Thứ Bảy, 31 tháng 5, 2008

Nghiệm thu đề tài "Nghiên cứu cơ sở khoa học của việc hình thành và phát triển thể chế thị trường giao dịch nông sản"


Ngày 27/5/2008, Bộ Nông nghiệp và PTNT tổ chức nghiệm thu đề tài: "Nghiên cứu cơ sở khoa học của việc hình thành và phát triển thể chế thị trường giao dịch nông sản" do ThS. Bảo Trung chủ trì đề tài. Thành viên hội đồng bao gồm:

1. TS. Chu Tiến Quang - Viện Quản lý kinh tế Trung ương - Chủ tịch Hội đồng

2. PGS.TS. Nguyễn Đình Long - Viện chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn - Phó chủ tịch Hội đồng

3. TS. Trần Hữu Cường - Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội - Phản biện 1

4. KS. Phạm Thị Tước - Vụ Kế hoạch và quy hoạch - Bộ NN & PTNT - Phản biện 2

5. TS. Lê Bá Thăng - Trường cán bộ quản lý nông nghiệp và PTNT I - Ủy viên

6. KS. Nguyễn Văn Thành - Tổng giám đốc Tổng công ty Rau quả, nông sản - Ủy viên

7. ThS. Trần Minh Vĩnh - Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường - Bộ NN & PTNT - Thư ký

Đề tài đạt loại khá.

Thứ Bảy, 17 tháng 5, 2008


Khủng hoảng lương thực thế giới – Hình dạng thực sự của chủ nghĩa tư bản theo thị trường

 
WORLD FOOD CRISIS
The real face of market capitalism
BY NIDIA DIAZ —Special for Granma International
BEYOND the statistics, diagnoses and prognoses, the imminent food crisis that is about to hit the world, especially the poorest countries and the most vulnerable groups – as was to be expected – has exposed for all to see the real face of market capitalism, its unrelenting mechanisms, insatiable greed and operating methods subject to laws that invariably act against the least protected.
It is no longer a matter of apocalyptic warnings or slogans from a group of "rebels" attempting to disrupt the "sacred peace" of a world order established by the globalized and neoliberal capitalist system.
There are many reasons, certainly technically explicable, for humanity being pushed into such an abysm but , at the end of the day, every analysis leads to the conclusion that the inevitable laws of the capitalist market are causing the looming disaster.
International and regional agencies — the United Nations, the Food and Agriculture Organization (FAO), UNESCO, the Economic Commission for Latin American and the Caribbean (ECLAC) — have understood this to be the case, and have sounded the kind of alarm that in times past was only sounded by certain statespersons and researchers who have been alerting the world to this danger for decades, in a bipolar world where such claims and solid arguments served only to be described by the powerful as "communist threats."
Undoubtedly, certain factors have accelerated the crisis, such as the unstoppable increase in the price of oil and the consequent race to develop biofuels on an unprecedented scale, the trade war surrounding food, extremely high subsidies, the appearance of genetically modified seeds… All of this and much more are nothing more than part of the capitalist world's mechanisms.
Some commentators recall how deregulation and privatization in agriculture, together with the peak of globalization in the 1990s, led the World Trade Organization (WTO) to describe food reserves as a "market distortion," thus contributing to the domination of the market by transnational corporations, some of them with patent rights controlling planting methods and seed bioengineering.
The "opening up" of the agricultural sector by the WTO conceded financial domination over this extremely important industry — so closely tied to human survival — to transnational agribusinesses. As never before, food has become a for-profit enterprise, and the food and agricultural production process has become an even more lucrative and globalized business, in which land is to be exploited without any regulation whatsoever, until its resources are exhausted.
It is impossible to ignore that, according to figures from world food markets, a dozen key companies associated with 40 intermediate companies control the so-called "food chain,",with the most important link dominated by a handful of grain cartel transnationals: Cargill, Continental Grains (CGC), Archer Daniels Midland (ADM), Louis Dreyfus and Bunge & Born. Their domination is virtually complete in the grains market, from wheat to corn and oatmeal, including sorghum, barley and rye, to meat, milk products, oils and fats, fruit, vegetables, sugar and spices. Cargill, for example, exports 25% of all grains exported from the United States and is one of the most important businesses in the country with an $88 million income last year alone. Continental (CGC) specializes in cereals, poultry and beef, along with investments in securities, real estate and the purchase of business assets; ADM has focused on the biofuels business and almost half of its profits come from products subsidized by the U.S. government.
The dramatic reality, especially for the peoples of the Third World, is that the price of food has risen 45% in the last nine months, with the highest one-month increase in 20 years registered last December, according to FAO figures. The price of cereal grains increased by 41%, vegetable oils by 60% and dairy products head the list with an increase of 80%.
This trend appears to be accelerating, with the price of wheat this March reaching 130% of its cost at the same time last year.
In this context, Jacques Diouf, general director of the FAO, was particularly explicit during the group's last meeting in Brasilia, emphasizing that governments cannot put their confidence in market forces to counteract the skyrocketing cost of food and that clear political decision-making is needed to increase agricultural production.
Diouf attributed the price increases to "a group of factors;" among these he mentioned the role of speculators, who have been "looking for opportunities" in the raw materials and food markets.
As for Latin America and the Caribbean, the forecasts made by the United Nations Economic Commission for the region (ECLAC) couldn't be more terrifying. They predict an additional 15.7 million destitute people as a result of the price increases, without mentioning those who will pass into the category of poor. The Commission also states that there will be a worsening of the situation facing those living in extreme poverty before these increases.
Institutions that have shown no sensitivity to the needs of broad layers of the population, basically the poorest, have not been able to hide their alarm at predictions that the seriousness of the crisis may also have a "domino" effect on the capitalist system in its entirety.
This explains some of the statements recently made during the spring meeting of the International Monetary Fund and the World Bank which, on other occasions, have been less than credible. For example, they point to the cost of oil as a prime cause of the increases in food prices such as wheat and rice. The current president of the World Bank, U.S. Robert Zoellick went so far as to say: "While many (in the U.S.) are worrying about filling their gas tanks, many others around the world are struggling to fill their stomachs."
Confirming the expected failure to meet the UN Millennium Goals as a consequence of the world food crisis and price increases, IMF Director General Dominique Strauss-Khan described these latter as "a source of disequilibrium that has, in one blow, eliminated the progress made in the struggle against poverty."
What the IMF, the World Bank or any other institutional guardians of the world capitalist order cannot conceal, is that the food crisis - its causes and its consequences - have revealed, as have few other events, the very nature, the naked truth and the inequality of a predatory and exploitative system.

Thứ Năm, 1 tháng 5, 2008

TÓM TẮT ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN THỂ CHẾ GIAO DỊCH NÔNG SẢN Ở VIỆT NAM


 


 

Nghiên cứu này nhằm xây dựng cơ sở khoa học hình thành và phát triển thể chế giao dịch nông sản ở Việt Nam. Nghiên cứu thể chế giao dịch nông sản bao gồm phân tích, đánh giá cấu trúc tổ chức, cơ chế hoạt động và điều kiện vật chất của các hình thức giao dịch nông sản ở Việt Nam. Các hình thức giao dịch nông sản được nghiên cứu chia thành 3 nhóm chính: giao dịch giao ngay, giao sau và sản xuất theo hợp đồng.

Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính để xây dựng cơ sở khoa học hình thành và phát triển thể chế giao dịch nông sản. Thông qua nghiên cứu thực địa (Field research) và nghiên cứu so sánh lịch sử (Historical comparative research), đề tài mô phỏng thế giới thực các hình thức giao dịch nông sản về mặt cấu trúc, cơ chế tương tác giữa các chủ thể tham gia vào quá trình giao dịch trong điều kiện vật chất cụ thể có tính lịch sử. Đề tài sử dụng lý thuyết kinh tế, quản trị, luật học và lý thuyết hệ thống (System theory) để phân tích so sánh các tình huống thực tế trong thế giới động nhằm hệ thống hóa, phân loại, tổng quát hóa vấn đề tìm ra bản chất, đặc trưng của các hình thức giao dịch nông sản. Việc nghiên cứu các hình thức giao dịch nông sản được thực hiện thông qua phỏng vấn sâu nông dân, người mua gom, HTX, doanh nghiệp và một số tổ chức nhà nước.

Đề tài nghiên cứu các văn bản pháp lý để đánh giá những chính sách quản lý vĩ mô tác động đến hoạt động giao dịch nông sản.

Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu tình huống (case study) để nhận dạng và phân loại các hình thức giao dịch nông sản ở Việt Nam. Các tình huống chọn lựa mang tính chất phổ biến ở Việt Nam. Thông qua việc nghiên cứu tình huống, đề tài phân tích, đánh giá và đưa ra các vấn đề nảy sinh trong hoạt động giao dịch nông sản ở Việt Nam. Đây là cơ sở để hình thành và phát triển thể chế giao dịch nông sản.

Để hình thành và phát triển thể chế giao ngay, đề tài đã đề xuất cấu trúc, cơ chế và điều kiện vật chất, cùng với một số giải pháp: xây dựng hệ thống thông tin thị trường nông sản cả nước; phát triển thương mại điện tử; đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực; tổ chức hoạt động cho người mua gom trong hoạt động tiêu thụ nông sản; phát triển kết cấu hạ tầng; điều tiết cung cầu nông sản và tổ chức lưu thông hàng hóa.

Để hình thành và phát triển thể chế giao sau, đề tài đã đề xuất cấu trúc, cơ chế và điều kiện vật chất cho hợp đồng tiêu thụ sản phẩm và Sở giao dịch hàng hóa, cùng với một số giải pháp: hoàn thiện pháp luật liên quan đến giao dịch giao sau nông sản; xây dựng và thực hiện chương trình đào tạo cấp chứng chỉ hành nghề giao dịch hàng hóa.

Để hình thành và phát triển thể chế giao dịch sản xuất theo hợp đồng, đề tài đã đề xuất cấu trúc, cơ chế và điều kiện vật chất một số mô hình sản xuất theo hợp đồng và đề xuất một số giải pháp: sản xuất nông sản theo tiêu chuẩn chất lượng; xây dựng và hoàn thiện chính sách đất đai nhằm thúc đẩy tích tụ và tập trung đất đai cho sản xuất nông nghiệp; thành lập trung tâm xúc tiến sản xuất theo hợp đồng và giám sát thực thi hợp đồng thuộc Sở Nông nghiệp và PTNT; phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động tổ hợp tác, hợp tác xã, hiệp hội.

Đề tài cũng đề xuất một số kiến nghị đối với các Bộ, Ngành trung ương, UBND các tỉnh, thành phố và một số kiến nghị đối với doanh nghiệp để nhằm hoàn thiện thể chế giao dịch nông sản.

