.jpg)
Ngày 20 tháng 6 năm 2008, tại Công ty Cổ phần Cao su Đồng Phú, Trường cán bộ quản lý nông nghiệp và PTNT II làm lễ khai giảng lớp Đào tạo Giám đốc doanh nghiệp khóa 21.
Tiến sĩ Kinh tế ngành QTKD, Giảng viên cơ hữu Đại học Tài chính - Marketing và Giảng viên thỉnh giảng các trường Đại học phía Nam
Sàn giao dịch" cà phê
Trần Ngọc Quyền (thực hiện)- Báo Thanh Niên ngày 08/06/2008
Sau hai năm chuẩn bị, Trung tâm Giao dịch (TTGD) cà phê Buôn Ma Thuột sẽ hoạt động vào đầu vụ cà phê 2008-2009 sắp tới. Ông Nguyễn Tuấn Hà (ảnh), Phó giám đốc Sở Công thương Đắk Lắk, Giám đốc TTGD cà phê Buôn Ma Thuột, nhận định đây là dấu mốc lịch sử trong hoạt động xuất khẩu cà phê của Đắk Lắk và của ngành cà phê Việt Nam.
* Lần đầu tiên, một TTGD về cà phê được hình thành ở Việt Nam. Trung tâm này sẽ tác động như thế nào đối với hoạt động mua bán, xuất khẩu cà phê?
- Cà phê là mặt hàng xuất khẩu chiến lược, kim ngạch hiện nay đã đạt hơn 1 tỉ USD mỗi năm. Tuy nhiên, dù là một cường quốc xuất khẩu cà phê nhưng cà phê Việt Nam lại thiếu một chỗ đứng ổn định trên thị trường thế giới. Các đơn vị xuất khẩu không dự báo chính xác nhu cầu của thị trường, chiều hướng biến động giá, cũng không chủ động được nguồn hàng, vốn thu mua, thường xảy ra tình trạng cạnh tranh, ép giá, chiếm dụng vốn lẫn nhau. Các cơ quan quản lý nhà nước thì không kiểm soát được thị trường. Ngoài ra, hiện nay đang nổi lên việc buôn bán cà phê qua mạng, giao dịch trên thị trường London (LIFFE), New York (NYBOT) thông qua những nhà môi giới mà người ta gọi là buôn bán "hàng giấy", dùng giao dịch kỳ hạn không phải như một công cụ phòng chống rủi ro. Điều này dẫn đến sự thiếu lành mạnh trong kinh doanh, khiến cho thị trường cà phê càng thêm phức tạp, khó quản lý, kiểm soát.
TTGD cà phê Buôn Ma Thuột ra đời nhằm thiết lập một thị trường giao dịch đấu giá tập trung, công khai cho các tổ chức sản xuất, kinh doanh, chế biến, tiêu thụ cà phê trong nước và quốc tế. Trên cơ sở đó tăng cường sự quản lý của Nhà nước, xây dựng thương hiệu cho cà phê VN, gắn kết sản xuất với thị trường, khắc phục những hạn chế trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu truyền thống.
* TTGD cà phê Buôn Ma Thuột sẽ hoạt động theo cơ chế nào?
- TTGD cà phê Buôn Ma Thuột là thị trường giao dịch mua bán giao ngay và mua bán giao sau theo kỳ hạn. Mua bán giao ngay là giao dịch mua bán thông thường theo thông lệ "tiền trao cháo múc", việc giao dịch, ký kết và thực hiện hợp đồng diễn ra một cách liên tục trong một khoảng thời gian ngắn, tính theo ngày. Còn đối với thị trường mua bán giao sau, hợp đồng mua bán được ký kết hôm nay, nhưng việc giao hàng và trả tiền được thực hiện sau đó theo các kỳ hạn.
