kỹ lại, có thể trực tiếp đóng góp vào khủng hoảng.  Một là, chính giả thuyết này đã là cơ sở mà một số nhà kinh tế dựa vào để cố vấn các nhà đầu tư, các ngân hàng phát hành những loại chứng khoán thứ cấp (derivatives).  Dùng những công thức toán học và xác suất cực kỳ phức tạp, đó là những "bó chứng khoán" được cho là "gói ghém" một cách tối hảo mức hiểm nguy và mức lợi nhuận.  (Tương truyền, chính Ben Bernanke, khi mới nhậm chức chủ tịch Fed của Mỹ, cũng không hiểu rõ loại chứng khoán này, phải mời chuyên viên đến giải thích cho ông ta.)  Hai là, những nhà kinh tế (cố vấn cho các ngân hàng, các quỹ đầu tư) này chỉ phân tích các thị trường tài chính (khác với thị trường lao động, chẳng hạn), và chỉ nghĩ đến cách đầu tư sao cho tối hảo cho thân chủ, chứ không quan tâm gì đến tác dụng của hành vi này đến toàn bộ nền kinh tế.  Đây là một nhược điểm mà, nhìn lại, quả là một nguyên do gần gũi của cuộc khủng hoảng tài chính: Khi ước tính xác suất "mất mát", các nhà kinh tế này gán xác suất bằng zêrô cho những sự cố cực kỳ ít khi xảy ra, tức là xem như những sự cố này không thể nào xảy ra.  Song,
rõ ràng là "rất ít khi xảy ra" khác với "không thể xảy ra", và hậu quả của lỗi lầm này càng "khủng khiếp" hơn khi mà tầm cỡ những mất mát khi việc khó-thể-xảy-ra xảy ra là gấp trăm, gấp ngàn, những mất mát thông thường.  Đó là điều đã xảy ra trong cuộc khủng hoảng này!

Nói như tỷ phú Warren Buffett: Từ nhận xét là thị trường "thường" hữu hiệu, các nhà kinh tế kết luận rằng thị trường "luôn luôn" hữu hiệu!  (Chính Buffett đã tạo nên cơ nghiệp không phải nhờ đầu tư ở những thị trường thường hiệu quả, nhưng vào những thị trường đôi khi không hiệu quả!)

 
 

Hai phản ứng

Làn sóng chống lại "kinh tế dòng chính" đến từ hai phía.  Từ một phía, nhiều nhà kinh tế trở lại với lý thuyết vĩ mô của Keynes để tìm giải pháp cho cuộc khủng hoảng hiện nay.  Từ một phía khác, một số nhà kinh tế khác, phác hoạ một trường phái kinh tế mới, thường được gọi là "kinh tế học ứng xử" (sẽ giải thích dưới đây).  Trường phái này có triển vọng đem vào "kinh tế dòng chính" một hình ảnh xác thực, súc tích hơn về tác phong con người, không như hình ảnh "khô khan", "lạnh lùng", cực kỳ đơn giản (dù rất "đẹp" theo nghĩa toán học!) của "trường phái Chicago". 

Trở về với Keynes?  Nhóm kinh tế gia thứ nhất thì cho rằng "giả thuyết thị trường hữu hiệu" là sai lầm vì nó đã quên bài học của Keynes: không ai có tất cả thông tin cần có... Hơn nữa, không thể dùng xác suất để gán cho những sự cố chưa từng xảy ra! Nói cách khác: không một mô hình toán nào có thể tiên đoán tương lai, dù chỉ bằng xác suất.

Những nhà kinh tế cổ xuý việc trở về với Keynes tất nhiên gồm những người đã thiên về Keynes từ trước, nhưng đáng kể hơn nữa là có cả những người (như Richard Posner, thuộc "trường phái Chicago") mà trước đây vẫn cho là Keynes đã lỗi thời.

Hoặc một lý thuyết kinh tế mới?  Trong khoảng hai mươi năm gần đây, một nhóm kinh tế gia đã đưa ra một lý thuyết mới gọi là "kinh tế học ứng xử" (behavioral economics). Theo họ, sự ứng xử của những tác nhân kinh tế không hoàn toàn thuần lý, mà có những "thiên lệch" do nhận thức chủ quan, và những xu hướng như "thói bầy đàn".  Thái độ này chúng ta thấy hàng ngày nhưng không thể giải thích trong mô hình "tự do chọn lựa" của kinh tế học tân cổ điển. Thí dụ một người nghiện thuốc lá, tuy chuộng tự do, có thể (ngược đời!) ủng hộ chính phủ cấm hút thuốc (để giúp anh ta bỏ thuốc).  Nói khác đi, theo "kinh tế học ứng xử", hành vi con người là rất phức tạp, không thể giản đơn "mô hình hoá" nó như những tác nhân tối đa hoá lợi nhuận hoặc dụng ích như trong mô hình kinh tế tân cổ điển mà trường phái Chicago, và thuyết "thị trường hữu hiệu" áp dụng không chút ngại ngùng. "Thị trường", theo kính tế học ứng xử, bị ảnh hưởng không ít của "cảm tính" thay vì hoàn toàn là những tính toán thuần lý. 

Thực ra, chủ đích của môn kinh tế học ứng xử không phải là nhằm giải thích cuộc khủng hoảng tài chính (hay một sự cố vĩ mô nào) nhưng là một đóng góp cho kinh tế vi mô. Chỉ tình cờ là, trong khi phản bác "kinh tế dòng chính" (như bị khống chế bởi "trường phái Chicago" như hiện nay), thuyết kinh tế đối xử đã như một trái mìn làm nổ tung nền móng của "giả thuyết thị trường hữu hiệu".

Tuy phái "ứng xử" và phái Keynes có nhiều điểm tương đồng, nhưng cũng có nhiều khác biệt.  Những người theo Keynes cho rằng chỉ trích của trường phái ứng xử (đối với "giả thuyết thị trường hữu hiệu") là không cần thiết: chỉ cần vạch rõ sự phi lý của gỉả định con người có đầy đủ thông tin là đủ "đánh gục" trường phái Chicago rồi!  Nhiều người phái Keynes cũng e ngại phái ứng xử ở chỗ phái này không nhìn nhận giả thuyết tối đa hoá dụng ích mà phái Keynes vẫn muốn giữ, không phải vì nó thực tế, nhưng là một phương pháp mô hình hoá hoạt động kinh tế một cách hữu hiệu. Còn những người phái ứng xử thì cho rằng phái Keynes rất giỏi phân tích những hụt hẫng trong thị trường lao động, nhưng không giải thích nỗi những "tì vết" trong thị trường tài chính, mà chính những tì vết này mới là lý do gần gũi của cuộc khủng hoảng hiện nay.  Do đó, theo phái ứng xử thì những người theo Keynes không có một biện pháp mới nào để chữa trị cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay ngoài những biện pháp "sao lục" lại những gì Keynes đã đề nghị cho cuộc Đại Suy Thoái năm 1929.

 
 

● Đâu là giải pháp?

Rõ ràng là cuộc khủng hoảng hiện tại đã làm trầm trọng thêm sự phân hoá giữa các nhà kinh tế.  Dù mất nhiều uy tín, "trường phái Chicago" vẫn còn rất năng động.  Tuy ít còn ai biện hộ cho "giả thuyết thị trường hữu hiệu", họ vẫn còn công kích các "biện pháp  Keynes" (mà chính quyền Obama đang sử dụng).  Robert Lucas (Nobel 1995, một trong những "sư tổ" ở Chicago) cho rằng chính sách kích cầu của Obama là một thứ "kinh tế học dỏm", John Cochrane (một nhà kinh tế Chicago trẻ hơn, và cũng là con rễ của Eugene Fama!) thì cho đó là "chuyện thần tiên".  Về phe Keynes thì có  Bradford DeLong (Đại học California) cho rằng chúng ta đang chứng kiến không gì khác hơn sự "sụp đổ trí thức" của trường phái Chicago.  Và nhiều người khác (như Paul Krugman, nói ở trên) thì còn nặng lời hơn nữa.  Phe Keynes, tất nhiên, cho rằng kích cầu là giải pháp không thể tránh, thậm chí họ còn cho rằng chính phủ Mỹ cần phải kích cầu nhiều hơn nữa!