Từ khóa:

  • Tiếng Việt: giao dịch, thể chế, thị trường nông sản, giao dịch giao ngay, giao dịch triển hạn, giao dịch kỳ hạn, giao dịch quyền chọn, sản xuất theo hợp đồng, hợp đồng tiêu thụ, chợ đầu mối nông sản.

Tiếng Anh: transaction, institution, agricultural produce market, spot transaction, forward transaction, futures transaction, option transaction, contract farming, marketing contract, agricultural wholesale market.

Chủ Nhật, 13 tháng 4, 2008

Foodlinks America báo cáo về việc Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ trả lại ngân sách trợ cấp cho nông dân

Foodlinks America reports on unspent commodity funds

Barbara Vauthier reports in the TEFAP Alliance's blog and newsletter Foodlinks America this week:

While millions of hungry Americans besiege food banks and food pantries across the country with requests for emergency assistance, the U.S. Department of Agriculture (USDA) returned $81 million in fiscal year 2007 funds to the Treasury that could have been spent to purchase bonus commodities, according to a recent report from the Congressional Research Service (CRS).

The money in question was allocated to Section 32, a permanent appropriation that since 1935 has earmarked the equivalent of 30 percent of annual customs receipts to support agriculture activities and the farm sector, including child nutrition and emergency food programs. By statute, Section 32 funds are to be used only for: (1) encouraging the export of farm products through producer payments or other means; (2) encouraging the domestic consumption of farm products by diverting surpluses from normal channels or increasing their use by low-income groups; and (3) reestablishing farmers' purchasing power.

Under the second purpose, USDA's Agricultural Marketing Service (AMS) purchases surplus commodities – everything from grapefruit juice to bison meat – for domestic food assistance programs, such as the School Lunch Program, The Emergency Food Assistance Program (TEFAP), and the Commodity Supplemental Food Program (CSFP). These surplus or "bonus" buys have been a mainstay of emergency food providers nationwide for the last decade, although declining supplies in the past four or five years have significantly reduced government foodstuffs provided to the poor.

Instead, USDA policy under President Bush seems to be favoring the third purpose of the law – reestablishing farmers' purchasing power. Section 32 has been used in recent years for disaster initiatives and other purposes, such as compensating livestock owners for animals lost in the droughts of 2001-2002, helping Florida citrus growers replace trees lost in hurricanes and freezes, and supporting AMS administrative expenses for direct food purchasing, including the establishment of a new computer system.

AMS officials told Foodlinks America that the agency has considerable discretion under Section 32 and is under no obligation to spend the funds just because they are available. They noted that any bonus purchases must be economically and legislatively justified and approved by the Secretary of the Department. Nonetheless, with USDA proactively implementing initiatives such as bartering excess commodities (see Foodlinks America of September 14, 2007 and March 14, 2008) in order to try to pump more product into the emergency food system, it is curious that available funds went unused.

CRS noted that "AMS had a potential 'carryout,' or unobligated balance, of $581 million at the end of the [2007 fiscal] year. However, the Section 32 law permits no more than $500 million to be carried into the subsequent fiscal year. So AMS returned the excess, or $81 million, to the U.S. Treasury."

State commodity distribution agencies were concerned and perplexed by USDA's failure to utilize all available funds to address growing hunger needs. "Our EFOs [Emergency Feeding Organizations] have seen on average a 20 to 40 percent increase in demand mainly due to high energy costs this winter," said Randy Mraz, emergency food assistance director for the Maine Department of Agriculture, Food and Rural Resources. "Our food supply is at a five-year low. It is unfortunate that the USDA chose not to use available funds to bolster the supplies for the emergency feeding networks," he added.

CRS reports are not always posted to the internet. If somebody notices a link to this one, please mention it in the comments, and I'll add the link to this post.

Xây dựng mối quan hệ giữa nông dân và người tiêu dùng thông qua nỗ lực marketing trực tiếp ở địa phương

Local direct marketing efforts build grower-consumer relationships
MARISSA MULLETT
By MARISSA MULLETT
OSU Extension

Because U.S. consumers value the opportunity to purchase fresh, locally grown foods, they are increasingly interested in supporting agriculture through direct marketing. In Coshocton County the public participates in direct marketing efforts by purchasing goods from the farmers market, participating in community supported agriculture programs (CSA), and by patronizing farm stands and wineries.

Ohio ranks fifth in the nation for its agricultural direct marketing sales. By definition, direct marketing in the agricultural industry refers to food purchasing methods that promote producer-consumer interaction.

Farmers markets are perhaps the most commonly recognized form of direct marketing. According to the USDA, in 2006 there were 4,385 farmers markets in the United States compared to 1,755 in 1994. Area growers who participate in the Coshocton County Farmers Market Association make it possible for members of the community to purchase locally-produced foods May through October.

The USDA also reports that 82 percent of farmers markets are self-sustaining and 58 percent of them accept WIC coupons, food stamps, and other local/state nutrition programs.

According to an Ohio State University study, 73 percent of Ohioans are willing to pay more for foods that are locally-produced. However, when comparing prices at the grocery store with farmers market prices, store prices are typically higher.

CSA is another form of direct marketing that is growing in popularity in the county and across the nation. Farms that offer CSA require consumers to make a financial commitment with the agricultural establishment. In return, the consumers will receive a basket of food from the farm on a weekly basis (typically late spring through fall). CSA farms generally offer a variety of vegetables, fruits, and herbs. But, some also offer a share of eggs, meat, milk, and baked goods.

The financial commitment to a CSA varies. Locally, consumers can expect to invest anywhere from $200 for a half season to $500 for a full season. Traditionally, CSA payment is due upfront. As far as delivery is concerned, some CSA operators deliver produce to consumers, while others prepare the goods for consumer pick up on specific day.

Thứ Ba, 8 tháng 4, 2008


Chuỗi rau quả của nước Anh thâm nhập vào Hoa Kỳ với ý tưởng mới

 


 

British grocery chain hits America with Fresh ideas


 


 


 

By Bruce Horovitz, USA TODAY
HOLLYWOOD, Calif. — This Fresh & Easy Neighborhood Market sits a few doors from Grauman's Chinese Theatre, where stars from Judy Garland to George Clooney have left their footprints in concrete.
Fresh & Easy, a British-owned grocery chain that hopes to some day have more U.S. stores than Safeway, now is bent on leaving its footprint in the quick-drying concrete of the nation's trend-setting capital.
But might it land face first?
Backing Fresh & Easy is U.K.-based Tesco, the world's third-largest retailer. Tesco's audacious plan is to change the way Americans shop and, in the process, take on rivals from Whole Foods to Wal-Mart. Instead of megamarkets, it's opening small Fresh & Easy stores that offer quality food and low prices. They're about the size of a Trader Joe's with lots of Whole Foods-type natural foods and prices that can seem Costco-esque.
But the unfamiliar combination — and a rather sterile store décor — seem to have left American shoppers confused about just what the chain is. As a result, Tesco is finding it harder than expected to make its mark on the nation's $500 billion grocery business.
Fresh & Easy's early U.S. sales are below expectations so far, and Tesco has paused its once-rapid store expansion until July to regroup. In the past year, however, 59 Fresh & Easys have popped up in Southern California, Las Vegas and Phoenix. Plans for Northern California were revealed last month. And few doubt that Tesco's aim is to give rivals all the way up to Wal-Mart a run for the grocery dollar in a very un-Wal-Mart way.
The stores are simple, bland and tiny by supermarket standards at about 10,000 square feet. The Fresh & Easy name signals the two things it wants shoppers to think of it for: freshness and convenience. All fresh food is dated — even the produce. And the stores are easy to shop.
Perhaps more important, however: price. They're up to 30% cheaper than conventional market chains, reports TNS Retail Forward, a research firm.
Fresh & Easy store-brand goods account for about half the products on the shelves — and have been created to contain no artificial ingredients or preservatives. But the store also carries name brands from Coca-Cola to Kraft.
"We've created the 21st century market for the 21st century American," says Tim Mason, CEO of Fresh & Easy, who is overseeing the chain's U.S. expansion from offices in El Segundo, Calif.
Results lag behind projections

Sales to date have been a letdown. Tesco won't reveal results, but a report by Piper Jaffray analyst Mike Dennis estimates weekly sales per store have been $170,000 instead of the projected $200,000. Analyst Jim Prevor is more downbeat, saying in a report that his research indicates weekly sales may be averaging less than $60,000.
Prevor cites lack of cultural understanding as one major problem, and that must be enough to drive Tesco crazy. It has invested more time and money trying to understand Americans than just about any other outsider entering the market.
Mason says sales aren't what Tesco had hoped — particularly sales of major brands, he says. "There's been some surprise and some disappointment."
But analysts say Tesco is a company that fixes its mistakes and will only grow stronger.
"If it's not performing to expectations, it will make all the changes to assure that it does," says Jennifer Halterman senior consultant at TNS Retail Forward, which projects Fresh & Easy will have U.S. sales of $10 billion by 2015, putting it in the top 10 grocers.
While it may take U.S. shoppers awhile to embrace the Fresh & Easy model, by 2020 the company could have 5,000 U.S. stores with sales of $60 billion, projects Bryan Roberts, global research director at planetretail.net. That would be larger than Safeway.
Food retail guru Kevin Coupe, founder of MorningNewsBeat.com, minces no words: "There isn't a place in the world where Tesco has gone one-on-one with Wal-Mart and Tesco hasn't won."
While they may not yet be familiar, some of Fresh & Easy's distinguishing concepts are turning heads. Notably different — and cool: Shoppers are encouraged to taste before they buy. They may take almost any product to the "Kitchen Table" area of the store — be it chips, pizza or soup — and a staffer will open it or cook it and dole out samples.
"I come in here three times a week — sometimes to shop and sometimes to snitch something from the Kitchen Table," says Marcia Rea, a Hollywood resident.
Other Fresh & Easy features:
•Natural products. Fresh & Easy brand items have no added preservatives, artificial flavors, colors or trans fats. Eggs are from cage-free chickens; milk does not contain the growth hormone rbST.
•Low prices. An analysis by TNS Retail Forward found the total for a basket of eight Fresh & Easy products beat market chain Vons by 30%, Albertsons by 32% and Ralphs by 23%.
•Produce expiration dates. Fruits and veggies are mostly locally sourced — and come wrapped in plastic trays with expiration dates. The packaging, however, pleases some shoppers and seriously bugs others.
•Limited inventory. Fresh & Easy sells about 3,500 items vs. 60,000 at a typical supermarket.
•Low shelves. You can see from one end of the store to the other.
•No loyalty cards. No swiping cards for the price breaks.
•Wide aisles. Aisles are wide enough for three carts to pass.
•All self-checkout. To cut costs, there are no cashiers.
•Limited advertising. The chains buy no TV or newspaper ads. When it enters a market, it mails $5 coupons to area residents.
•Green design. Stores are designed to use 30% less energy than typical grocery stores its size, and recycling is a priority.
•Show the food. Most Fresh & Easy brand products are packaged so shoppers can see what's inside.
•Wine guru. The chain employs an accredited Master of Wine (one of 265 in the world).
For all of Fresh & Easy's planning, it's had some glitches in the early going, such as its distribution system failing to prevent some stocking shortages. The chain also has taken heat from Los Angeles activists, who say it has opened fewer urban stores than promised, and faced union anger over its non-union stance.
Studying how we live