TTGD cà phê Buôn Ma Thuột vừa là thị trường sơ cấp, vừa là thị trường thứ cấp. Ở thị trường sơ cấp, những giao dịch mua bán sản phẩm của người sản xuất lần đầu tiên được đưa vào giao dịch, hình thành hợp đồng nguyên thủy. Đối với thị trường thứ cấp (dành riêng cho giao dịch kỳ hạn), những giao dịch có thể mua bán lại quyền mua từ hợp đồng nguyên thủy (bên mua bán lại hợp đồng cho người khác). Nghĩa là TTGD cà phê Buôn Ma Thuột phục vụ cho cả người sản xuất và người kinh doanh, tiêu thụ.
* Để tham gia mua bán tại TTGD, các tổ chức, cá nhân phải đạt tiêu chuẩn gì?
- Theo quy chế thành viên thì các tổ chức kinh doanh xuất nhập khẩu cà phê trong nước và nước ngoài, các nông trường, chủ trang trại, hộ gia đình, tổ chức chế biến, tiêu thụ cà phê là những chủ thể có thể tham gia mua bán cà phê tại TTGD. Nhưng chỉ có các thành viên của TTGD cà phê Buôn Ma Thuột mới được trực tiếp thực hiện giao dịch mua bán tại đây. Các tổ chức, cá nhân không thành viên có thể thực hiện giao dịch mua bán thông qua một tổ chức môi giới thành viên.
Các tổ chức tài chính tham gia thị trường với vai trò là trung gian môi giới giao dịch mua bán và tư vấn cho các tổ chức không thành viên để hưởng phí giao dịch, phí môi giới. TTGD cà phê Buôn Ma Thuột sẽ có 2 tổ chức ủy thác: ngân hàng (Techcombank) ủy thác thanh toán, thanh toán bù trừ các khoản vốn, ký quỹ theo kết quả giao dịch tại trung tâm; tổ chức kiểm định chất lượng sản phẩm (Cafécontrol), thực hiện việc xác định chất lượng sản phẩm trong quá trình chuyển giao khi thực hiện hợp đồng.
* Hoạt động của TTGD cà phê Buôn Ma Thuột sẽ đem lại lợi ích thế nào cho doanh nghiệp và người sản xuất?
- Việc chuẩn bị cho TTGD đi vào hoạt động đang trong giai đoạn nước rút. Hoạt động của TTGD cà phê chưa diễn ra nên chưa thể nói ngay là lời lãi cụ thể của các doanh nghiệp tham gia. Nhưng có thể thấy cái lợi cho các nhà kinh doanh khi thực hiện giao dịch tại đây, nhất là giao dịch sơ cấp, là tính thanh khoản cao (bởi hàng có sẵn trong kho), được cung cấp thông tin, tư vấn và các dịch vụ tiện ích, các thủ tục cho hoạt động kinh doanh xuất khẩu. Qua nhiều hội thảo, chúng tôi đã nhận được nhiều ý kiến ủng hộ của người nông dân. Nhất là khi họ biết rằng có thể ký gửi hàng hóa tại kho của TTGD, có thể dùng chứng thư hàng ký gửi vay vốn đầu tư của các tổ chức tín dụng trong hệ thống của TTGD với sự bảo đảm chắc chắn, không phải lo "xù nợ" như diễn ra ở nhiều nơi bên ngoài.