Phe "kinh tế học ứng xử" thì không có nhiều ý kiến về kinh tế vĩ mô (và những người có ý kiến thì đều bênh phe Keynes).  Những đề nghị của họ có phần vi mô hơn (chẳng hạn như bảo hiểm y tế phải như thế nào, hay giảm thuế phải ra sao để phản ứng của dân chúng là "hữu hiệu" nhất).  Một ví dụ: theo họ, để thực hiện miễn thuế cho mỗi người 120 USD một năm (để kích cầu) chẳng hạn thì, thay vì gửi cho người ấy một cái séc 120 USD cho trọn năm, nên gởi 10 USD hàng tháng, vì kinh nghiệm cho thấy người nhận 120 USD sẽ để dành một ít, không tiêu dùng hết 120 USD.  Trái lại, nếu nhận 10 USD mỗi tháng thì anh ta có khuynh huớng tiêu hết 10 USD mỗi tháng, như vậy hiệu ứng kích cầu cho nền kinh tế sẽ lớn hơn!

Không như cuộc Đại Suy Thoái 1929 đã phát sinh học thuyết Keynes, ít có người nghĩ rằng cuộc khủng hoảng hiện tại sẽ sinh ra một học thuyết mới. Thuyết kinh tế ứng xử hẳn là sẽ phát triển hơn, nhưng nó đã có từ trước cuộc khủng hoảng này và chủ đích của nó không phải để giải thích những hiện tương kinh tế vĩ mô.

Trần Hữu Dũng
15-12-09

Thứ Bảy, 9 tháng 1, 2010

Hợp đồng tiêu thụ nông sản

Theo cách hiểu thông thường, hợp đồng là “sự thỏa thuận, giao ước giữa hai hay nhiều bên quy định các quyền lợi, nghĩa vụ của các bên tham gia” [21]. Trong lĩnh vực nông nghiệp, người nông dân có thể thỏa thuận với người “chủ đất” để thuê đất sản xuất; có thể thỏa thuận với người cung ứng vật tư để mua phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y, thức ăn chăn nuôi; hoặc thỏa thuận với người mua để bán nông sản. Các thỏa thuận này có thể được thiết lập thành văn bản, hoặc chỉ bằng lời nói. Do vậy, hợp đồng được thể hiện dưới 2 hình thức là bằng lời nói hoặc bằng văn bản. Trong Luật Thương mại năm 2005, điều 24 về hình thức hợp đồng mua bán hàng hóa quy định: “Hợp đồng mua bán hàng hóa được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể” [22]. Tuy nhiên, trong thực tiễn các hình thức hợp đồng bằng lời nói hoặc bằng hành vi rất khó khảo sát, nghiên cứu vì không có bằng chứng cụ thể. Do vậy, trong nghiên cứu này, tác giả chỉ nghiên cứu hình thức hợp đồng bằng văn bản. Điều này có nghĩa thuật ngữ “hợp đồng” trong đề tài này để chỉ những hợp đồng đã được xác lập bằng văn bản.

Trong kinh doanh nông sản, nông dân ký hợp đồng để mua các nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất, hoặc ký hợp đồng thuê các dịch vụ phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, hoặc ký hợp đồng tiêu thụ nông sản. Agricultural contracts là thuật ngữ tiếng Anh “liên quan đến những hợp đồng mà người nông dân sử dụng để chuyển giao nông sản từ trang trại cho người mua như nhà máy chế biến, người bán buôn, người bán lẻ hoặc trang trại khác” [7]. Do vậy, thuật ngữ “Agricultural contracts” trong đề tài này được hiểu là “hợp đồng tiêu thụ nông sản”. Hợp đồng tiêu thụ nông sản được hiểu là thỏa thuận giữa người nông dân và người chế biến để sản xuất và cung ứng các sản phẩm nông nghiệp với khối lượn, chất lượng và mức giá định trước. Chức năng chính của họp đồng là tạo cơ sở để xây dựng mối quan hệ hợp tác giữa nông dân và người chế biến. Hợp đồng là cơ sở cho hai bên cùng tham gia quyết định, chia sẻ rủi ro và lợi ích trong quá trình sản xuất nông nghiệp [24].

Căn cứ vào hoạt động giao dịch mà thông qua đó người nông dân có thể chuyển giao nông sản cho người mua, James MacDonald (2004) đưa ra 4 hình thức giao dịch như sau:

Thứ nhất, thị trường giao ngay (spot markets)

Đây là cách thức truyền thống mà người nông dân sử dụng để tiêu thụ sản phẩm. Thị trường giao ngay là thị trường mà ở đó người mua và người bán “thỏa thuận mua hay bán hàng hóa theo giá cả của thị trường tại thời điểm thỏa thuận và việc giao nhận hàng, thanh toán ngay lập tức hay tại một thời điểm nào đó trong tương lai” [23]. Thuật ngữ “giao ngay” chưa phản ánh rõ bản chất của giao dịch này vì “giao ngay” nhưng hàng hóa mà người bán giao cho người mua có thể sau vài ngày, vài tuần, thậm chí vài tháng. Bản chất của giao dịch này là quá trình thương lượng trực tiếp giữa người bán và người mua hoặc qua trung gian nhưng các bên tham gia giao dịch đều có thông tin tương đối đầy đủ về các nội dung liên quan đến hoạt động giao dịch như số lượng, chất lượng nông sản, giá cả. Điều này có nghĩa hai bên trực tiếp thương lượng căn cứ vào tình hình thực tế diễn ra ở hiện tại, người mua và người bán đều được xác định và sự tách biệt về thời gian, không gian của hoạt động giao dịch không lớn. Trong giao dịch giao ngay, giá cả được hình thành dựa trên cung cầu của thị trường hiện tại. Ở đây, người sản xuất nông sản kiểm soát và quyết định toàn bộ quá trình sản xuất như sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu như thế nào, cũng như họ phải tự bỏ vốn đầu tư cho hoạt động của mình. Sau khi thu hoạch thì người sản xuất nông sản phải tự tìm kiếm thị trường và thương lượng với người mua để bán nông sản do mình sản xuất ra. Trong trường hợp này nếu giá cả thị trường tại thời điểm giao dịch cao hơn chi phí mà người sản xuất nông sản bỏ ra để sản xuất thì họ có lời và ngược lại thì họ thua lỗ.

Thứ hai, hợp đồng sản xuất (production contracts)

Hợp đồng sản xuất quy định cụ thể trách nhiệm của người mua và nông dân trong việc cung cấp đầu vào và việc thực hành sản xuất, cũng như cơ chế thanh toán. Trong hợp đồng chăn nuôi, trách nhiệm của nông dân cung cấp công lao động, chuồng trại, điện nước và cơ sở vật chất khác trong trang trại. Người mua cung cấp con giống, thức ăn, thuốc thú y và dịch vụ vận chuyển gia cầm, gia súc đến và đi khỏi trang trại. Hợp đồng sản xuất thường quy định cụ thể vật tư đầu vào sử dụng, cách thức sản xuất và người mua cung cấp hướng dẫn kỹ thuật và thường xuyên theo dõi đồng ruộng. Người nông dân ít có quyền kiểm soát việc lựa chọn đầu vào sản xuất. Người nông dân được thanh toán đầu vào do nông dân cung cấp thêm và số lượng sản phẩm sản xuất. Người mua thường là người có quyền sở hữu nông sản trong suốt quá trình sản xuất. Hợp đồng này thường được ký ngay trước khi bắt đầu sản xuất.

Thứ ba, hợp đồng bao tiêu sản phẩm (Marketing contract).

Hợp đồng bao tiêu sản phẩm quy định cụ thể về giá, hoặc cơ chế giá và số lượng hàng hóa tiêu thụ dưới thỏa thuận được thiết lập trước khi thu hoạch. Cơ chế giá thường giới hạn độ rộng của dao động giá cả và hợp đồng thường quy định cụ thể số lượng sản phẩm và thời hạn giao hàng. Nông dân sở hữu hàng hóa trong quá trình sản xuất và quyết định các vấn đề sản xuất chủ yếu, quyết định của người mua có giới hạn [7].