While some problems are to be expected in such an ambitious rollout, some misjudgments about U.S. consumers are more surprising — given how much it studied them in their natural habitat.
Before the first U.S. store was built, Tesco hired a specialty research firm to help it peer into the lives of 60 American families in Southern California and Denver.
It spent hours in their homes. It took video of them cooking. It took video of them shopping in grocery stores. It even shot video inside their refrigerators and pantries.
Still the store design has confused some shoppers. "It's not as organized or as customer-oriented as I'd hoped," says Rick Sanchez, who was disappointed by what he saw at the Long Beach store's grand opening. When the first U.S. store opened, it didn't sell milk in gallons — something quickly corrected, says marketing chief Simon Uwins.
One of its most surprising issues so far — given its research — is that while it learned early on that natural foods are a major draw for U.S. shoppers, it underestimated how much Americans want their grub ready-to-go. Sales of prepared foods have been twice what it expected, Mason says.
That's one reason the company hired chef Michael Ainslie. He figures he's created 110 grab-n-go products over the past year, roughly one new product every three days. A point of pride: Mac 'n Cheese. "This was not easy to create with 100% natural ingredients," he says.
The families Tesco observed — who were paid about $300 each — were not initially told who was watching them.
"We didn't have a clue," says Sharon Catlett. The Burbank mother of twins and law firm administrator and her stay-at-home husband "thought it was a couples counseling service, because they kept talking to us separately." Catlett shops at whichever of six grocery stores has the best deals. The observers shopped with her, then went home with her and watched her cook dinner with what she'd bought.
She says she now has slight misgivings about giving too much information to the Brits. But she concedes, "We're arrogant enough to think we can set them straight."
Which is what Tesco — known for testing and retesting — wants her to do.
Touring the model store

Tesco also built a mock Fresh & Easy store in a warehouse in Hawthorne, Calif., long before the first real store. Focus groups were paraded in to help tweak everything from the logo to operation of the self-checkouts.
Some non-grocery products were tested — and died — there.
"People just didn't think Whiffle balls belonged in the store," says spokesman Roberto Munoz.
While a reporter was shown the mock store, access was denied to the super-secret, 820,000 square-foot distribution center in Riverside, east of Los Angeles, where Tesco creates and packs most Fresh & Easy brand foods.
Tesco brought key U.K suppliers to its Riverside fortress. A second such facility is planned in Northern California.
Competitors are eagle-eyed but closemouthed. Wal-Mart would not comment on Fresh & Easy, but it plans to test a similar store dubbed Marketside near Phoenix. Whole Foods had no comment. Ditto for Trader Joe's.
Safeway CEO Steven Burd has said, "We'll watch the entry of Tesco closely."
Opening day lessons

Fresh & Easy tries to make a grand entrance. At openings, top executives (in casual dress) show up to hand out free tote bags. They work the floor, as they did at the Long Beach opening last month when 250 shoppers rushed in when the doors parted.
One arrival, Jennie Kwan, a retired grandmother from Hong Kong, mistook Uwins for a local store staffer and asked the marketing chief where to find coconut extract. He couldn't find it — but found almond extract. It wasn't what Kwan had asked for, but she snatched it up anyway, saying, "That's a very good price."
Uwins smiled at a small victory. On his blog last week, however, Uwins said Fresh & Easy would take a break from opening stores for three months "to kick the tires, smooth out any wrinkles and make some improvements that customers have asked for."
He's learned that to win over American shoppers, it's gonna take more than coconut extract.
To report corrections and clarifications, contact Reader Editor Brent Jones. For publication consideration in the newspaper, send comments to letters@usatoday.com. Include name, phone number, city and state for verification.
Conversation guidelines: USA TODAY welcomes your thoughts, stories and information related to this article. Please stay on topic and be respectful of others. Keep the conversation appropriate for interested readers across the map.

Thứ Hai, 24 tháng 3, 2008

Sản xuất sữa hữu cơ khó khăn nhưng nhiều lợi nhuận


 

Organic Dairy Farming Tough But Profitable

Last updated Saturday, March 22, 2008 6:26 PM CDT in Business

By Kim Souza
The Morning News


 

Facing near starvation in the summer of 2006, Wayne Hale of Evansville and John Robert and Carolyn Hart of Prairie Grove, looked to the organic dairy sector for greener financial pastures.

After more than three decades of operation, both dairies were facing extinction with fluid milk prices below $8.50 per hundred-weight, or cwt. (Hundred-weight is the standard measurement for milk in pounds; 1 cwt. equals 8.6 gallons.)

When Larry Hale, director of Central Organic Milk Producers, offered to pay the farmers a 3-year base rate of $24.50 per cwt. with a $2 quality premium, Wayne Hale and Hart took notice.

"I saw this move to organic as a way to keep the dairy open, at a time when dairies were closing all over the state," said Wayne Hale, who has owned and operated his 360-acre dairy farm south of Lincoln since 1976.

The Harts found themselves in a similar situation. The couple has operated their 250-acre dairy farm for 38 years, transitioning to organic production in June 2006. The Harts were the first certified organic dairy in the state.

GROWING TREND

The conversion of the two dairy farms are part of growing U.S. trend to produce organic milk to supply a consumer market growing at an annual rate of 20 percent.

The two Washington County dairies and seven other dairies in the state joined the Central Organic Milk Producers Cooperative in 2006. The cooperative has 21 organic dairies under contract and four others in transition. Almost half of the cooperative's 186,046 gallons of milk collected in February came from Arkansas organic dairy farms. Other farms in the group are located in Illinois, Kansas, Missouri and Oklahoma.

Larry Hale said while the move to organic dairy producing is a popular trend in the northern U.S., southern dairymen have been slower to make the move.

"When the organizational meetings started up in early 2006 there was a great deal of interest among all Arkansas dairymen, as record low milk prices had most looking for any alternative to help them stay in business," Wayne Hale said.

He said the aging population of Arkansas dairymen and their need to retain health insurance through Dairy Farmers of America kept many from making the move to organic.

Larry Hale agreed higher organic prices created interest, but the three-year land transition and one-year cow transition to organic standards meant a cash outlay at least a year before the higher organic prices could be collected.

The Hales and Harts participated in a 2006 federal 20/80 rule that allowed them to feed 20 percent conventional grain and 80 percent organic feed for nine months, the last three months converting to 100 percent organic. During this transition period the milk was not sold as organic, but the farmers got a $2 per cwt. stipend to help with conversion expenses.

Both farmers said their fields were close to organic regulation, which disallows commercial fertilizers or pesticide applications for three years.

As nitrogen fertilizer became more expensive these farmers relied solely on poultry litter for fertilizer. Poultry litter is about the only fertilizer allowable under the U.S. Department of Agriculture organic guidelines, Wayne Hale said.

HIGHER COSTS

Both farmers were looking forward to the better financial returns from organic milk production. What they hadn't counted on were the higher prices to produce organic milk.

The federal mandate for alternative fuels has driven the costs of grains used to feed animals to all time highs.

Organic dairy feed has escalated past $500 per ton, almost double the cost of a conventional dairy feed.

With conventional corn costing more than $5 per bushel, there is not a financial incentive to grow organic corn, leaving the grain in short supply relative to demand, forcing prices up to $8.70 per bushel. Organic pastures can't be sprayed for insects or fertilized with nitrogen-based compounds which means they produce far less yields than conventional acreage, Wayne Hale said.

Caldwell Milling in Damascus is the only Arkansas source for organic dairy feed.

"We order our mixed feed from Caldwell and it's trucked in from Damascus by the ton. We had to purchase a second grain silo costing about $4,000 to handle the larger grain shipments. Because of the distance, only large orders - 3-ton minimum - are accepted," Carolyn Hart said.

The most popular organic dairy blend sold by Caldwell costs $517 per ton. The three-grain blend consists of corn, grounded roasted soy beans, milo and a certified organic mineral, said Becky Bradford, general manager for Caldwell Milling.

When organic wheat becomes available most dairy farmers will likely change to a four-grain blend that is priced a little lower, she said.

The Central Organic Milk Producers Cooperative has approved a 40-cent per cwt. payment to its producers effective in April to help offset grain prices, Larry Hale said.

The outlook for organic dairy farming is beginning to look better relative to conventional dairying, given downward pressure on conventional milk prices, said Jodie Pennington, dairy specialist for the University of Arkansas Cooperative Extension in Little Rock. Higher non-organic milk prices have resulted in more milk production, which has created an oversupply Pennington believes will soon result in lower prices paid to conventional dairy farmers.

He said organic dairy farms still have a slight financial advantage because higher prices for organic milk help offset a $5 per cwt. higher cost for organic milk production than conventional production.

LOWER PRODUCTION

As the new organic farmers quickly calculated profits in their heads from higher contract milk prices in 2006, they failed to realize the other side of the equation - decreasing milk production levels.

"Before I transitioned to organic methods, I fed a mixed corn blend almost exclusively and my cows ate non-stop. They produced high levels of milk and burned themselves out in three to four years time," Wayne Hale said.

Using the organic method, Hale said, his herd of 100 Holstein went through an amazing physical transformation.

"They are giving far less milk because I am feeding them only a fraction of the grain, given its high costs," he said.

Hale has instead put more emphasis on pasture grazing, planting red clover and other types of grain proteins this winter and spring. He said the cows are thinner, but healthier overall.

He has seen his milk production in cows freshening - just starting to milk - down as much as 50 percent. On average last year Hale said his production was off 38 percent in his first year of organic production.

Organic experts say milk production decreases after the transition because the cows are getting less corn.

While the Harts said their production is down only a fraction, they attribute the steady production levels to the fact they feed each cow 18 pounds of corn and soybean meal per day. In contrast, only half of Hale's cows are getting a 10-pound grain ration and the other half subsist on grazing, hay and oat supplements.

This spring, Hale plans to plant 60 acres of organic corn, which he will feed through the fall and winter in hopes of raising his production levels.

"I feel like my grandfather must have felt when he ran a dairy two generations back. He fed what he could grow and took the milk the he got," Hale said. "Of course, he didn't have my bills."

Hart said he would rather buy the grain feed than invest in the equipment and additional manpower he would need to grow corn. The Harts also operate five poultry houses to grow Cornish game hens for Tyson Foods Inc.

NEW THINKING

Both farmers said the transition to organic was a change in mindset as well as farm operations.

The emphasis shifted from maximum milk production in the conventional dairy to an overall farm economy on the organic side.