Chuẩn bị cho nghị quyết mới của Trung ương về "nông nghiệp – nông thôn – nông dân" Việt Nam
Nông nghiệp Việt Nam đóng vai trò to lớn trong phát triển kinh tế nông thôn, xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho dân cư nông thôn. Nông nghiệp đã trở thành ngành sản xuất hàng hoá quan trọng, tham gia ngày càng sâu sắc vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Nền nông nghiệp của Việt Nam đã và đang chuyển mạnh từ sản xuất theo mục tiêu số lượng sang hiệu quả và chất lượng, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm và bền vững. Phát triển nông nghiệp nông thôn luôn là vấn đề trọng tâm mà Đảng và Chính phủ quan tâm và đã được thể hiện bằng nhiều chủ trương, chính sách như Chỉ thị 100 của Ban Bí thư (khoá IV), Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (khoá VI) được triển khai cùng các chỉ thị, nghị quyết khác của các Đại hội và Hội nghị Trung ương của các khoá V, VI, VII đã đưa đến những thành tựu to lớn trong nông nghiệp, nông thôn nước ta
Đề án này tập trung vào giải quyết hài hoà các mối quan hệ: phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nông dân là nhiệm vụ mang tính chiến lược đặc biệt trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đây vừa là mục đích, vừa là giải pháp đảm bảo ổn định chính trị, xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thành công. Phát triển nông nghiệp nông thôn phải hài hoà và phù hợp với yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn phải gắn với xây dựng đời sống văn hoá và bảo vệ, cải tạo môi trường. Công nghiệp và dịch vụ phải tham gia tích cực thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, giải quyết việc làm và nâng cao đời sống của nông dân. Trung ương tới đây cần phải phân tích cho đúng tình hình để đề ra được nghị quyết với những chính sách mới nhằm thực hiện được đúng chủ trương hài hoà các mối quan hệ này.
Phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nông dân là nhiệm vụ mang tính chiến lược đặc biệt trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Để chuẩn bị cho việc đánh giá 5 năm triển khai thực hiện nghị quyết TW 5, Trung ương tới đây sẽ thực hiện phân tích tình hình để đề ra được nghị quyết với những chính sách mới nhằm thực hiện hài hoà các mối quan hệ giữa "nông nghiệp – nông thôn – nông dân". Tuy nhiên, lâu nay hầu hết các hội thảo đều tập trung vào nông nghiệp và nông thôn, chưa chú ý đến "nông dân", chưa xem xét các khía cạnh liên quan đến xã hội, văn hoá nông thôn.
Vì vậy, Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn đã phối hợp với Báo Tia sáng tổ chức hội thảo "Người dân nông thôn miền nam Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa: Vấn đề và Giải pháp". Hội thảo được tổ chức vào ngày 09/06/2008 tại trường cán bộ quản lý nông nghiệp trung ương 2, qui tụ khoảng 50 các nhà khoa học và quản lý trong lĩnh vực nông nghiệp cũng như lĩnh vực khoa học xã hội có liên quan có uy tín và kinh nghiệm thực tiễn để trao đổi các vấn đề mà người nông dân cũng như của ngành nông nghiệp và nông thôn miền nam Việt Nam đang phải đối mặt, tìm ra những giải pháp có hiệu quả để giải quyết các trở ngại cho công cuộc phát triển nền nông nghiệp Việt Nam theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa, nâng cao đời sống tinh thần và vật chất cho nông dân cũng như phát triển nông thôn theo hướng bền vững, hài hòa với thiên nhiên.
Hội thảo tập trung thảo luận và làm rõ một số vấn đề sau: Nguyên nhân chính gây cản trở cho phát triển nông nghiệp nông thôn, gây cản trở cho việc huy động lực lượng của nông dân? Đề xuất các giải pháp chính sách có liên quan như: chính sách thương mại thị trường, chính sách quản lý tài nguyên (Đất đai, lao động), chính sách tài chính, chính sách thu hút đầu tư phát triển doanh nghiệp ngành nghề nông thôn, chính sách phát triển cộng đồng thể chế nông thôn,chính sách cải cách hành chính và dịch vụ công, chính sách quy hoạch nông thôn, chính sách xóa đói giảm nghèo, phúc lợi xã hội, phòng chống rủi ro cho xã hội và các chính sách ưu tiên khác. Ngoài ra khuyến khích các ý tưởng đề xuất về mô hình nông thôn mới, nông nghiệp mới cho từng vùng.