Thứ tư, Liên kết dọc (Vertical integration).

Liên kết dọc là hình thức kết hợp giữa nông dân và người mua có cùng quyền sở hữu, như doanh nghiệp tự sản xuất nguyên liệu phục vụ chế biến. Sản phẩm không được chuyển giao thông qua hợp đồng hoặc trên thị trường giao ngay mà do quyết định nội bộ. Nông dân sản xuất trong trang trại được trả lương như người công nhân.

Bảng sau tóm tắt các hình thức giao dịch giữa người nông dân và người mua.

Bảng 11: Các hình thức trao đổi sản phẩm giữa nông dân và người mua

Hình thức

Ai kiểm soát quyết định sản xuất

Người sản xuất được trả như thế nào

Thị trường giao ngay

(Spot market)

Người sản xuất kiểm soát tài sản và quyết định sản xuất trong trang trại

Nông dân được thanh toán tiền giá được thương lượng tại thời điểm bán hàng ngay trước khi giao hàng

Hợp đồng bao tiêu

Nông dân kiểm soát tài sản và các quyết định sản xuất trong trang trại. Hợp đồng quy định cụ thể về kết quả đầu ra, số lượng và thời gian giao hàng

Nông dân nhận được giá trị sản lượng theo giá được thỏa thuận trước hoặc trong quá trình sản xuất

Hợp đồng sản xuất

(Production contracts)

Người mua thực hiện việc kiểm soát các quyết định sản xuất hoặc tài sản của trang trại. Hợp đồng quy định cụ thể loại sản phẩm, số lượng và thời gian giao hàng

Nông dân được trả công cho việc thực hiện sản xuất ra nông sản

Liên kết dọc

(Vertical integration)

Người mua kiểm soát toàn bộ tài sản và các quyết định sản xuất kể cả sản xuất nông nghiệp và chế biến

Nông dân được trả tiền công cho kỹ năng và thời gian làm việc

Nguồn: James MacDonald và cộng sự (2004), [7].

Tóm lại, để tiêu thụ nông sản hàng hóa nông dân có thể sử dụng một trong 4 hình thức hoặc sử dụng kết hợp 4 hình thức: thứ nhất, bán trực tiếp trên thị trường giao ngay; thứ hai, ký hợp sản xuất với người mua; thứ ba, ký hợp đồng bao tiêu với với người mua; và thứ tư, liên kết với người mua.

Thứ Ba, 8 tháng 12, 2009


Phương thức giao dịch bằng hợp đồng chốt giá sau (Price-to-be-fixed contract – PTBF contract)

Trong điều kiện người mua và người bán chưa biết được tình hình cung cầu của thị trường tại thời điểm giao dịch ra sao (ví dụ cà phê chưa tới mùa thu hoạch). Hai bên thỏa thuận về số lượng, chủng loại, tháng giao hàng (delivery month) và giá sẽ thỏa thuận sau bằng cách trừ lùi (minus) hoặc cộng thêm (plus) so với giá kỳ hạn (futures price). Nếu chất lượng hàng hóa thấp hơn tiêu chuẩn chất lượng quy định trong hợp đồng kỳ hạn sẽ sử dụng "trừ lùi" (minus); nếu tốt hơn sử dụng "cộng thêm" (plus). Có hai loại hợp đồng chốt giá (Fixing price) sau:
Thứ nhất, hợp đồng người bán nắm quyền chốt giá (PBTF – Seller's call contracts):
  • Đây là hợp đồng bằng văn bản cho phép người bán chốt giá bất cứ lúc nào trong khoảng thời gian trước ngày thông báo giao hàng đầu tiên của một hợp đồng kỳ hạn cụ thể;
  • Rủi ro giá cả do người mua chịu, nên người mua phải sử dụng hợp đồng kỳ hạn để bảo hộ rủi ro.
Thứ hai, hợp đồng người mua nắm quyền chốt giá (PBTF – Buyer's call contract)
  • Cho phép người mua chốt giá bất cứ thời điểm nào trong khoảng thời gian trước ngày thông báo giao hàng đầu tiên của một hợp đồng kỳ hạn cụ thể;
  • Rủi ro giá cả do người bán chịu, nên người bán phải sử dụng hợp đồng kỳ hạn để bảo hộ rủi ro.
Nguồn: UNCTAD/WTO

Thứ Tư, 25 tháng 11, 2009

10 đặc điểm của người Việt Nam


 

(Viện nghiên cứu xã hội Mỹ đánh giá)

1. Cần cù lao động, song có tâm lý hưởng thụ.

2. Thông minh sáng tạo, song thường có tính chất đối phó.

3. Khéo léo, song không duy trì đến cùng, ít quan tâm đến sự hoàn hảo.

4. Vừa thực tế vừa mơ mộng, song lại nhút nhát.

5. Ham học hỏi, có khả năng tiếp thụ nhanh, song ít khi học "từ đầu đến đuôi" nên kiến thức không hoàn hảo, mất cơ bản. Ngoài ra học tập không phải là mục tiêu tạo thân của mọi người Việt Nam (nhỏ học vì gia đình, lớn lên học vì sĩ diện và công ăn việc làm, ít khi vì chí khí và đam mê).

6. Vui vẻ cởi mở với mọi người, song không bền.

7. Tiết kiệm, song nhiều khi hoang phí vì nhiều việc vô bổ.

8. Có tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái, nhưng hầu như chỉ trong những cảnh khó khăn, bần hàn. Còn trong điều kiện sống tốt hơn, giàu có, thì tinh thần nầy rất ít xuất hiện.
9. Yêu hòa bình, nhẫn nhịn, song nhiều khi lại hiếu chiến, háu thắng vì những lý do tự ái lặt vặt, đánh mất đại cuộc.

10. Thích tụ tập, nhưng lại thiếu tính liên kết để tạo ra sức mạnh (cùng một việc, 1 người làm thì tốt, mà 3 người làm thì kém, và 7 người làm thì hỏng)

Thứ Tư, 2 tháng 9, 2009

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Số: 5380/QĐ-BGDĐT Hà Nội, ngày 20 tháng 8 năm 2009


QUYẾT ĐỊNH

Về việc thành lập Hội đồng chấm luận án tiến sĩ cấp Nhà nước


BỘ TRƯỞNG BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO


Căn cứ Nghị định 32/2008/NĐ-CP ngày 19 tháng 3 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Giáo dục và Đào tạo;

Căn cứ Quyết định số 224/TTg ngày 24 tháng 5 năm 1976 của Thủ tướng Chính phủ về đào tạo Trên đại học ở trong nước;

Căn cứ Quyết định số 468/TTg ngày 22 tháng 12 năm 1977 của Thủ tướng Chính phủ về việc ủy nhiệm cho Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo xét duyệt danh sách những thành viên của các Hội đồng luận án cho nghiên cứu sinh;

Xét đề nghị của Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học,


QUYẾT ĐỊNH

Điều 1. Thành lập Hội đồng chấm luận án tiến sĩ Kinh tế về đề tài: Phát triển thể chế giao dịch nông sản ở Việt Nam.

Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh

Mã số: 62 34 05 01

Của nghiên cứu sinh: Bảo Trung

Danh sách thành viên Hội đồng kèm theo quyết định này.


Điều 2. Ủy nhiệm cho ông Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh tổ chức bảo vệ luận án trên theo đúng Qui chế đào tạo sau đại học hiện hành.


Điều 3. Các ông (bà) Chánh Văn phòng, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học và các Vụ liên quan thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh và các thành viên có tên trong danh sách Hội đồng (ghi Điều 1) chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.

KT. BỘ TRƯỞNG

THỨ TRƯỞNG

(Đã ký)

Phạm Vũ Luận


DANH SÁCH HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN ÁN TIẾN SĨ CẤP NHÀ NƯỚC


Cho luận án của nghiên cứu sinh: Bảo Trung

Về đề tài: Phát triển thể chế giao dịch nông sản ở Việt Nam.

Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh

Mã số: 62 34 05 01

(Ban hành kèm theo Quyết định thành lập Hội đồng số 5380/QĐ-BGDĐT ngày 20 tháng 8 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dụch và Đào tạo)

TT

Họ và tên, Học hàm, học vị

Cơ quan công tác

Chức trách trong Hội đồng

1

PGS.TS. Lê Thanh Hà

Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hội đồng

2

GS.TS. Hoàng Thị Chỉnh

Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh

Phản biện 1

3

PGS.TS. Nguyễn Xuân Quế

Trường Đại học Marketing

Phản biện 2

4

PGS.TS. Nguyễn Đình Long

Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn

Phản biện 3

5

TS. Hồ Tiến Dũng

Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh

Ủy viên thư ký

6

TS. Đỗ Văn Xê

Trường Đại học Cần Thơ

Ủy viên Hội đồng

7

TS. Mai Văn Nam

Trường Đại học Cần Thơ

Ủy viên Hội đồng


Danh sách gồm 7 thành viên.

Thứ Sáu, 21 tháng 8, 2009

SỰ CẦN THIẾT TÁI CẤU TRÚC QUÁ TRÌNH KINH DOANH Ở CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

ThS. Bảo Trung

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế hiện nay, các doanh nghiệp muốn cạnh tranh để tồn tại và phát triển đòi hỏi phải có sự thay đổi cơ bản cách thức quản lý doanh nghiệp.

Ở các nước có nền kinh tế thị trường hoàn chỉnh, hầu hết doanh nghiệp đều do tư nhân thành lập nên mục tiêu hàng đầu của họ là thu được nhiều lợi nhuận. Để thu được nhiều lợi nhuận, họ luôn luôn tìm cách hợp lý hóa hoạt động sản xuất – kinh doanh của mình và từ đó phát triển nhiều phương thức quản lý mới phù hợp hơn và hiệu quả hơn. Từ xa xưa con người đã biết tổ chức, điều khiển và phối hợp người lao động theo nhóm để hoàn thành những công trình vĩ đại như Kim tự tháp, Vạn lý trường thành. Đây chính là hoạt động quản trị mà ngày nay chúng ta nói đến. Tuy nhiên những hoạt động này chỉ dựa trên kinh nghiệm, theo kiểu thuận tiện với kỹ thuật quản trị đơn giản. Trước cuộc cách mạng công nghiệp, Adam Smith đã quan sát và ghi nhận việc phân công trong sản xuất. Tuy nhiên, ông vẫn cho rằng nhà lãnh đạo doanh nghiệp là do trời sinh ra, không thể đào tạo được. Hoạt động quản trị lúc đó phụ thuộc vào tài năng nhà lãnh đạo doanh nghiệp. Giai đoạn này người ta xem là giai đoạn quản trị theo kiểu thuận tiện. Tuy nhiên đến cuối thế kỷ 19, công nghiệp đã phát triển mạnh và có nhiều vấn đề nảy sinh ngoài tầm kiểm soát của nhà quản trị. Điều này dẫn đến sự phát triển các kỹ thuật quản trị. Năm 1911, Frederick Winslow Taylor viết cuốn "Những nguyên tắc quản trị khoa học" mở đầu cho giai đoạn quản trị theo khoa học. Từ đó có nhiều trường phái quản trị xuất hiện trên thế giới và người ta chia thành những nhóm lớn như lý thuyết cổ điển (Frederick Winslow Taylor, Henry L. Gantt, Frank và Lilian Gilbreth), lý thuyết quản lý hành chính (Max Weber, Henry Fayol), lý thuyết tâm lý xã hội (Douglas McGregor, Elton Mayo, Abraham Maslow), lý thuyết định lượng (Herbert Simon) và lý thuyết Z của Nhật (William Ouchi). Đến những năm của thập niên 1950, người ta xem quản trị theo khoa học đã hoàn chỉnh. Những lý thuyết quản trị trong giai đoạn này đã lần lượt giảng dạy tại các trường Đại học và hình thành nên chuyên ngành quản trị kinh doanh. Hoạt động quản trị trước những năm 1950 chủ yếu tập trung vào hiệu quả sản xuất nhằm nâng cao năng suất thông qua việc phân chia công việc, xây dựng sơ đồ tổ chức, xây dựng bảng mô tả công việc cho công nhân,…nhưng sau đó nó tiếp tục lan qua nhiều hoạt động khác như tài chính, tiếp thị và hình thành nên hệ thống các kiến thức và kỹ năng quản trị doanh nghiệp toàn diện. Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, các nhà quân sự của Hoa Kỳ đã nhận thức được rằng việc quản lý theo phương pháp khoa học không làm cho chất lượng sản phẩm tăng lên mà còn gây lãng phí lớn, đặc biệt đối với những sản phẩm của quốc phòng như máy bay, vũ khí không đạt chất lượng còn gây ra nhiều nguy hiểm cho xã hội. Chính vì vậy họ xây dựng các quy trình làm việc để sản xuất sản phẩm có chất lượng hơn và họ đặt tên Mil-Std 9858 (có nghĩa là tiêu chuẩn của quân đội). Đến năm 1979, Anh cũng đưa ra tiêu chuẩn quản lý áp dụng cho ngành sản xuất của quân đội là BS 5750. Tuy nhiên, mãi đến năm 1987, thì phương pháp quản lý theo kiểu "làm đúng ngay từ đầu" hoặc "phòng ngừa" mới được áp dụng cho dân sự bằng sự ra đời của tiêu chuẩn ISO 9000:1987. Giai đoạn này người ta xem là giai đoạn quản lý tiên tiến. Sau thập niên 1990, tình hình thế giới có những biến đổi sâu sắc về mặt chính trị, kinh tế, xã hội làm cho sự cạnh tranh ngày càng diễn ra gay gắt buộc các doanh nghiệp phải cắt giảm chi phí để tồn tại. Vì thế các doanh nghiệp đã tiến hành tái lập lại quá trình kinh doanh và cuốn sách "Tái lập công ty" ra đời đã được hưởng ứng rộng rãi. Cuối thập niên 1990 và đầu thế kỷ 21, sự ra đời của hai cuốn sách bán chạy của Thomas Friedman là "Chiếc Lexus và cây Ô Liu" và "Thế giới phẳng" đã minh chứng cho giai đoạn toàn cầu hóa. Lúc này có 3 yêu cầu mới phát sinh là (1) khách hàng là người quyết định; (2) cạnh tranh quyết liệt hơn; (3) phải thay đổi. Do vậy các nhà quản trị đã chuyển từ tập trung vào bên trong quá trình sản xuất sang tập trung vào khách hàng bên ngoài và làm thế nào tạo ra giá trị tăng thêm cho khách hàng. Đây chính là quản trị doanh nghiệp hiện đại.

Quá trình phát triển quản lý doanh nghiệp ở Việt Nam cũng đang tuần tự diễn ra theo xu hướng trên. Nếu xu hướng này cứ tiếp diễn thì doanh nghiệp Việt Nam sẽ thất bại trong xu hướng cạnh tranh toàn cầu ngày nay. Kể từ khi Việt Nam chuyển từ nền kinh tế kế hoạch sang nền kinh tế thị trường, phương thức quản lý ở các doanh nghiệp Việt Nam đã có sự thay đổi đáng kể tuy nhiên chưa đạt được hiệu quả. Trước khi đổi mới hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp này có các những đặc điểm cơ bản như sau:

  • Nó phục vụ những mục tiêu xã hội và chính trị nhiều hơn là kinh doanh.
  • Làm theo kế hoạch từ trên giao xuống
  • Những người quản lý được bổ nhiệm theo sự tin tưởng nhiều hơn là tài năng.
  • Cơ cấu tổ chức phát triển theo sự thuận tiện.
  • Mô phỏng cách thức của cơ quan hành chính với quyền hành không được ủy quyền cho ai mà tập trung vào tay giám đốc.