The farmers do not worry about milk prices. Their contracts are fixed for three years, unlike the monthly fluctuation of a conventional month-to-month contract.

"More emphasis is put on animal welfare and strong environmental policies," Carolyn Hart said.

The Harts experienced a high calf mortality as a conventional dairy. She said none of the local animal experts could explain why they lost so many calves.

Since the transition, the Harts report healthier calves and mothers. They leave the calves with the mother longer and even though that comprises milk production, they said its worth it to have the healthy calves and build a stronger herd.

Although the milk business lost money last year, a healthier milking herd allowed the Hales to sell excess calves and heifers which brought good prices. When these receipts were added to the farm's overall revenue, he said the year wasn't bad.

Both farmers said healthier animals also result in fewer veterinarian bills.

Hale said he made a trip to Amish country last year and learned of some homeopathic remedies used by Amish dairy farmers.

He gives the cows organic sea salt for extra minerals and uses only herb treatments for the rare ailments that arise.

TRAVELING MILK

Despite a local demand - pushing prices to more than $7 a gallon - for organic milk, the milk produced by Hart and Hale is shipped to Winchester, Va., where it's processed by H.P. Hood, one of three major organic dairy producers in the nation.

This 1,200 mile journey from the farm to processing factory and distribution to a grocery on the East Coast adds about $2 per gallon to the retail cost of organic milk, Pennington said.

Ozark Natural Foods in Fayetteville sells organic milk, trucked in from either Texas or Iowa under the Organic Valley Brand, said Matt Smith, a dairy buyer for the store. He said if there was a local organic dairy processor the store would offer milk from local producers.

Larry Hale said low volume levels of local organic milk production does not justify start-up or operating costs for a local dairy processor.

As more dairy farms transition to organic and local production levels increase, the demand for a regional processor could follow.

While Larry Hale doesn't anticipate a surge in transition among Arkansas dairies, he said several Missouri dairies are interested in conversion, with four new farms in already in transition.

Kinh nghiệm sản xuất theo hợp đồng của Desai Fruits and Vegetables, Ấn Độ

"King of fruit to rule all seasons"
Kalpesh Damor / Ahmedabad March 24, 2008

South Gujarat-based firm developing all-season mangoes.
Gujarat mangoes satiated taste buds of many in the White House last summer. And if all goes well, soon mango lovers across the globe would be able to relish the king of fruit all through the year.
South Gujarat-based Desai Fruits and Vegetables, the company which accounted 80 per cent of mango exports from Gujarat to the US last year, is currently developing a new variety of mango, which could be grown throughout the year.
The South Gujarat-based agri firm has already brought a team of three foreign experts to develop the variety.
"We want to develop such a variety in Gujarat, so that consumers can enjoy mangoes in all seasons. Currently, research is being carried out and the variety is under field trials," said Ajit Desai, chairman and managing director of Desai Fruits and Vegetables. He, however, refused to divulge more details on the project.
The company hopes to come out with the variety for commercialisation in around two years' time.
"Scientifically, it is feasible to develop such types of mango. This could be done by manipulating plant canope and soil," Anand Agricultural University, vice-chancellor, M C Varshney told Business Standard.
A few groups of farmers in Ratnagiri district of Maharashtra have also developed a new variety of Alphonso, which grows all through the year. This type of variety helps farmers to harvest crop every month.
Though Gujarat is known for its Kesar variety, Desai Fruits is developing new Alphonso variety for all seasons. In the past few years, the company has emerged as a strong player in the field of fruit and vegetable exports. "We were the first company to export banana for the first time in the history of Gujarat," he says.
The company currently is engaged in contract farming of mangoes, banana, pomegranate and other vegetables in the state, mainly in south Gujarat. The company has 1,200 acres of land under contract farming of fruit and vegetables in the state and around 400 farmers are associated with the company.
Last year, around 160 tonnes of mangoes were exported to the US, of which Desai Fruits accounted for 135 to 140 tonnes. Overall, it exported 1,400 tonnes of mangoes to US, Europe, Japan and Middle East last year.
In 2008-09, the company plans to export 1,800 tonnes of mangoes in 2008-09, including 500 to 700 tonnes of mangoes to the US. Lured by the impressive performance of the company, a Switzerland-based company CFI AG has picked up 80 per cent in the company, which as a turnover of Rs 32 crore.

Thứ Sáu, 29 tháng 2, 2008

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG CỦA THƯƠNG LÁI TRONG THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ NÔNG SẢN

1. Khái niệm thương lái
Trong hoạt động buôn bán hàng hóa nông sản ở Việt Nam thì hoạt động thu gom hàng hóa đóng vai trò rất quan trọng. Hoạt động này có vai trò kết nối người sản xuất, nông dân với thị trường. Tham gia trong hoạt động thu gom hàng hóa nông sản có nhiều chủ thể kinh doanh khác nhau, nhưng quan trọng nhất là thương lái. Thương lái là một thuật ngữ xuất phát từ từ "lái". "Lái" có nghĩa là người buôn bán một hàng hóa nhất định ví dụ như lái trâu. Liên quan đến thuật ngữ "lái", chúng ta có nhiều thuật ngữ khác nhau như "lái buôn" để chỉ hoạt động của những người mua hàng hóa nơi này đến nơi khác bán lại hoặc "lái vườn" để chỉ những người buôn bán trái cây. Thương lái là một thuật ngữ được sử dụng trong những năm gần đây khi nước ta chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá sang nền kinh tế thị trường và vai trò của người mua gom hàng hóa ngày càng được khẳng định. Trước đây lực lượng mua gom hàng hóa từ nông dân, chúng ta thường gọi là "tư thương" hoặc "tiểu thương". Thuật ngữ này có hàm ý tiêu cực để chỉ những người buôn bán nhỏ, làm trung gian môi giới giữa nông dân và thị trường. Họ bị xem là những người sử dụng nhiều thủ đoạn gian dối để mua rẻ bán đắt, chuyên ép giá nông dân và lũng đoạn thị trường.

Trong thực tế, những người mua gom hàng hóa có quy mô rất khác nhau từ nhỏ đến lớn. Có người chỉ mua gom hàng hóa trong phạm vi làng xã của mình, nhưng cũng có người mua gom hàng hóa cả vùng. Nước ta là nước nông nghiệp dựa trên lúa nước là chính, nên xuất hiện một thuật ngữ chỉ liên quan đến buôn bán lúa gạo, đó là "hàng xáo". "Hàng xáo" là người mua lúa của nông dân về giã hoặc xay xát để bán lại. Thuật ngữ "hàng xáo" xuất hiện từ lâu trong nên kinh tế nước ta. Tuy nhiên trong giai đoạn nền kinh tế nước ta là nền kinh tế kế hoạch hóa thì lực lượng này cũng bị đánh đồng với "tư thương".

Trong hoạt động thương mại nói chung, chúng ta có một thuật ngữ "thương nhân". "Thương nhân" là người buôn bán hàng hóa nói chung. Như vậy, thương lái hoặc hàng xáo cũng có xem như là thương nhân. Tuy nhiên, theo Điều 6, Luật Thương mại Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 14/6/2005 và có hiệu lực ngày 1/1/2006, có đưa ra khái niệm Thương nhân : "Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh." Như vậy, chỉ có những tổ chức hoặc cá nhân hoạt động thương mại thường xuyên và có đăng ký kinh doanh mới là thương nhân. Cách hiểu của Luật thương mại rất khác xa với thực tế cuộc sống vì khi nói đến thương nhân thì hầu hết những người Việt Nam đều hiểu rằng khái niệm đó đề cập đến chủ thể kinh doanh là cá nhân, chứ không đề cập đến chủ thể kinh doanh là một tổ chức. Theo cách giải thích của Luật Thương mại thì "thương lái" không phải là "thương nhân" vì những cá nhân này thường không đăng ký kinh doanh và một số hoạt động chuyên nghiệp, thường xuyên và một số hoạt động không chuyên nghiệp, không thường xuyên. Tuy nhiên, chúng ta cần phải hiểu thương lái là thương nhân vì họ chính là chủ thể tham gia hoạt động thương mại trong quá trình kinh doanh hàng hóa nông sản.

Như vậy, thương lái là thương nhân hoạt động thương mại trong lĩnh vực thu mua, chế biến và tiêu thụ hàng hóa nông sản. Họ là người thu gom hàng hóa từ nông dân, nhà sản xuất và bán lại cho nhà bán buôn hoặc nhà chế biến với tư cách là nhà bán buôn. Thương lái là người trung gian kết nối thị trường nông sản từ người sản xuất đến nhà bán buôn hoặc nhà chế biến.

2. Vai trò của thương lái trong thị trường nông sản
Thương lái đã xuất hiện trong nền kinh tế nước ta từ rất lâu và ngày nay vẫn còn tiếp tục phát triển. Hầu hết các hoạt động mua hàng hóa thu mua hàng hóa từ nông dân đều do thương lái đảm nhận. Trong nền kinh tế nước ta hiện nay, thương lái có những vai trò như sau:

2.1. Thương lái là chủ thể kinh doanh chính nằm trong chuỗi giá trị nông sản

Theo Hill và Ingersent (1977) mô tả tổng quá cơ cấu một chuỗi phân phối hàng hóa nông sản như sau:

[Hình 1]

Trong chuỗi giá trị sản xuất nông sản này bao gồm các chủ thể kinh doanh như sau:

  • Nhà sản xuất chủ yếu là nông dân, người trực tiếp làm ra sản phẩm. Mô hình này phù hợp với nền kinh tế chúng ta, với đặc điểm lực lượng sản xuất nhiều và phân tán rải rác khắp nơi.
  • Người thu gom là người tập hợp hàng thành những lô lớn để bán cho nhà bán buôn, lực lượng này cũng tương đối đông đảo.
  • Người bán buôn hoặc người chế biến: phần lớn lực lượng này là các doanh nghiệp chế biến, doanh nghiệp thương mại. số lượng các doanh nghiệp này ít hơn lực lượng thu gom và nhà sản xuất.
  • Người bán lẻ: là những người mua hàng từ nhà bán buốn để bán cho người tiêu dùng
  • Thứ năm, người tiêu dùng.