Với các chuyên đề nhìn thẳng vào thực trang và những vấn đề mà nông nghiệp – nông thôn - nông dân miền nam Việt Nam đang đối mặt như: Những ảnh hưởng của kinh tế vĩ mô đến nông nghiệp nông dân Nam bộ, Vai trò của nông dân trong phát triển nông nghiệp nông thôn đồng bằng sông Cửu Long, Đời sống của người nông dân An Giang và Đồng bằng Sông Cửu Long, Tri thức, quản lý tri thức và phương pháp tham vấn cộng đồng trong việc thực hiện mục tiêu phát triển nông thôn Nam Bộ, Tham gia "4 nhà" trong phát triển nông thôn nông nghiệp nông dân đồng bằng sông Cửu Long, Phải tránh một kịch bản xấu về nông thôn và nông dân trong thời gian tới, Động lực cho người dân nông thôn Nam Bộ trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hoá … do các nhà khoa học và quản lý với nhiều góc nhìn khác nhau. Hội thảo đã cung cấp nhiều thông tin mang tính thực tiễn và đề xuất nhiều giải pháp để thúc đẩy quá trình đổi mới và công nghiệp hóa – hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn miền nam nói riêng cũng như của Việt Nam nói chung phù hợp với xu hướng phát triển của thế giới, xu hướng hội nhập WTO và phù hợp với sự mong đợi của người nông dân.
Hội thảo là một trong chuỗi các cuộc hội thảo, tọa đàm do Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn phối hợp với nhiều cơ quan thông tin hoặc các tổ chức trong nước nhằm thu nhận ý kiến đóng góp ở nhiều khía cạnh khác nhau có liên quan đến nông nghiệp – nông thôn – nông dân Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế thế giới của nước ta.
Nguồn: Từ Minh Thiện – Giám đốc Trung tâm tư vấn và hỗ trợ nông nghiệp Tp.HCM.
Nghiên cứu này nhằm xây dựng cơ sở khoa học hình thành và phát triển thể chế giao dịch nông sản ở Việt Nam. Nghiên cứu thể chế giao dịch nông sản bao gồm phân tích, đánh giá cấu trúc tổ chức, cơ chế hoạt động và điều kiện vật chất của các hình thức giao dịch nông sản ở Việt Nam. Các hình thức giao dịch nông sản được nghiên cứu chia thành 3 nhóm chính: giao dịch giao ngay, giao sau và sản xuất theo hợp đồng.
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính để xây dựng cơ sở khoa học hình thành và phát triển thể chế giao dịch nông sản. Thông qua nghiên cứu thực địa (Field research) và nghiên cứu so sánh lịch sử (Historical comparative research), đề tài mô phỏng thế giới thực các hình thức giao dịch nông sản về mặt cấu trúc, cơ chế tương tác giữa các chủ thể tham gia vào quá trình giao dịch trong điều kiện vật chất cụ thể có tính lịch sử. Đề tài sử dụng lý thuyết kinh tế, quản trị, luật học và lý thuyết hệ thống (System theory) để phân tích so sánh các tình huống thực tế trong thế giới động nhằm hệ thống hóa, phân loại, tổng quát hóa vấn đề tìm ra bản chất, đặc trưng của các hình thức giao dịch nông sản. Việc nghiên cứu các hình thức giao dịch nông sản được thực hiện thông qua phỏng vấn sâu nông dân, người mua gom, HTX, doanh nghiệp và một số tổ chức nhà nước.
Đề tài nghiên cứu các văn bản pháp lý để đánh giá những chính sách quản lý vĩ mô tác động đến hoạt động giao dịch nông sản.
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu tình huống (case study) để nhận dạng và phân loại các hình thức giao dịch nông sản ở Việt Nam. Các tình huống chọn lựa mang tính chất phổ biến ở Việt Nam. Thông qua việc nghiên cứu tình huống, đề tài phân tích, đánh giá và đưa ra các vấn đề nảy sinh trong hoạt động giao dịch nông sản ở Việt Nam. Đây là cơ sở để hình thành và phát triển thể chế giao dịch nông sản.