Trong các đặc điểm trên thì việc xây dựng cơ cấu tổ chức ở các doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò quyết định đến phương thức quản lý của các doanh nghiệp này. Hầu hết giám đốc doanh nghiệp nhà nước theo cơ chế cũ được bổ nhiệm vì chuyên môn hơn là vì kiến thức, kỹ năng quản lý. Kết quả của quá trình này là giám đốc doanh nghiệp nông nghiệp là kỹ sư nông nghiệp; giám đốc nhà máy hóa chất là kỹ sư hóa; giám đốc công ty thương mại là kỹ sư hoặc cử nhân kinh tế thương nghiệp,… Từ khi lên làm giám đốc, ông tiến hành thành lập các bộ phận được gọi là cơ cấu tổ chức và cơ cấu tổ chức này được hình thành theo lối thuận tiện hơn là theo khoa học. Ở các doanh nghiệp Việt Nam chúng ta thấy có phòng tổ chức - hành chính bởi theo cách hiểu thông thường vấn đề tuyển dụng con người là do giám đốc quyết định nên phòng tổ chức chỉ còn làm công tác giấy tờ nên công tác hành chính phải thuộc phòng này. Một ví dụ khác là phòng kế hoạch – kinh doanh hoặc kế hoạch – vật tư cũng tương tự. Bắt đầu là phòng kế hoạch lo tính toán các kế hoạch sản lượng, rồi tính toán các nguyên vật liệu đầu vào phục vụ cho sản xuất nên để thuận tiện giao luôn khâu mua vật tư cho phòng này là tốt nhất. Sau đó giám đốc thấy phòng kế hoạch – vật tư thường đi ra bên ngoài để mua vật tư nên việc bán hàng tốt nhất nên giao phòng này vì mua hoặc bán cũng như nhau nên hình thành phòng kế hoạch – kinh doanh chịu trách nhiệm mua nguyên liệu đầu vào và bán sản phẩm đầu ra. Việc hình thành cơ cấu tổ chức này hoàn toàn theo kiểu thuận tiện và điều đó tất nhiên là cách quản lý của các doanh nghiệp này hoàn toàn theo kiểu thuận tiện.

Từ thập niên 1990, khách hàng nước ngoài yêu cầu các doanh nghiệp Việt Nam phải có ISO 9000 thì mới mua hàng và chính yêu cầu bức bách này các doanh nghiệp bắt đầu tìm hiểu và quản lý theo kiểu ISO 9000. Tuy nhiên mô hình quản lý này không phải giúp cho các doanh nghiệp thành công mà còn rất nhiều trở ngại do chuyển từ quản lý thuận tiện sang quản lý tiên tiến theo ISO 9000 đòi hỏi thay đổi nhận thức rất lớn. Rất nhiều doanh nghiệp thuê tư vấn xây dựng hàng loạt các quy trình, chất đầy tủ nhưng chỉ thực hiện khi cần kiểm tra đánh giá để lấy chứng nhận, sau đó thì lãng quên đi vì thiếu sự cam kết của các cấp lãnh đạo. Các lãnh đạo trong doanh nghiệp hầu hết được bổ nhiệm do thuận tiện nên họ cảm thấy ISO 9000 là cái gì đó rắc rối, phức tạp, từ ngữ khó hiểu làm cho họ kém đi tính sáng tạo theo kiểu kinh nghiệm, thuận tiện.

Trước sự thay đổi nhanh chóng của nền kinh tế thế giới cuối thập niên 1990 và đầu thế kỷ 21, nhiều giám đốc nhận thấy rằng rất cần đi học những kiến thức và kỹ năng mới để có thể thành công trong cạnh tranh và thậm chí họ cũng quan tâm đến quản lý hiện đại như "tái lập công ty". Sau khi tiếp cận với nhiều lý thuyết quản lý khác nhau, giám đốc các doanh nghiệp thấy cần thiết phải thay đổi quản lý, cần phải "tái lập công ty" nhưng chủ yếu là cần thay đổi "cơ cấu tổ chức". Tuy nhiên, khi bắt đầu áp dụng thì gặp quá nhiều trở ngại từ việc không biết bắt đầu tư đâu đến sự phản ứng của các cấp lãnh đạo doanh nghiệp nên cuối cùng phải từ bỏ và chuyển về quản lý theo kiểu thuận tiện.

Vậy doanh nghiệp Việt Nam sẽ đi về đâu trong tình huống này. Điều quan trọng là doanh nghiệp cần phải đánh giá lại toàn diện hoạt động của doanh nghiệp mình và cũng không thể chỉ dừng lại ở giai đoạn quản lý theo khoa học hoặc quản lý tiên tiến mà phải áp dụng mô hình quản lý hiện đại. Vì nếu cứ theo tuần tự thì doanh nghiệp Việt Nam không thể cạnh tranh được trong môi trường toàn cầu ngày nay. Tuy nhiên, cách tiếp cận là quản lý hiện đại, nhưng tùy theo trình độ nhận thức, kiến thức và kỹ năng con người mà chúng ta phối hợp tất cả các phương thức quản lý trên thế giới cho phù hợp.

Tóm lại, để thành công trên thương trường thì việc thay đổi phương cách quản lý là điều hết sức cần thiết vì các doanh nghiệp nhà nước hiện nay sẽ không đủ sức cạnh tranh và quan trọng hơn nữa là trong thời gian tới các doanh nghiệp nhà nước phải chuyển đổi sang thành công ty cổ phần thì việc thay đổi phương thức quản lý là điều tất yếu.

Chủ Nhật, 2 tháng 8, 2009

Free Trade in Agriculture


A Bad Idea Whose Time Is Done
Sophia Murphy


Sophia Murphy is a public policy analyst and a senior advisor on trade and global governance issues at the Institute for Agriculture and Trade Policy focusing on agricultural trade rules, resilient agricultural practices, and the right to food. She has published many reports and articles, including analysis of the effects of international trade rules on development and food security, the impact of corporate concentration in the global food system, and trade and poverty-related issues in the global biofuels sector.

The push for "free trade" in agriculture first took hold in the 1980s. It was part of a package of policies and investments that moved food and agriculture systems away from government control (too often centralized and unresponsive) toward private ownership. Ironically, private ownership has led to an even more centralized and tightly controlled food system. Local communities have been left more disempowered than they were before, and, increasingly, developing country national governments have found themselves disempowered, too. This essay considers what advocates of free trade promised developing countries, what actually happened, and what some alternatives might look like.

Free trade has been a powerful mantra over the last thirty years. The pure form of the concept is perhaps best captured by the image of a bazaar: a place where people come to sell and buy wares, often stall after stall selling the same things, where haggling is common and both buyer and seller must decide what price they can settle for, based on the alternatives they see around them. Early in the day the buyer gets the best choice. Later in the day, the quality falls but so do the prices. It is up to the consumer to decide her preference for quality over price and to the seller to decide what price is profitable and still generates sales.

Free trade would make the whole world a bazaar. Only, of course, it cannot. There is no global marketplace where the Argentine and Brazilian and U.S. farmers can bring their soybeans to sell to the highest bidder. The reality for those farmers is that they must sell to the elevator near their farm. There might be a choice of two firms but there will rarely be more than that. Their crops will face quality controls, sanitary standards (protecting human, animal, and plant health), and political whim. For subsistence farmers the world over, their choices are even more constrained. Poor roads, poor storage, inequitable land distribution, poor law-enforcement (and often bad laws), grossly unequal market power, and weak local and national institutions: all shape trade in multiple ways, none of them "free." A mass of regulations and political struggles, both domestic and multilateral, stand between the free trade ideal and the real world.

The Promise of Free Trade

In 1996, the world's governments met in Rome at the headquarters of the United Nations Food and Agriculture Organization (FAO) for the World Food Summit. At that summit, industrialized countries led a push to link food security to trade. All the member states joined the final declaration, which included this statement: "We agree that trade is a key element in achieving food security. We agree to pursue food trade and overall trade policies that will encourage our producers and consumers to utilize available resources in an economically sound and sustainable manner."1

The World Food Summit declaration was a sign of the times; the 1990s proved a watershed in the history of food, agriculture, and trade. Historically, agriculture had been relatively isolated from trade negotiations, although commodity agreements were a feature of the 1970s and 1980s (and some dated back to the 1950s) and agriculture had been included in some projects, such as the Generalized System of Preferences, which allowed developing countries duty-free or low-tariff entry to a number of developed country markets. Nonetheless, both the United States and the then-European Economic Community (precursor to today's European Union) specifically exempted agriculture from the disciplines of the General Agreement on Tariffs and Trade, which they had signed in 1947.