Hoạt động của thương lái trong hệ thống kênh tiêu thụ lúa gạo Đồng bằng sông Cửu Long
Đồng bằng sông Cửu Long là vựa lúa lớn của cả nước với sản lượng lúa khoảng 18 triệu tấn. Để đưa một lượng lúa lớn này tham gia vào thị trường thì vai trò của thương lái rất quan trọng. Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp nước ta là phần lớn sản phẩm được sản xuất ở quy mô nhỏ, đơn lẻ, dựa trên mô hình kinh tế hộ gia đình là chủ yếu, vì vậy số lượng sản phẩm thường không lớn và không có sự đồng nhất về chất lượng. Để có được nguyên liệu cho sản xuất, hầu hết các doanh nghiệp chế biến nông sản hiện nay phải tự tổ chức các hình thức thu mua, đặc biệt là các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu ngành lúa gạo. Doanh nghiệp nào tổ chức công tác thu mua tốt thì có nguồn nguyên liệu ổn định, đảm bảo cho sản xuất không bị gián đọan, có thể nói công tác thu mua cũng là một trong những nguyên nhân quyết định sự thành bại của doanh nghiệp trên thương trường. Trong nền kinh tế nước ta hiện nay có rất nhiều chủ thể tham gia vào quá trình kinh doanh lúa gạo. Trong đó thương lái mua khoảng 80% sản lượng lúa từ nông dân [hình 2].



Thương lái sử dụng kiến thức hiểu biết của mình về ngành hàng, cùng với vốn để tổ chức thu gom nguyên liệu từ các hộ sản xuất đơn lẻ, sau đó đem bán lại cho doanh nghiệp, hoặc các đại lý doanh nghêịp chế biến hoặc các cơ sở xay xát chế biếnnhỏ của tư nhân trong vùng. Căn cứ tình hình diễn biến của thị trường, các doanh nghiệp cung ứng gạo xuất khẩu/ doanh nghiệp xuất khẩu gạo xây dựng và công bố đơn giá cho nguyên liệu chuẩn, đơn giá này thường không cố định mà thay đổi theo thị trường. Khi thương lái mang nguyên liệu đến chào bán, doanh nghiệp sẽ căn cứ vào đơn giá chuẩn và chất lượng nguyên liệu của thương lái để cùng đàm phán thương thảo giá mua cụ thể cho từng loại nguyên liệu.

Ưu điểm

  • Nguyên liệu mua của lực lượng thương lái nhìn chung rất đa dạng, nhiều phẩm cấp, một phần đáp ứng được nhu cầu đa dạng về sản phẩm của khách hàng.
  • Giá cả thu mua linh hoạt và thường rẻ hơn các phương thức thu mua khác.
  • Đây là lực lượng nhà cung cấp chính, có vai trò khá quan trọng, là cầu nối giữa người sản xuất và doanh nghiệp chế biến.

Hạn chế

  • Chất lượng nguyên liệu không đồng đều, cái mà họ quan tâm nhiều là tìm mua được nguyên liệu từ người sản xuất với giá rẻ và bán có lợi nhuận cao.
  • Giữa doanh nghiệp và thương lái chưa có sự gắn kết và ràng buộc chặt chẽ về trách nhiệm cũng như quyền lợi. Thương lái ở địa phương nào thì thường giao dịch và thu gom cung cấp nguyên liệu cho doanh nghiệp ở địa phương đó.

Tóm lại, qua khảo sát hoạt động của thương lái ở Đồng bằng sông Cửu Long trong ngành kinh doanh lúa gạo, chúng ta có thể nhận thấy rằng thương lái chiếm vị trí rất quan trọng trong chuỗi ngành hàng từ người sản xuất đến người tiêu dùng. Nếu không có lực lượng thương lái đi thu gom hàng hóa từ nông dân thì hàng hóa khó lưu thông được hoặc nếu được thì chi phí giao dịch cao hơn. Việc nông dân bán hàng hóa chủ yếu cho thương lái phù hợp với điều kiện và tập quán sản xuất và kinh doanh lúa gạo ở nước ta hiện nay.

Hoạt động của thương lái trong hệ thống kênh tiêu thụ cà phê Tây Nguyên


[Hình 3]

Cà phê là một loại nông sản chính của người dân vùng Tây Nguyên và là mặt hàng xuất khẩu lớn của Việt Nam. Việt Nam là quốcgia sản cà phê nhiều nhưng mức độ sử dụng cà phê tương đối thấp, hầu hết sản phẩm cà phê đều xuất khẩu và chủ yếu là xuất khẩu dưới dạng cà phê nhân. Qua khảo sát của nhiều tổ chức quốc tế thì lượng cà phê từ người sản xuất thì đến 93% lượng cà phê đã qua phơi khô và xay xát thành cà phê nhân hoặc cà phê tươi đều bán qua thương lái. Hiện nay, do lượng cà phê của người dân tương đối nhiều nên xu hướng chung người trồng cà phê là họ thích bán cà phê tươi. Chính vì vậy thương lái là đầu mối quan trọng để nối liền người trồng cà phê với thị trường.

Hoạt động của thương lái trong hệ thống tiêu thụ rau quả Cần Thơ

[Hình 4]

Nguồn: Phân tích ngành rau củ Cần Thơ,

Trong chuỗi giá trị của rau củ cần thơ, chúng ta thấy rằng nguồn thương lái thu mua 75% hàng hóa từ nông dân. Trong khi đó bán trực tiếp cho người bán sỉ là 15%; bán lẻ/siêu thị là 5% và bán trực tiếp cho người tiêu dùng là 5%. Chính vì vậy, thương lái cũng là chủ thể kinh doanh chính trong quá trình tiêu thụ nông sản.

2.2. Thương lái điều tiết cung cầu thị trường làm cho lưu thông hàng hóa được thông suốt.
Thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung, môi trường kinh tế - xã hội khuyến khích công thương hạn chế tư thương, Nhà nước hỗ trợ chủ trương phát triển mạng lưới mậu dịch quốc doanh và hợp tác xã mua bán, quản lý chặt hoạt động của thị trường tự do. Chính vì vậy hầu hết hoạt động của thương lái đều được xem bất hợp pháp. "Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 10 (tháng 12/1964) về thương nghiệp và giá cả xác định: chợ nông thôn là bộ phận của thị trường xã hội chủ nghĩa thống nhất. Cần phải tăng cường công tác tổ chức và quản lý, tiến tới làm cho chợ thực sự là nơi trao đổi trực tiếp giữa người sản xuất và người tiêu dùng, không có thương nhân tham gia". Trong quá trình phát triển những năm sau đó, chúng ta đã loại dần thương lái ra khỏi quá trình lưu thông hàng hóa vì thương nghiệp quốc doanh và hợp tác xã mua bán là lực lượng nòng cốt làm nhiệm vụ thu gom hàng hóa từ nông dân. Việc mua bán hàng hóa thời kỳ này chủ yếu dựa đến định suất và hàng hóa bị khan hiếm nghiêm trọng nên đã xuất hiện một lực lượng thương lái nhanh nhạy với thị trường tìm cách đáp ứng nhu cầu hàng hóa đang bị thiếu hụt. Việc kinh doanh của những người này bị xem là bất hợp pháp và từ đó xuất hiện từ "tư thương" để gán ghép cho lực lượng này. Sau năm 1986, Việt Nam chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường, thị trường nông sản hàng hóa bắt đầu phát triển và cùng lúc đó lực lượng thương lái phát triển. Quá trình tham gia vào hoạt động của thị trường, lực lượng thương lái ngày càng phát triển mạnh. Họ nhanh nhạy với thị trường và biết tạo ra các mối quan hệ không chỉ trong làng xã mình mà họ còn vươn ra bên ngoài, đến những tỉnh thành khác. Trong môi trường hội nhập kinh tế, nhiều thương lái còn mở rộng giao thương với nước ngoài như nhiều thương lái thu mua trái cây và bán sang Trung Quốc hoặc trong quý 4 năm 2006, giá lúa gạo Việt Nam tăng vọt thì chính lực lượng thương lái đã mang ghe sang tận Campuchia để thu gom hàng hóa về bán lại cho các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam. Lực lượng thương lái ở Việt Nam ngày càng đông đảo. Ví dụ như tỉnh An Giang: "Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ của ngành nông nghiệp tỉnh An Giang, toàn tỉnh hiện có trên 900 hộ thương lái mua bán vừa và lớn, gần 3.000 bạn hàng xáo, hoạt động hầu hết trên sông nước, kênh rạch, nhiều khi họ sang cả các tỉnh lân cận trong khu vực để thu mua nông sản." Trong điều kiện nền kinh tế nước ta hiện nay, hầu hết nông dân đều sản xuất nhỏ. Theo thống kê, khoảng 95% nông dân sản xuất nhỏ có từ vài 1-2 ha trở lại. Số nông dân có quy mô sản xuất lớn chiếm tỷ trọng rất thấp. Thêm vào đó hầu hết nông dân chủ yếu chỉ quan tâm đến việc trồng trọt hoặc chăn nuôi mà không quan tâm nhiều đến thị trường tiêu thụ. Để tập hợp được một lượng hàng hóa lớn để phục vụ cho công tác chế biến thì các doanh nghiệp chế biến cần phải thu gom hoặc ký hợp đồng với hàng ngàn hoặc hàng vạn hộ nông dân. Ví dụ năm 2003 Công ty Dịch vụ kỹ thuật nông nghiệp An Giang – Antesco ký hợp đồng mua bắp non với hơn 11.000 hộ nông dân. Điều này cho chúng ta thấy rằng việc ký hợp đồng với quá nhiều hộ nông dân như vậy, chắc chắn chi phí giao dịch sẽ tăng cao và hiệu quả kinh tế mang lại thấp. Tuy nhiên, số lượng doanh nghiệp thu mua trực tiếp từ nông dân không có nhiều. Trong khi lực lượng thương lái đến tận đồng thu gom và vận chuyển đến từng trạm thu mua của doanh nghiệp để bán lại. Chính vì vậy, vai trò của thương lái là không thể thiếu. Nếu vắng họ, cầu nối giữa doanh nghiệp và nông dân sẽ bị "nghẽn", quan hệ cung cầu sẽ không được điều tiết tốt.
Lực lượng thương lái hầu hết xuất phát từ nông dân, nhờ biết cách kinh doanh buôn bán mà trở thành lực lượng thương lái và ngày càng phát triển mạnh. "Ở Hội An (thuộc huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang), ai cũng thán phục chuyện làm thương lái mà đổi đời của vợ chồng Bảy Nghiệp. 5 năm trước vợ chồng Bảy Nghiệp nghèo rớt mồng tơi, thấy người ta làm lái bắp, lái khoai, lái kiệu… sống khỏe ru, Bảy Nghiệp đâm ham những không không có tiền làm vốn. Vợ chồng vừa làm thuê vừa tích lũy. Ban đầu Bảy Nghiệp khởi sự bằng cách mua vài ký dưa leo, chút ít cà chua, đậu đũa… chở xe đạp chạy bán dọc đường. Sau mang rau màu ra chợ xã rồi lên chợ huyện. "Góp gió thành bão", lần hồi đưa rau màu sang tận chợ Long Xuyên, xuống Cần Thơ, Vĩnh Long… mối mang làm ăn ngày càng nhiều, công việc thuận lợi. Chẳng bao lâu vợ chồng Bảy Nghiệp trở thành "lái lớn" hồi nào hổng hay, mỗi ngày thu mua hàng tấn rau màu các loại cung ứng cho các đại lý khắp vùng.". Hầu hết thương lái có vốn ít, số thương lái có từ vài trăm triệu đến hàng tỷ đồng chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ, còn thương lái có từ 15-50 triệu đồng là phổ biến. Chính vì vậy họ khó có thể đầu cơ để lũng đoạn thị trường vì vốn ít chắc chắn họ phải tranh thủ xoay vòng vốn nhanh.