Để hình thành và phát triển thể chế giao ngay, đề tài đã đề xuất cấu trúc, cơ chế và điều kiện vật chất, cùng với một số giải pháp: xây dựng hệ thống thông tin thị trường nông sản cả nước; phát triển thương mại điện tử; đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực; tổ chức hoạt động cho người mua gom trong hoạt động tiêu thụ nông sản; phát triển kết cấu hạ tầng; điều tiết cung cầu nông sản và tổ chức lưu thông hàng hóa.
Để hình thành và phát triển thể chế giao sau, đề tài đã đề xuất cấu trúc, cơ chế và điều kiện vật chất cho hợp đồng tiêu thụ sản phẩm và Sở giao dịch hàng hóa, cùng với một số giải pháp: hoàn thiện pháp luật liên quan đến giao dịch giao sau nông sản; xây dựng và thực hiện chương trình đào tạo cấp chứng chỉ hành nghề giao dịch hàng hóa.
Để hình thành và phát triển thể chế giao dịch sản xuất theo hợp đồng, đề tài đã đề xuất cấu trúc, cơ chế và điều kiện vật chất một số mô hình sản xuất theo hợp đồng và đề xuất một số giải pháp: sản xuất nông sản theo tiêu chuẩn chất lượng; xây dựng và hoàn thiện chính sách đất đai nhằm thúc đẩy tích tụ và tập trung đất đai cho sản xuất nông nghiệp; thành lập trung tâm xúc tiến sản xuất theo hợp đồng và giám sát thực thi hợp đồng thuộc Sở Nông nghiệp và PTNT; phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động tổ hợp tác, hợp tác xã, hiệp hội.
Đề tài cũng đề xuất một số kiến nghị đối với các Bộ, Ngành trung ương, UBND các tỉnh, thành phố và một số kiến nghị đối với doanh nghiệp để nhằm hoàn thiện thể chế giao dịch nông sản.
Từ khóa:
Tiếng Anh: transaction, institution, agricultural produce market, spot transaction, forward transaction, futures transaction, option transaction, contract farming, marketing contract, agricultural wholesale market.
Foodlinks America báo cáo về việc Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ trả lại ngân sách trợ cấp cho nông dân
Foodlinks America reports on unspent commodity funds
Barbara Vauthier reports in the TEFAP Alliance's blog and newsletter Foodlinks America this week:
While millions of hungry Americans besiege food banks and food pantries across the country with requests for emergency assistance, the U.S. Department of Agriculture (USDA) returned $81 million in fiscal year 2007 funds to the Treasury that could have been spent to purchase bonus commodities, according to a recent report from the Congressional Research Service (CRS).
The money in question was allocated to Section 32, a permanent appropriation that since 1935 has earmarked the equivalent of 30 percent of annual customs receipts to support agriculture activities and the farm sector, including child nutrition and emergency food programs. By statute, Section 32 funds are to be used only for: (1) encouraging the export of farm products through producer payments or other means; (2) encouraging the domestic consumption of farm products by diverting surpluses from normal channels or increasing their use by low-income groups; and (3) reestablishing farmers' purchasing power.
Under the second purpose, USDA's Agricultural Marketing Service (AMS) purchases surplus commodities – everything from grapefruit juice to bison meat – for domestic food assistance programs, such as the School Lunch Program, The Emergency Food Assistance Program (TEFAP), and the Commodity Supplemental Food Program (CSFP). These surplus or "bonus" buys have been a mainstay of emergency food providers nationwide for the last decade, although declining supplies in the past four or five years have significantly reduced government foodstuffs provided to the poor.
Instead, USDA policy under President Bush seems to be favoring the third purpose of the law – reestablishing farmers' purchasing power. Section 32 has been used in recent years for disaster initiatives and other purposes, such as compensating livestock owners for animals lost in the droughts of 2001-2002, helping Florida citrus growers replace trees lost in hurricanes and freezes, and supporting AMS administrative expenses for direct food purchasing, including the establishment of a new computer system.