Agriculture's isolation from the trade system ended with the Uruguay Round of trade negotiations, launched at Punta del Este, Uruguay in 1986. Agriculture complicated and stalled the negotiations at every stage of the tortuous process, until the final meeting in Marrakech, Morocco, in 1994. There, governments signed a series of agreements, including the Agreement on Agriculture and the Agreement Establishing the World Trade Organization (WTO). The Agreement on Agriculture was the first multilateral agreement to create binding rules on agricultural trade.

The argument that tied food security to unfettered trade went something like this: liberalize world agricultural markets by ending subsidies to inefficient producers, tear down tariff walls, and end the practice of holding government-controlled food stocks. World market supplies will then move to where need is greatest. In turn, world prices for agricultural commodities will rise, which will be good for the farmers who are profitable in the deregulated markets. At the same time, consumers will pay less, benefiting from the efficiencies created by sharper competition. Environmental efficiencies are gained by concentrating production of particular crops in countries that have the greatest "comparative advantage," and private companies are able to manage the business of getting food from where it is grown to where it is needed, cutting significant costs out of government budgets in those countries where the state used to play all or some of this role. Even the apparent losers—those farmers unable to compete on the supposedly level playing field of the world market—would win in the end, because wider economic development was said to depend on releasing labor from agriculture for other sectors, so the displaced farmers and farm laborers would hypothetically find work in cities or non-farm rural activities instead.

The Uruguay Round was meant to help make the vision of free trade come true. Advocates declared the agreement would provide a way to control industrialized country spending on agriculture—especially the United States, the European Union, and, to a lesser extent, Japan—and to allow developing countries to assume their comparative advantage in the global market place as purveyors of cheap agricultural commodities.

The Reality Of Free Trade

Things did not go as planned. There were serious problems with the Agreement on Agriculture (AoA). First, there was a gap between rhetoric and reality. Virtually all commentators now admit (as some critics said was likely long before the agreements were signed) that the rules did little to contain developed countries' spending on agricultural programs. These programs subsidize many farmers and agribusinesses, both directly and indirectly, and thereby distort global markets. Nor did the rules change much the prevailing level of tariffs on agricultural products, though there were some exceptions—in both directions. The conversion of non-tariff barriers to tariffs created some extraordinarily high new tariffs, for instance on dairy imports to some developed countries. The optimistic promises of enormous gains made by the World Bank, Organisation for Economic Cooperation and Development (OECD), and others were rapidly and dramatically scaled back after the agreement was signed, as the limited nature of the commitments began to be understood. Before the Uruguay Round was completed, a joint World Bank and OECD paper promised gains of $250 billion if the governments signed up; by early 1995, the World Bank was promising only about forty to sixty billion dollars. It turned out, for instance, that the United States had only committed to cut its domestic spending on agriculture over five years to a level it had already reached in 1995, the first year the agreement went into effect. The gap between rhetoric and reality was enormous.

Second, there were the implementation problems. Too few developing country members had fully understood what they were agreeing to. Many seemed to think they would largely be bystanders, with somewhat longer timeframes and gentler final obligations under the terms of the agreement. Many relied on the assumption that they had little trade-distorting behavior to correct.2 But the World Bank, the OECD, and others had completely missed—or, more likely, chose to ignore—the implications for developing countries as importers. When, during the Uruguay Round, Jamaica, supported by a number of NGOs, tried to raise the problems it anticipated as a net importer of food, those concerns were effectively dismissed. In Marrakesh, at the final signing of the WTO documents, governments added the Marrakesh Decision on Least Developed Countries (LDCs) and Net-Food Importing Developing Countries (NFIDCs). It was to have provided funding for a list of developing countries if food import bills rose too high, too fast. Yet when food prices in 1995 and 1996 spiked (in part because poor maize harvests in China created huge and unusual demand in world markets), resulting in a 40 percent rise in the food import bills of LDCs and NFIDCs, the decision was not implemented.3 The IMF claimed that the trade agreements were too new to have been the cause of the problem. The developed countries agreed and washed their hands of the problem.

Implementation was also disappointing because many developing country agricultural exports were already relatively undistorted by industrialized country policies. The industrialized countries have no domestic production to protect in tea, coffee, cocoa, or bananas, and they want these commodities for their food processing industries. Many of the products were already traded openly, although some were governed by preferential agreements that favored particular trade partners (the European Union had a number of these relationships with former colonies). Preferential agreements were grandfathered into the AoA and overall there was not much the AoA could deliver for these products, though non-favored tropical commodity exporters continue to fight to get the preferences removed.

There are exceptions, such as sugar and cotton, where both the market distortions—because of subsidized production in both the United States and the European Union—and the volume of exports from the Global South are high. Yet these are precisely the products that industrialized countries protected directly from liberalization, even as they have accepted changes in the policies governing crops that are relatively more competitive. So market liberalization, from a developing country perspective, was the wrong way around: developing countries got little new market access for their exports. In some cases, they even lost all or part of the preferential access to developed country markets they had traditionally enjoyed. Yet, developing countries were required to accept considerably greater quantities of imports, which created a vicious cycle for many, as imports depressed local prices and incentives for local production, further exacerbating the growing food deficit, which then necessitated higher imports.

Prices also failed to respond as predicted. After the first two years of relatively high commodity prices in 1995 to 1996, commodity prices began to decline. According to the FAO, the combined price index of all commodities fell by 53 percent in real terms between 1997 and 2003.4 Low prices meant cheaper imports (competing with local food production) and also poor export revenue earnings, together with low incentives to invest in improving agricultural productivity. When prices started to climb (first in 2005, and then, explosively, in mid-2007), supply was slow to respond. Several decades of neglect and letting the markets take care of business had done little to address the long-standing and often worsening situation of staple food production in developing countries.

A different kind of implementation problem had to do with the kind of policy reforms the AoA encouraged in both the United States and the European Union. Starting just before the Uruguay Round was completed, with the McSharry reforms to the Common Agricultural Policy (CAP) in 1992, and continuing through the 1996 Farm Bill in the United States and the further CAP reforms agreed in 2003, public policy in these countries moved away from some basic tenets of twentieth-century agricultural policy. Rather than trying to manage prices in the market, the new vogue is to provide income support to (some) farmers and to let the markets work with very little regulation. In the United States, although the government still has floor prices for most of the crops it has traditionally supported (some eight in total), the floor is set below current market prices (and the average farmer's cost of production). The European Union, too, with all of the differences among its members, has moved toward income support rather than market intervention.

Linked to these changes was an end to the policy of maintaining government owned agricultural commodity reserves. The United States, for instance, had operated a decentralized program, under which farmers could choose to be paid storage costs for keeping a certain amount of production on-farm. This program had allowed for greater price stability and higher overall farm gate prices by allowing good harvests to be saved against bad years. This program was abolished in 1996.

These changes in agricultural policy in the United States and Europe reflect the interests that lay behind the Agreement on Agriculture. Dan Amstutz, a former Cargill executive who was then working with the U.S. Trade Representative's office, drafted the first version of the AoA. Grain traders and food processing companies in both the United States and Europe saw the potential of multilateral rules to free trade in agriculture as a way to lower commodity prices and to facilitate their move into increasingly consolidated businesses. For all their failings, the U.S. and EU farm systems had created floor prices that counteracted the market power of commodity traders. The AoA helped usher in changes that made taxpayers responsible for supporting farm income, while allowing commodity prices to drop (and rise) as the still heavily distorted markets dictated. The result, particularly in the years of low commodity prices from 1997 to 2003, was a burgeoning cost to taxpayers for farm programs. The United States spent less on agricultural support payments at the start of the AoA's five-year implementation period in 1995 than it did at the end, in 2000.5

The AoA also affected agricultural policies in developing countries. The World Bank and IMF structural adjustment programs, reinforced by the underlying pressure from the WTO rules, pushed developing countries to eliminate their public food stocks, too. Managing public food stocks is undeniably expensive but their abolition has not had happy consequences. Markets grew less transparent as the largest holders of grain became private trading companies. The fact that commodity markets were for the most part dominated by a tiny oligopoly of firms made it difficult for anyone outside the companies to be sure the market was working correctly. With the decrease in publicly held food reserves in developed countries, food sales at subsidized prices to developing countries decreased. In 1998, the FAO estimated that the reduction in public stockholding resulted in an average 20 percent price increase for net food importing developing countries. Indeed, total food import bills for LDCs and low-income food deficit countries (LIFDCs) were expected to climb between 37 and 40 percent in 2008 over 2007, having already risen 30 percent (for LDCs) and 37 percent (for LIFDCs) between 2006 and 2007. The trend suggested food import bills for 2008 would be four times what they cost in 2000. Food import costs for developed countries have not risen at anything like this rate.6

The IMF, the World Bank, bilateral funding agencies, and some NGOs, too, promoted AoA-style agricultural trade policies, alongside their push to lessen government involvement in regulating food production, storage, and distribution. This led to decreased support for farmers, as well as the elimination of tariffs on imported food that protected local agriculture. The documentary movie Life and Debt provides a vivid picture of the destruction of Jamaica's agriculture under IMF mandated policies, with cheaper imported foods from the United States overwhelming local producers.