2.3. Thương lái người tạo ra môi trường để người sản xuất điều chỉnh hành vi kinh tế và phát triển sản xuất theo hướng đến thị trường.
Thương lái là người nhanh nhạy, nắm bắt thị trường tiêu thụ. Họ am hiểu địa bàn, hiểu tâm lý nông dân và doanh nghiệp. Do đó họ dễ dàng thuyết phục người nông dân sản xuất theo thị trường. Chúng ta đã chủ trương sản xuất 1 triệu ha lúa chất lượng cao nhưng không thành công vì doanh nghiệp không thể nào ký kết hợp đồng với nông dân, còn thương lái đang nắm hệ thống tiêu thụ nông sản. "Ông Nguyễn Văn Xuyên, Giám đốc Sở NN&PTNT Kiên Giang cho biết: "Tỉnh đang tiến hành xây dựng vùng lúa chất lượng cao phục vụ xuất khẩu qui mô 100.000 ha. Theo đề án qui hoạch thì sản lượng lúa trên diện tích này sẽ được bao tiêu trước nhất. Đầu năm 2004 đã triển khai kế hoạch bao tiêu 30.000 ha, chúng tôi mời các doanh nghiệp ngồi lại cùng bàn bạc, phân công, chia chỉ tiêu cụ thể, nhưng cuối cùng chẳng có doanh nghiệp nào tham gia hợp đồng bao tiêu được. Một vấn đề bất hợp lý nữa là sức chứa lúa thật sự của 3 doanh nghiệp lớn trong tỉnh hiện tại chỉ đạt tối đa 70.000 tấn. Nếu thu mua hết diện tích 100.000 ha lúa chất lượng cao thì không tài nào có kho dự trữ đủ". Đặc điểm của thương lái họ chỉ kinh doanh những gì thị trường cần và luôn đặt chữ tín lên hàng đầu. Do đó họ sẵn sàng cung ứng vốn cho nông dân sản xuất và thu mua lại hàng hóa khi thu hoạch. Đối với mặt hàng nào dư thừa và khó tiêu thụ họ sẽ không mua cho nên sẽ không khuyến khích nông dân sản xuất. Chúng ta thường ca thán rằng: "được mùa, mất giá và mất mùa, được giá. Tuy nhiên nếu nhìn lại việc tổ chức sản xuất của chúng ta đang có nhiều khiếm khuyết dẫn đến tình trạng nhiều mặt hàng cung vượt cầu và nhiều mặt hàng thì cầu vượt cung. Trong hoạt động kinh doanh, nhiều thương lái đã tác động đến hành vi sản xuất của nông dân. Ví mục tiêu là tối đa hóa lợi nhuận cho nên họ hoạt động tuân thủ theo quy luật cung cầu. Họ sẽ mua giá thấp khi hàng hóa dư thừa và họ mua giá cao khi hàng hóa thiếu hụt. Chính điều này tạo động lực cho người sản xuất phải điều chỉnh hành vi kinh doanh của mình. Hiện nay việc tổ chức sản xuất hàng hóa chất lượng cao ở Việt Nam không thể thực hiện được là do bản thân doanh nghiệp không thể ký hợp đồng trực tiếp tiêu thụ nông sản cho nông dân còn nông dân thì chỉ muốn bán cho các thương lái và việc mua bán với thương lái dễ dàng dàng hơn. Do đó thương lái đã điều chỉnh hoạt động sản xuất của người nông dân. Ví dụ, người nông dân trồng cà phê ở Tây Nguyên ít sử dụng thường chỉ sử dụng phương pháp chế biến khô để sản xuất ra cà phê nhân vì thương lái mua cà phê chế biến ướt và chế biến khô không có sự chênh lệch lớn trong khi đó chi phí chế biến ướt cao hơn chi phí chế biến khô. Tương tự ở Đồng bằng sông Cửu Long, thường nông dân cũng chỉ bán lúa cho thương lái nên người nông dân cũng không quan tâm đến vấn đề chế biến vì nếu chế biến tốt như sấy lúa đạt độ ẩm thay vì phơi ngoài đồng thì giá cả thương lái mua cũng không cao hơn bao nhiêu. Chính điều này Việt Nam sản xuất hàng chất lượng cao gặp nhiều khó khăn.

Tóm lại, chính thương lái là người điều chỉnh hành vi sản xuất của nông dân trong chuỗi kinh doanh nông sản hiện nay.

2.4. Thương lái là người làm giảm chi phí giao dịch trong điều kiện sản xuất nông nghiệp còn phân tán, manh mún.
Sản xuất hàng hóa nhỏ lẻ, phân tán và manh mún là đặc điểm cơ bản của nền sản xuất nông nghiệp nước ta hiện nay. Mọi hoạt động kinh tế thường phải trải qua ba giai đoạn: sản xuất, phân phối và tiêu dùng. Mỗi giai đoạn đều có tầm quan trọng nhất định và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó phân phối còn được gọi là giao dịch hàng hóa, là trung tâm của hoạt động kinh tế. Mỗi phương thức tổ chức sản xuất quy định bối cảnh và phương thức tổ chức hoạt động trao đổi tương ứng với nó. Phương thức tổ chức sản xuất của nền nông nghiệp Việt Nam chủ yếu dựa theo nghề lúa nước có tính thời vụ và theo công đoạn sản xuất kém phát triển tự cấp tự túc, tự sản tự tiêu quy mô hộ gia đình là chính. Mỗi hộ gia đình chỉ có một vài công ruộng. Sản xuất được vài chục đến vài trăm giạ lúa. Với phương thức sản xuất này, các doanh nghiệp khó có thể tiếp cận người nông dân với chi phí thấp được. Theo thống kê của tỉnh An Giang, các thương lái, bạn hàng xáo thu lãi từ 20 - 30 đồng/kg lúa; lúa gia công chế biến thành gạo lãi 50 - 100 đồng/kg; rau dưa các loại lãi 120 - 150 đồng/kg; cá tra, cá basa lãi 150 - 200 đồng/kg... Khoản lãi này thật sự chưa cao trong khi chưa tính đến tỷ lệ hao hụt qua cân và chi phí bảo quản. Với chi phí này thì các doanh nghiệp không thể nào cạnh tranh được với thương lái do bộ máy tổ chức cồng kềnh, trong khi đó thương lái "lấy công làm lời" là chính.

Trong hoạt động kinh doanh nông sản hiện nay, qua khảo sát thì hầu hết nông dân đều biết giá cả thị trường từng thời điểm do các phương tiện thông tin đại chúng như radio, truyền hình, điện thoại di động phát triển mạnh. Nhiều nông dân ở vùng cà phê Tây Nguyên còn nắm rõ thông tin thì trường cà phê thế giới. Hiện nay không có rào cản nào về mặt thông tin. Bên cạnh đó với lực lượng thương lái đông đảo và cạnh tranh nhau quyết liệt. Chính điều này sẽ làm cho chi phí tìm kiếm thông tin và bán sản phẩm tương đối thấp.

Tóm lại, với sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng thương lái đã làm giảm chi phí giao dịch, giúp nông dân dễ dàng đưa nông sản ra thị trường với chi phí thấp hơn.

3. Những vấn đề còn tồn tại của tổ chức hoạt động thương lái
Mặc dù thương lái tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong hoạt động giao dịch nông sản ở nước ta hiện nay, tuy nhiên hoạt động của thương lái còn tồn tại những khiếm khuyết sau:
- Hành vi ứng xử của thương lái hoàn toàn theo tín hiệu của thị trường nên dẫn đến tình trạng "được mùa mất giá và mất mùa được giá".
- Một số thương lái xuất thân từ nông dân nên việc kinh doanh chưa mang tính chất chuyên nghiệp và rủi ro cao. Thậm chí một số thương lái không cạnh tranh được trên thị trường làm ăn thua lỗ và họ chuyển rủi ro này cho người nông dân hoặc doanh nghiệp phải gánh chịu.
- Nhiều thương lái không quan tâm đến chất lượng hàng hóa nên mua tất cả dù chất lượng tốt hay xâu. Điều này làm cho người sản xuất cũng không quan tâm đến chất lượng.

4. Tổ chức hoạt động của thương lái trong thị trường tiêu thụ nông sản
Vận động thương lái tham gia vào hiệp hội các nhà buôn hoặc hợp tác xã
Trước những hạn chế của hoạt động của thương lái trong thị trường tiêu thụ nông sản thì việc tổ chức cho thương lái hoạt động là điều hết sức quan trọng. Việc tổ chức cho thương lái hoạt động trong các hiệp hội hoặc trong HTX là được xem là giải pháp phát triển bền vững của thị trường tiêu thụ nông sản. Việc vận động thương lái tham gia vào HTX hoặc hiệp hội là điều không phải dễ dàng. Quá trình phát triển hợp tác, liên kết với nhau là đòi hỏi phải có thời gian. Đặc biệt, người ta chỉ hợp tác với nhau khi thấy cùng chung lợi ích. Để thương lái có thể tham gia vào hợp tác xã hoặc than2h lập hiệp hội thì vai trò của chính quyền địa phương rất quan trọng. Chính quyền địa phương ở cấp xã, huyện phải vận độn, thuyết phục thương lái thành lập các hiệp hội và bảo vệ quyền lợi cho họ. Hiện nay, chúng ta xây dựng nhiều hiệp hội và hợp tác xã nhưng thương lái chưa được tham gia nhiều vì còn tình trạng đố kỵ, xem họ là người mua gian, bán lận.
Tổ chức thương lái thành lực lượng mua hàng của doanh nghiệp
Thương lái đóng vai trò quan trọng trong quá trình thu mua hàng nông sản. Để phát huy tính tích cực và hạn chế tính tiêu cực của thương lái thì việc tổ chức lại hoạt động của thương lái sẽ giúp ổn định thị trường nông sản. Thương lái phải là chủ thể tham gia vào chuỗi cung cấp hàng hóa cho doanh nghiệp. Sở dĩ như vậy là vì thương lái có khả năng len lõi vào vùng sâu, vùng xa giúp cho doanh nghiệp giảm bớt chi phí giao dịch.