AMS officials told Foodlinks America that the agency has considerable discretion under Section 32 and is under no obligation to spend the funds just because they are available. They noted that any bonus purchases must be economically and legislatively justified and approved by the Secretary of the Department. Nonetheless, with USDA proactively implementing initiatives such as bartering excess commodities (see Foodlinks America of September 14, 2007 and March 14, 2008) in order to try to pump more product into the emergency food system, it is curious that available funds went unused.
CRS noted that "AMS had a potential 'carryout,' or unobligated balance, of $581 million at the end of the [2007 fiscal] year. However, the Section 32 law permits no more than $500 million to be carried into the subsequent fiscal year. So AMS returned the excess, or $81 million, to the U.S. Treasury."
State commodity distribution agencies were concerned and perplexed by USDA's failure to utilize all available funds to address growing hunger needs. "Our EFOs [Emergency Feeding Organizations] have seen on average a 20 to 40 percent increase in demand mainly due to high energy costs this winter," said Randy Mraz, emergency food assistance director for the Maine Department of Agriculture, Food and Rural Resources. "Our food supply is at a five-year low. It is unfortunate that the USDA chose not to use available funds to bolster the supplies for the emergency feeding networks," he added.
CRS reports are not always posted to the internet. If somebody notices a link to this one, please mention it in the comments, and I'll add the link to this post.
Xây dựng mối quan hệ giữa nông dân và người tiêu dùng thông qua nỗ lực marketing trực tiếp ở địa phương
Local direct marketing efforts build grower-consumer relationships
MARISSA MULLETT
By MARISSA MULLETT
OSU Extension
Because U.S. consumers value the opportunity to purchase fresh, locally grown foods, they are increasingly interested in supporting agriculture through direct marketing. In Coshocton County the public participates in direct marketing efforts by purchasing goods from the farmers market, participating in community supported agriculture programs (CSA), and by patronizing farm stands and wineries.
Ohio ranks fifth in the nation for its agricultural direct marketing sales. By definition, direct marketing in the agricultural industry refers to food purchasing methods that promote producer-consumer interaction.
Farmers markets are perhaps the most commonly recognized form of direct marketing. According to the USDA, in 2006 there were 4,385 farmers markets in the United States compared to 1,755 in 1994. Area growers who participate in the Coshocton County Farmers Market Association make it possible for members of the community to purchase locally-produced foods May through October.
The USDA also reports that 82 percent of farmers markets are self-sustaining and 58 percent of them accept WIC coupons, food stamps, and other local/state nutrition programs.
According to an Ohio State University study, 73 percent of Ohioans are willing to pay more for foods that are locally-produced. However, when comparing prices at the grocery store with farmers market prices, store prices are typically higher.
CSA is another form of direct marketing that is growing in popularity in the county and across the nation. Farms that offer CSA require consumers to make a financial commitment with the agricultural establishment. In return, the consumers will receive a basket of food from the farm on a weekly basis (typically late spring through fall). CSA farms generally offer a variety of vegetables, fruits, and herbs. But, some also offer a share of eggs, meat, milk, and baked goods.
The financial commitment to a CSA varies. Locally, consumers can expect to invest anywhere from $200 for a half season to $500 for a full season. Traditionally, CSA payment is due upfront. As far as delivery is concerned, some CSA operators deliver produce to consumers, while others prepare the goods for consumer pick up on specific day.
Sản xuất sữa hữu cơ khó khăn nhưng nhiều lợi nhuận
Organic Dairy Farming Tough But Profitable
Last updated Saturday, March 22, 2008 6:26 PM CDT in Business
By Kim Souza
The Morning News
Facing near starvation in the summer of 2006, Wayne Hale of Evansville and John Robert and Carolyn Hart of Prairie Grove, looked to the organic dairy sector for greener financial pastures.