Implementation of WTO policies caused many problems, in part because developed countries were dishonest in their promises to reform, and the policy changes that actually were put in place reinforced the hold of transnational agribusiness over global food supply and distribution. Many countries did not have time to fully digest what they were signing and did not understand the potential consequences.

A third set of problems with the AoA had to do with trade distortions that the AoA passed over in silence. For instance, the agreement entirely ignored oligopolistic market power in the world (and many domestic) agricultural commodity markets. Yet, oligopolistic market power is a fact: for many agricultural commodities, three to five firms control 40 percent or more of the global market. Some of the firms, such as Cargill, are dominant players in multiple commodities (salt, sugar, maize, wheat, soybeans, beef, cotton, rice, and more). Free trade theory based on assumptions of open markets ignores the distortions that such concentrated market power can produce. The scale of the firms is staggering. In 2007, the food processor Nestlé posted a profit of $9.7 billion, greater than the 2007 GDP of the sixty-five poorest countries. Wal-Mart, the world's largest grocer, posted profits of $13.3 billion over the fiscal year ending January 31, 2009. That is more than the 2007 GDP of almost half the countries in the world (eighty-eight in total) in profits alone (sales revenue was in the hundreds of billions of dollars). With this market power comes the ability to both predict (and, to some extent, set) prices, the political clout to affect trade and investment policy in many of the more than one hundred countries in which the biggest firms operate, and the power to keep would-be competitors at bay.

Another distortion the AoA failed to address was dumping, an issue linked to corporate concentration. The Institute for Agriculture and Trade Policy (IATP) tracked cost of production, farm gate sale price, and export sale price for five commodities over more than a decade, documenting the gap between what the commodities cost to produce and the export price. The dumping margin (the amount by which production costs exceed market prices) reached 57 percent in one instance (for cotton in 2001); over the decade, the dumping margin for rice averaged 20 percent, for corn between 25 and 30 percent, and for wheat 40 percent. The calculations used what data was available—the cost of transporting grain from local elevators to export terminals was the hardest to track, as the companies involved treat those costs as proprietary information. Still, although the numbers are not perfect, the level of dumping is still remarkable. The higher prices of recent years reduced and even (in some cases) eliminated the dumping margin, but significantly higher input costs have to be factored in as well. In 2009, many farmers are caught with lower prices for the crops from their 2008 peaks, but they still face very high costs for inputs such as fertilizer and seed, which are sold in highly concentrated markets. Not captured in IATP's dumping calculation is the price of land, which, for a growing number of acres in the United States, is rented rather than owned. Changes in farm policy have tied government support to the land rather than the crops grown on the land.

The market price depression associated with the dumping of agricultural commodities has two major effects on developing countries whose farmers produce competing products. First, below-cost imports drive developing country farmers out of their local markets. If the farmers do not have access to a safety net, they have to abandon their land. When this happens, the farm economy shrinks, in turn shrinking the rural economy as a whole. This is happening around the world, in places as far apart as Fiji, Burkina Faso, and Honduras. Second, farmers who sell their products to exporters find their global market share undermined by the lower-cost competition.

The AoA presupposes a particular model for agriculture and reinforces that model through the rules it establishes. It is a model for wealthy countries pursuing industrial agriculture, and for developing country governments that wish to follow suit. It ignores the needs and interests of the billions of farmers who do not live in that world. Only 10 to 15 percent of food is traded internationally, yet the AoA pressures all of agriculture to be run as if it was a trade concern. While ostensibly dealing only with world markets and trade, the agreement dictates the kind of investment that countries can make in their agricultural sectors. In practice, the AoA legitimized the use of subsidies in developed countries that distort world markets and damage the local markets of developing countries—reducing the options available to developing countries that are interested in protecting rural livelihoods and domestic food security (let alone food sovereignty). The potential of agriculture to eradicate poverty and contribute to a bio-diverse, ecologically healthy, and socially just food system is dramatically curtailed.

An Alternative

At the time of writing, the latest WTO trade talks (on the so-called Doha Round) are at a standstill. The March 2009 meeting of the Committee on Agriculture was reportedly a cantankerous affair, with developing country governments holding the United States and the European Union to account for their continued high levels of spending on domestic support to agriculture and their continued failure to keep notifications of spending up to date. All in all, despite some statements from the Group of 20 finance ministers, there is no sense that agreement on the Doha Round is imminent. The talks are deadlocked over issues that matter. The free trade purists are angered that the proposals are so full of exceptions and exclusions that nothing will change. The skeptics, meanwhile, want no further deal of any kind along the lines of the AoA, especially the insistence that tariffs can only come down, never rise, and the forced liberalization of agriculture. With so much of the global economy in crisis, public skepticism that free trade is the answer is growing. Indeed, government skepticism is growing too, making the likelihood of concluding the Doha Agenda any time soon look slim. It is a victory for the social movements and NGOs that have argued since before the Uruguay Round agreements were signed that free trade was not the right framework for agriculture.

For most countries, trade in agriculture is necessary to balance supply with demand. Few countries are entirely self-sufficient in all the foods their people want and almost every country imports and exports at least some food. Trade is not, however, an end in itself. It is a tool that needs to be regulated to meet the goals of individual countries. It is important not to let trade rules dictate agricultural policy—trade is not a proxy for development. Increased trade is associated with all kinds of outcomes: economic growth and zero growth; increased employment and increased unemployment; decreased poverty levels and increased poverty levels. Trade among equals can make everyone better off. But trade across the disparities that mar our world has concentrated enormous wealth in the hands of very few people, while ushering in policies that have worsened the lives of several billion people, who must now compete with a global market place even to grow food on their own half hectare or less of land.

There are the countries that can ill afford to import food, but whose domestic capacity to grow food is so disrupted that they must buy food abroad to stave off hunger at home. These low-income food deficit countries could and should grow a lot more food than they do. Much of what they import is inferior in quality and culturally inappropriate. It also depresses the necessary spur to domestic production, which could generate jobs, capital, and a basis from which to eradicate poverty. Many of these countries have been impoverished by a vision for economic development that promised wealth through exports. It turns out that for them trade is a problem, not a solution.

Everyone has to eat. A functioning just food system cannot simply let prices fall as supply and demand dictate. Policy choices determine whose demand is effective in the market, and if we price those who live in poverty out of the market, then we need to find other ways to protect their right to food. In effect, the path of globalization adopted and implemented over the past several decades in almost every corner of the world has priced hundreds of millions of people out of their local food markets.

Under international law, governments have three kinds of obligations to their people in relation to economic, social, and cultural rights: to respect, protect, and fulfill. These obligations derive from the U.N. Charter (which every member has signed), as well as the Universal Declaration of Human Rights. Any international treaty, including a trade agreement, that conflicts with a government's human rights obligations must either be voided or amended to ensure that human rights obligations prevail. That is the law.7 Respect means governments may not adopt any policy, law, or course of action that interferes with people's enjoyment of human rights. Protect means governments must devise and enforce laws that protect individuals' access to human rights. Fulfill means governments must show progress toward making sure that the right to food is universally recognized and acted upon. The human right to food is not just about putting food in people's mouths, necessary though that sometimes is. It is about ensuring that people have meaningful choices on how to live their lives, both as individuals and in community with one other.