Thứ Ba, 15 tháng 1, 2008

Báo cáo nghiên cứu khoa học

Ngày 14/1/2008, Sở khoa học và công nghệ thành phố Hồ Chí Minh tổ chức nghiệm thu đề tài "Nghiên cứu chính sách, giải pháp khuyến khích ngành công nghiệp chế biến thực phẩm thành phố Hồ Chí Minh nâng tỷ trọng giá trị gia tăng trong cơ cấu giá trị sản phẩm". Đề tài do ThS. Bảo Trung - Giảng viên Trường cán bộ quản lý nông nghiệp và PTNT II làm chủ nhiệm đề tài. Hội đồng nghiệm thu bao gồm:
1. TS. Trần Du Lịch - Viện trưởng Viện Kinh tế Tp.HCM - Chủ tịch
2. GS.TS. Võ Thanh Thu - Trường Đại học kinh tế Tp.HCM - Phản biện
3. TS. Thái Anh Hòa - Trường Đại học nông lâm Tp.HCM - Phản biện
4. TS. Trần Đức Hạnh - Sở Thương mại Tp.HCM - Ủy viên
5. ThS. Từ Minh Thiện - Trung tâm tư vấn và hỗ trợ nông nghiệp - Ủy viên
6. CV. Kinh tế Trần Tô Tử - Công ty Thép Việt - Ủy viên
7. KS. Nguyễn Thanh Minh - Tổng công ty lương thực Miền Nam - Ủy viên
8. CN. Lục Văn Thanh - Phòng quản lý khoa học Sở khoa học và công nghệ - Ủy viên.

Tổng số điểm của thành viên hội đồng : 567 điểm - đạt loại khá.

Thứ Sáu, 7 tháng 12, 2007

Contract farming did no good to farmers

Contract farming did no good to farmers, says IIM-A study


ASHOK B SHARMA

Posted online: Monday, August 14, 2006 at 0000 hours IST


NEW DELHI, AUG 13: Contract farming in the country has not benefited the farmers. Appropriate institutional arrangements, legal provisions and government intervention are needed to protect the interests of farmers, said a study conducted by an expert from Ahmedabad-based Indian Institute of Management (IIM-A).

The study conducted by Sukhpal Singh of the IIM-A's Centre for Management in Agriculture noted "contract farming, in political economy, is one mode of capitalist penetration of agriculture for capital accumulation and exploitation of farming sector by the agribusiness companies."

It said that new concept is the result of the recent developments in marketing, food habits, technology and agriculture in the new economic environment.

The entitled study 'Contract Farming for Agricultural Development' was commissioned by the Centre for Trade & Development (Centad), an initiative of Oxfam GB in India.

The study noted contract farming is being practiced in India by MNCs like Cadbury in cocoa, PepsiCo in potato, chillies and groundnut, Unilever in tomato, chicory, tea and milk, ITC in tobacco, wood trees and oilseeds, and Cargill in seeds.

There are also domestic corporates in the field like Ballarpur Industries, JK Papers and Wimco in eucalyptus and poplar trees, Green Agro Pack, VST Natural Products, Global Green, Intergarden India, Kempscity Agro Exports and Sterling Agro in gherkins, United Breweries in barley, Nijjer Agro in tomato, Tarai Foods in vegetables, M Todd in mint, and Namdhari Seeds in seeds. There are also various government and semi-government agencies involved. Financial institutions and banks assisting contract farming. The new changing dynamics of contract farming was the consortium approach note by the study.

It noted a general monopsony of corporates and contracts being loaded against the interests of farmers. It also dwelt on the problems faced by contract growers, particularly in Punjab and Haryana.

With an aim to mitigate the situation, the study suggested formation of "new generation of co-operatives" for increasing the bargaining power of contract growers.

Chủ Nhật, 25 tháng 11, 2007

Quản lý chất lượng nông sản


MỘT SỐ SUY NGHĨ VỀ VẤN ĐỀ QUẢN LÝ
CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM NÔNG NGHIỆP XUẤT KHẨU

Th.S. Bảo Trung
Khoa Quản trị doanh nghiệp


Ngày nay chất lượng sản phẩm là một yếu tố quan trọng để cạnh tranh không những trên thị trường thế giới mà ngay cả thị trường nội địa. Theo đánh giá của Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì trong số các mặt hàng có khả năng cạnh tranh của Việt Nam thì 4 vị trí đầu đều thuộc sản phẩm nông nghiệp, đó là cà phê, điều, gạo và tiêu. Còn trong số các mặt hàng có khả năng cạnh tranh có điều kiện thì chè, cao su và rau chiếm 3 vị trí đầu, một số loại trái cây nhiệt đới như chuối và dứa chiếm vị trí thứ 6 và gia cầm chiếm vị trí thứ 8. Như vậy cơ cấu xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam trong thời gian tới vẫn chiếm tỉ lệ đáng kể. Theo số liệu thống kê năm 2000, ngoài các mặt hàng nông sản xuất khẩu truyền thống như gạo, cà phê, cao su, tiêu, điều thì mặt hàng rau quả tăng lên đáng kể đạt mức 205 triệu USD, tăng so với năm 1999 khoảng 95 %. Trong tương lai để giải quyết vấn đề đầu ra cho nông dân thì ngoài việc tiếp tục duy trì và phát triển các mặt hàng trên, chúng ta cần phải thiết lập thêm thị trường cho một số sản phẩm nông nghiệp khác, đặc biệt là thịt heo và thịt gà. Theo số liệu thống kê, sản lượng đầu heo năm 2000 đạt 19,527 triệu con mặc dù đồng bằng sông cửu long phải chịu cảnh lũ lụt trong năm qua. Trong khi đó nhu cầu thị trường trong nước không tăng làm cho giá thịt heo hơi bình quân ở Cần thơ năm 2000 chỉ còn 11.600 đ/kg, giảm 25 % so năm 1999. Sản lượng cao nhưng do chất lượng thịt heo của ta không đáp ứng nhu cầu khách hàng nước ngoài cho nên chúng ta chưa thể xuất khẩu được. Vì thế vấn đề nâng cao và kiểm soát chất lượng các sản phẩm nông nghiệp cần phải được quan tâm đúng mức để ổn định và phát triển thị trường xuất khẩu của Việt Nam. Qua nghiên cứu vấn đề quản lý chất lượng, chúng tôi có một vài suy nghĩ như sau :

Thứ nhất, đẩy mạnh việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng phù hợp với các yêu cầu của tiêu chuẩn ISO 9001 phiên bản 2000 để đáp ứng yêu cầu của khách hàng nhằm duy trì và phát triển thị trường xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp chưa qua chế biến hay đã qua chế biến.

Thực trạng hiện nay việc áp dụng ISO 9000 trong ngành chế biến trực tiếp các sản phẩm từ nông nghiệp chưa được quan tâm. Đối với ngành chế biến cà phê nhân xuất khẩu thì hiện nay chưa có một doanh nghiệp nào trong ngành có chứng nhận ISO 9000. Trong khi đó chất lượng cà phê Việt Nam đang được xem chất lượng thấp so với cà phê các nước khác. Vấn đề chất lượng thấp dẫn đến việc bán giá thấp gây thiệt hại to lớn đến nguồn thu ngoại tệ còn ít ỏi của chúng ta. Theo đánh giá của nhiều chuyên gia trong ngành cà phê do chất lượng cà phê thấp nên giá thấp hơn giá thị trường thế giới khoảng 70-100 USD/tấn. Như vậy riêng trong năm 2000, chúng ta xuất khẩu được khoảng 694.000 tấn cà phê chúng ta đã mất đi hơn 60 triệu USD, đây là một số không nhỏ để xây dựng và phát triển kinh tế đất nước. Một trong những nguyên nhân của tình trạng này là thời gian qua chúng ta chỉ lo tăng diện tích và sản lượng còn chưa chú trọng đến chất lượng cà phê, chưa coi trọng yêu cầu của khách hàng. Khách hàng nước ngoài thường phàn nàn về độ ẩm, kích cỡ sàng, hạt lỗi, tạp chất và mốc của cà phê Việt Nam, nhưng họ vẫn tiếp tục mua bởi vì thường chúng ta chỉ bán qua trung gian để họ sơ chế lại, chứ chưa bán được trực tiếp đến nhà rang, xay cà phê.

Đối với ngành chế biến rau quả thì hiện nay mới có công ty Vegetexco Tiền Giang đã có chứng nhận ISO 9000. Theo đề án "Phát triển rau, hoa quả và cây cảnh đến năm 2010" đã được phê duyệt thì ngành rau quả được đặc biệt quan tâm. Riêng việc chế biến rau quả đã có đến 20 dự án đã dược phê duyệt với công suất đạt đến 80.000 tấn /năm. Vì vậy ngay từ bây giờ chúng ta cần phải quan tâm vấn đề quản lý chất lượng mà trong đó việc chú trọng đến khách hàng là cần thiết để có thể đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất ra sản phẩm thỏa mãn nhu cầu khách hàng.

Theo yêu cầu của tiêu chuẩn ISO 9001:2000, việc thiết lập, thực hiện, lập văn bản và duy trì hệ thống quản lý chất lượng, tổ chức phải xác định được yêu cầu của khách hàng và đáp ứng các yêu cầu này để nâng cao sự thỏa mãn của khách hàng. Trong "mô hình hệ thống quản lý chất lượng dựa trên cách tiếp cận theo quá trình", đầu vào của quá trình kinh doanh của tổ chức là yêu cầu của khách hàng và đầu ra của quá trình là thỏa mãn nhu cầu khách hàng. Việc áp dụng ISO 9001:2000, đòi hỏi doanh nghiệp phải năng động hơn để có thể xác định được yêu cầu và mong đợi của khách hàng và tìm cách cải tiến để thoả mãn yêu cầu và mong đợi đó thông qua việc phân tích và đo lường sự thỏa mãn của khách hàng một cách đúng đắn và xác thực. Việc xác định yêu cầu và mong đợi của khách hàng sẽ giúp cho doanh nghiệp biết được mình nên sản xuất cái gì và không nên sản xuất cái gì hay nói theo ngành nông nghiệp là chúng ta nên trồng cây gì và nuôi con gì chứ không phải chỉ biết trồng và nuôi theo cảm nhận chủ quan của mình hay theo phong trào mà không cần biết có thỏa mãn khách hàng hay không. Chính vì thế việc đẩy mạnh việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng cho các tổ chức sản xuất - kinh doanh các sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu là cần thiết để có thể giải quyết vấn đề đầu ra cho sản phẩm nông nghiệp của chúng ta.

Thứ hai là áp dụng hệ thống "PHÂN TÍCH MỐI NGUY VÀ ĐIỂM KIỂM SOÁT TRỌNG YẾU" (HACCP) để đảm bảo an toàn và vệ sinh thực phẩm.

Ngày nay vấn đề an toàn và vệ sinh thực phẩm không chỉ là vấn đề sức khoẻ của người tiêu dùng, hay là vấn đề đạo đức kinh doanh của doanh nghiệp mà nó còn quyết định đến sự tồn tại, phát triển hay phá sản của doanh nghiệp.

Có hai câu chuyện đã xảy ra vào đầu năm 1997 ở hai doanh nghiệp khác nhau tại thành phố Hồ Chí Minh nhưng vẫn còn là bài học đáng giá cho những doanh nghiệp nào coi thường khách hàng. Thứ nhất là "đồ hộp lên đời" của Chi nhánh Công ty đồ hộp Hạ long và thứ hai là "gà chết" của Công ty gia cầm Việt Thái.

Ngày 19/3/1997, các cơ quan chức năng đã phát hiện chi nhánh công ty đồ hộp Hạ long cho "lên đời" 8.996 lon hết hạn dùng vào tháng 12/1996 thành hết hạn dùng tháng 12/2000. Tuy nhiên số lượng này chỉ là số lượng bị phát hiện tại hiện trường còn thực tế bao nhiêu thì người tiêu dùng lãnh đủ. Việc làm sai trái của chi nhánh này gây thiệt hại cho uy tín của công ty bao nhiêu thì không xác định được.

Chuyển qua vụ thứ hai là "gà chết" của công ty gia cầm Việt Thái, vụ này gây thiệt hại đáng kể không những riêng công ty mà còn ảnh hưởng lớn đến ngành chăn nuôi gia cầm còn non kém của chúng ta. Theo số liệu của công ty gia cầm Việt Thái, năm 1996 công ty đã mở rộng mạng lưới nuôi gia công lên đến 400 hộ và công suất nuôi là 2 triệu con, cung cấp cho thị trường trên 12.000 tấn thịt gà. Thế nhưng, đầu năm 1997 để "tận thu", công ty đã bán gà chết cho tư nhân và từ đây bán ra người tiêu dùng. Việc làm này đã dẫn đến tình trạng khách hàng lo sợ phải ăn nhằm gà chết nên nhu cầu tiêu thụ gà giảm mạnh làm cho không những công ty gia cầm Việt Thái lâm vào tình trạng khủng hoảng mà tất cả các nhà chăn nuôi gà cũng bị ảnh hưởng mạnh. Theo số liệu của công ty quí 4-1996, ngày cao nhất công ty bán ra 22.000-23.000 con gà sống, 5.000-6.000 con gà làm sẵn thì tháng 4 năm 1997 giảm xuống còn 10.000 con gà sống và gà làm sẵn chỉ dưới 1.000 con. Đồng thời còn khoảng 400.000 gà thịt quá tuổi chưa bán được và phải hủy hơn 200.000 con gà giống 1 ngày tuổi trị giá khoảng 1 tỉ đồng. Việc sai phạm của công ty gia cầm Việt Thái đã khiến cho một bộ phận người chăn nuôi bị thiệt hại do sản phẩm không bán được nên công ty phải thu hẹp mạng lưới chăn nuôi gia công ở thành phố và các tỉnh. Ngay cả công ty Gia cầm thành phố, đối tác của công ty gia cầm Việt - Thái cũng bị thiệt hại 100 triệu đồng do không bán được gà con phải hủy và chuyển trứng giống thành trứng thường. Nhiều người tiêu dùng đã từ bỏ thói quen mua gà làm sẵn và hàng loạt xe bán gà quay Việt Thái tại thành phố Hồ Chí Minh phải dẹp tiệm.

Hai câu chuyện trên xảy ra ở Việt Nam chưa phải là thiệt hại đáng kể cho nền kinh tế mà chủ yếu là thiệt hại chủ yếu thuộc về doanh nghiệp, nhưng có hai câu chuyện dưới đây xảy ra tại Anh đã tác động mạnh đến nền kinh tế nước và mức độ thiệt hại là một số không nhỏ.

Thứ nhất, bệnh bò điên ở Anh diễn ra cao điểm trong thời kỳ năm 1995-1997, gây thiệt hại to lớn đến ngành chăn nuôi bò ở nước này và ảnh hưởng đến hầu hết các nước châu Au. Chỉ tính riêng các chi phí trực tiếp liên quan đến việc giải quyết các đàn bò ở Anh đã là một con số đáng kể : chi phí để giết 800.000 con bò bị nghi ngờ nhiễm bệnh mất khoảng 36 triệu bảng Anh, chi phí để làm vệ sinh lò giết mổ mỗi tuần hết 1,5 triệu bảng, chi phí giết bê con 10 ngày tuổi khoảng 50 triệu bảng và chi phí bồi thường cho nông dân là 35 triệu bảng. Ngoài ra các ngành có liên quan cũng bị ảnh hưởng nặng như 660 cửa hàng của MacDonalds và 380 cửa hàng của Burger King phải ngưng cung cấp Hamburger trong vòng 3 ngày kể từ ngày thông tin về bệnh bò điên được công bố ngày 26/3/1996. Hậu quả của bệnh bò điên vẫn còn kéo dài đến ngày nay.

Thứ hai, bệnh lở mồm long móng hiện nay đang diễn ra đã làm Anh làm cho nền kinh tế Anh thiệt hại đáng kể do hàng loạt các nước ra lệnh cấm nhập khẩu thịt heo từ Anh. Theo thống kê của EU năm 2000 Anh đã xuất khẩu 160.000 tấn thịt heo vào thị trường châu Au với doanh số 111 triệu bảng. Việc cấm nhập khẩu thịt heo từ Anh của các nước đã gây ra thiệt hại đáng kể cho nông dân mà theo Bộ Nông nghiệp Anh mỗi tuần mất khoảng 12 triệu USD.

Qua đó chúng ta mới thấy rằng vấn đề quản lý chất lượng sản phẩm để đảm bảo vệ sinh và an toàn thực phẩm là vấn đề hết sức quan trọng. Hiện nay chúng ta mới xuất khẩu một vài sản phẩm nông nghiệp có nguy cơ kém an toàn và vệ sinh thực phẩm cao như rau sống và trái cây tươi và một số sản phẩm đóng hộp khác. Nếu trong tương lai chúng ta đủ khả năng xuất khẩu thêm một sản phẩm khác đặc biệt là các loại thịt gia cầm thì vấn đề đảm bảo an toàn và vệ sinh thực phẩm là hết sức quan trọng. Chính vì vậy chúng tôi thiết nghĩ cần phải tuân thủ phương châm "phòng bệnh hơn chữa bệnh". Chúng ta đừng vì mối lợi trước mắt mà phải trả học phí quá cao. Để chuẩn bị tốt cho thị trường xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp tươi sống như rau, trái cây, thịt heo, thịt gà... hay các sản phẩm đã qua chế biến đóng hộp như nấm rơm, dứa, bắp non..., chúng ta cần đẩy mạnh việc áp dụng HACCP.

HACCP là viết tắt của từ Hazard Analysis and Critical Control Points, có nghĩa là Phân Tích Mối Nguy Và Điểm Kiểm Soát Trọng Yếu. HACCP là phương pháp tiếp cận có tính khoa học, hợp lý và có tính hệ thống cho việc nhận biết, xác định và kiểm soát mối nguy trong sản xuất thực phẩm để đảm bảo an toàn khi tiêu dùng.

Nguyên tắc cơ bản dùng cho việc áp dụng HACCP là :

1/ Tiến hành phân tích những mối nguy. Những mối nguy ở đây có thể xuất phát từ sinh vật như vi khuẩn, vi trùng, côn trùng gây hại; có thể là các tạp chất như đá, sỏi, mảnh vỡ của thủy tinh hay xuất phát từ hóa học như dư lượng thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ...

2/ Xác định những điểm kiểm soát trọng yếu – mỗi điểm kiểm soát trọng yếu là một bước mà việc kiểm soát có thể áp dụng và cần thiết để ngăn chặn hoặc loại trừ một mối nguy an toàn thực phẩm hay giữ nó đến mức độ cần thiết.

3/ Thiết lập một ranh giới tới hạn (một ranh giới tới hạn là một tiêu chí cần phải phù hợp cho mỗi điểm kiểm soát trọng yếu)

4/ Thiết lập một hệ thống kiểm soát các điểm kiểm soát trọng yếu

5/ Tiến hành các hành động khắc phục khi hệ thống kiểm soát phát hiện một điểm kiểm soát trọng yếu nào đó không nằm dưới sự kiểm soát.

6/ Thiết lập những qui trình xác nhận nhằm bảo đảm hệ thống HACCP đang làm việc hiệu quả

7/ Thiết lập tài liệu dẫn chứng liên quan đến tất cả các thủ tục và các hồ sơ phù hợp với những nguyên tắc này và việc áp dụng chúng

Hệ thống HACCP đòi hỏi phải kiểm soát phải bắt đầu từ cơ sở sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng. Tại nông trường, trang trại trồng trọt hay chăn nuôi cần phải tiến hành các hoạt động ngăn ngừa sự mất vệ sinh an toàn thực phẩm như kiểm tra qui trình phun thuốc trừ sâu, kiểm tra thức ăn cho vật nuôi, bảo vệ hệ thống vệ sinh nông trường, tạo thói quen quản lý tốt thực phẩm hay sức khỏe vật nuôi. Tại nơi sản xuất phải ngăn chặn sự nhiễm bẩn trong suốt quá trình chế biến. Trong khâu lưu thông phải đảm bảo kiểm soát vệ sinh tại địa điểm chuyên chở, cất giữ và phân phối.

Tuy nhiên hiện nay tại Việt Nam chỉ có khoảng gần 50 doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản áp dụng HACCP do yêu cầu bắt buộc để xuất khẩu mặt hàng thủy hải sản vào thị trường châu Au và Bắc Mỹ, còn các ngành khác thì chưa được quan tâm. Đối với cà phê xuất khẩu thì điểm yếu nhất của chúng ta là cà phê bị mốc và lẫn đá sỏi hay tạp chất mà đây là lỗi nặng nhất đối với chất lượng cà phê. Việc áp dụng HACCP trong việc sản xuất và chế biến cà phê có thể loại bỏ những yếu tố này.

Tóm lại, việc xuất khẩu các sản phẩm từ nông nghiệp của Việt Nam vẫn còn là nguồn thu đáng kể cho đất nước. Chính vì vậy các doanh nghiệp chế biến hàng xuất khẩu từ sản phẩm nông nghiệp cần đẩy mạnh nâng cao nhận thức và đào tạo vấn đề quản lý chất lượng không những cho đội ngũ nhân viên của mình mà còn phải nâng cao nhận thức và đào tạo đến các trang trại, nông dân cung cấp sản phẩm. Chúng tôi hy vọng rằng chúng ta đừng bao giờ gặp phải tình trạng "gánh cỏ ba năm, đốt một giờ!".

Digital Marketing – Chìa khóa mở cửa kỷ nguyên tiếp thị hiện đại

  Trong thời đại số hóa, khi mọi tương tác, giao tiếp và quyết định mua hàng dần chuyển dịch lên môi trường trực tuyến, Digital Marketing ( ...