A number of principles should guide the establishment of a stronger framework for trade as part of a fairer and more sustainable food system. The following are informed by an international project of the Heinrich Böll Foundation, Misereor (a development NGO), and the Wuppertal Institute (a German environmental think tank) called EcoFair Trade.8 They echo many of the points made by the four hundred experts who met as the International Assessment of Agricultural Knowledge, Science and Technology for Development in their final report:

  1. Protect, promote, and fulfill the universal human right to food.
  2. Respect and promote agriculture's non-monetary roles. Agriculture plays a vital role not only in meeting material but also social, cultural, and environmental objectives. Food policies should respect goods that have no market price, such as air and water quality. They should also reflect the spiritual and cultural values associated with specific foods such as maize in Mexico, or rice in much of Asia. Agriculture and an understanding of the land (including the gathering of uncultivated plants) is essential for biological diversity, human health (medicinal knowledge of plants), resilience (knowing which seeds do best in what growing conditions), natural resource management, and so much more.
  3. Build local food systems. Local food systems do not imply a prohibition on trade. This approach builds food security by starting at the local level, respecting environmental constraints, and paying attention to the overall demands made on the world's resources (something ignored in a trade-dominated food system).
  4. Privilege local knowledge and technologies. Not only will this promote biological and cultural diversity, it will also better ensure that humanity has the resources it needs to confront the uncertainty that climate change and the scarcity of energy and water will bring.
  5. Create agricultural systems with lower carbon emissions. Agricultural production, land use, packaging, and transportation of food make industrialized agriculture and the associated food systems significant contributors to greenhouse gas emissions.
  6. Cut waste. The Stockholm International Water Institute recently estimated that the world wastes about half the food it grows. With close to one billion living in hunger and the planet's natural resources stretched as thin as they are, this is a problem that can and must be addressed with urgency.
  7. Integrate trade policy into wider development planning. The WTO should not be apart from the rest of the multilateral system.

Principles and objectives matter: governments need to know what it is that their policies and laws are meant to build. But we have more than principles. There are also hundreds if not thousands of examples of how to build a fairer more resilient food system.

In 1988, floods affected an area northwest of Dhaka in Bangladesh called Tangail. A Bangladeshi NGO called UBINIG, which had been working with weavers in the district, came to offer help and started to work with villages in the area. They met women who were complaining that the pesticides that were used in agriculture were damaging their health and that of their children, and killing the uncultivated leafy greens and fish that they relied on for food. The villagers started to work on a project to develop an ecological agriculture that did not depend on chemical inputs. The result is called "Nayakrishi Andolon," which means New Agriculture Movement in Bengali. The movement now involves more than 170,000 farm households in fifteen districts across the country. Some local governments have now joined the movement, declaring their areas pesticide free.9

There is a growing understanding in developed countries (and a still well-rooted understanding in many parts of the developing world) that food and ecology and diet and health are intimately related. There is an understanding that how we grow what we eat and what we do to food between the field and the plate matter to the healthfulness of the food. How much we eat matters, too, of course, but not only that.

The Slow Food movement and the values it encapsulates capture another part of the already changing food culture worldwide. The founder of Slow Food was Carlo Petrini, a dissident food and wine journalist from Italy. Petrini founded the movement in 1989 in reaction to the spread of fast food restaurants, and, in particular, the opening of a McDonald's at the foot of the Spanish Steps in Rome. Today, twenty-three years later, the movement has over 100,000 members in more than 132 countries. The movement is dedicated to the enjoyment of food. Petrini believed pleasure was key to political change. The movement's Web site says, "Slow Food is good, clean and fair food. We believe that the food we eat should taste good; that it should be produced in a clean way that does not harm the environment, animal welfare or our health; and that food producers should receive fair compensation for their work."10

The Cuban experience after the demise of the Soviet Union offers an example of how a country forced to abandon industrial agricultural inputs was able to change. Cuba lost 80 percent of its import capacity when the Soviet Union collapsed: petrol, fertilizer, tractor parts, pesticides—all kinds of inputs for industrial agricultural production were simply not available. As Peter Rosset, Miguel Altieri, Minor Sinclair, and others have described, the people's and government's response to the crisis was remarkable. The government began to allow producers to sell at farmer's markets, not just to the government, and created tiered prices to encourage better quality.11 Large, government-run collective farms were broken up and given over to much smaller private cooperatives; while the land continued to be state owned, the co-operatives controlled production choices. Finally, a nationwide experiment with organic agriculture began, including biological pest control, new crop rotation patterns, mixed cropping, and a shift to animal traction (horse and ox-drawn ploughs). Urban gardens emerged that provide all the vegetables for half of Havana's two million people. Cuba's experience is an illustration that productivity increases can come from agroecology. Imported fossil fuel derived inputs are not essential.

Parts of the private sector, too, are making changes. One of the world's biggest confectionary firms, Cadbury, announced on March 4, 2009, that its flagship Dairy Milk brand will be Fairtrade certified beginning in September 2009. The decision will triple exports of fairly traded chocolate from Ghana, one of the world's three largest cocoa exporters. According to the Financial Times, total sales of all Fairtrade products in the United Kingdom in 2008 totaled £700 million ($987 million). Annual sales of Cadbury's Dairy Milk in the United Kingdom and Ireland are worth £200 million.12 Cadbury is using a third-party certified system, showing its willingness to be judged by independent assessors. The Fairtrade logo is in large part a marketing and educational tool. It has perhaps had its greatest success in changing attitudes among consumers in wealthy countries. Yet although it is to a tiny (if growing) share of the total market, it has also transformed the lives of some farmers in the Global South, supporting community empowerment and improving material conditions for participating farmers and their households.

It is possible to eradicate hunger in our lifetimes and governments have an obligation to do just that, both under international law, and to give meaning to rule "by, of and for the people." The discourse on free trade highlighted many real problems in food and agriculture, not least of which were overly centralized, inefficient, and too often corrupt central governments. Appropriately regulated, markets can be a wonderful way to give voice and power to local communities. But the rhetoric that surrounded the free trade and globalization policies of the last thirty years was a chimera. They have destroyed much that is precious, indeed much that is vital for the survival of humanity. The tide is turning and bringing the importance of food, ecology, and culture as the purpose of agriculture back into focus.

Notes

  1. FAO, Rome Declaration on World Food Security, World Food Summit, 13-17 November 1996, FAO, Rome. Go back
  2. Not to overlook a few big exceptions, especially India and, once it joined the WTO in 2001, China. Go back
  3. UNCTAD, background paper by the secretariat for an Expert Meeting on the Impact of the Reform Process in Agriculture on LDCs and NFIDCs and Ways to Address their Concerns in the Multilateral Trade Negotiations, July 2000, Geneva. Go back
  4. FAOSTAT 2004 data cited in "Productivity Growth for Poverty Reduction: An Approach to Agriculture," (draft paper for comment) Department of International Development, United Kingdom (July 2005), paragraph 31. Go back
  5. D. Blandford, and D. Orden, "United States: Shadow WTO Agricultural Domestic Support Notifications," IFPRI Discussion Paper 00821 (Washington, D.C., 2008). Go back
  6. FAO, Food Outlook, June 2008. FAO, Rome. Go back
  7. O. De Schutter, "A Human Rights Approach to Trade and Investment Policies," Background paper for conference: Confronting the Global Food Challenge, Geneva, November 2008. Go back
  8. More information on the project and a series of background papers are available at www.ecofair-trade.org. Go back
  9. The account of Nayakrishi Andolon is based on F. Mazhar, et al., Food Sovereignty and Uncultivated Biodiversity in South Asia (New Delhi: Academic Foundation, 2007), 3-4. Go back
  10. www.slowfood.com. Go back
  11. This and following summary points are based on M. Sinclair, "Cuba: Going Against the Grain," Research Paper, Oxfam America, June 2001. Go back
  12. M. Skapinker "Fairtrade and a new ingredient for business," Financial Times, March 10, 2009. Go back

Digital Marketing – Chìa khóa mở cửa kỷ nguyên tiếp thị hiện đại

  Trong thời đại số hóa, khi mọi tương tác, giao tiếp và quyết định mua hàng dần chuyển dịch lên môi trường trực tuyến, Digital Marketing ( ...