After more than three decades of operation, both dairies were facing extinction with fluid milk prices below $8.50 per hundred-weight, or cwt. (Hundred-weight is the standard measurement for milk in pounds; 1 cwt. equals 8.6 gallons.)
When Larry Hale, director of Central Organic Milk Producers, offered to pay the farmers a 3-year base rate of $24.50 per cwt. with a $2 quality premium, Wayne Hale and Hart took notice.
"I saw this move to organic as a way to keep the dairy open, at a time when dairies were closing all over the state," said Wayne Hale, who has owned and operated his 360-acre dairy farm south of Lincoln since 1976.
The Harts found themselves in a similar situation. The couple has operated their 250-acre dairy farm for 38 years, transitioning to organic production in June 2006. The Harts were the first certified organic dairy in the state.
GROWING TREND
The conversion of the two dairy farms are part of growing U.S. trend to produce organic milk to supply a consumer market growing at an annual rate of 20 percent.
The two Washington County dairies and seven other dairies in the state joined the Central Organic Milk Producers Cooperative in 2006. The cooperative has 21 organic dairies under contract and four others in transition. Almost half of the cooperative's 186,046 gallons of milk collected in February came from Arkansas organic dairy farms. Other farms in the group are located in Illinois, Kansas, Missouri and Oklahoma.
Larry Hale said while the move to organic dairy producing is a popular trend in the northern U.S., southern dairymen have been slower to make the move.
"When the organizational meetings started up in early 2006 there was a great deal of interest among all Arkansas dairymen, as record low milk prices had most looking for any alternative to help them stay in business," Wayne Hale said.
He said the aging population of Arkansas dairymen and their need to retain health insurance through Dairy Farmers of America kept many from making the move to organic.
Larry Hale agreed higher organic prices created interest, but the three-year land transition and one-year cow transition to organic standards meant a cash outlay at least a year before the higher organic prices could be collected.
The Hales and Harts participated in a 2006 federal 20/80 rule that allowed them to feed 20 percent conventional grain and 80 percent organic feed for nine months, the last three months converting to 100 percent organic. During this transition period the milk was not sold as organic, but the farmers got a $2 per cwt. stipend to help with conversion expenses.
Both farmers said their fields were close to organic regulation, which disallows commercial fertilizers or pesticide applications for three years.
As nitrogen fertilizer became more expensive these farmers relied solely on poultry litter for fertilizer. Poultry litter is about the only fertilizer allowable under the U.S. Department of Agriculture organic guidelines, Wayne Hale said.
HIGHER COSTS
Both farmers were looking forward to the better financial returns from organic milk production. What they hadn't counted on were the higher prices to produce organic milk.
The federal mandate for alternative fuels has driven the costs of grains used to feed animals to all time highs.
Organic dairy feed has escalated past $500 per ton, almost double the cost of a conventional dairy feed.
With conventional corn costing more than $5 per bushel, there is not a financial incentive to grow organic corn, leaving the grain in short supply relative to demand, forcing prices up to $8.70 per bushel. Organic pastures can't be sprayed for insects or fertilized with nitrogen-based compounds which means they produce far less yields than conventional acreage, Wayne Hale said.
Caldwell Milling in Damascus is the only Arkansas source for organic dairy feed.
"We order our mixed feed from Caldwell and it's trucked in from Damascus by the ton. We had to purchase a second grain silo costing about $4,000 to handle the larger grain shipments. Because of the distance, only large orders - 3-ton minimum - are accepted," Carolyn Hart said.
The most popular organic dairy blend sold by Caldwell costs $517 per ton. The three-grain blend consists of corn, grounded roasted soy beans, milo and a certified organic mineral, said Becky Bradford, general manager for Caldwell Milling.
When organic wheat becomes available most dairy farmers will likely change to a four-grain blend that is priced a little lower, she said.
The Central Organic Milk Producers Cooperative has approved a 40-cent per cwt. payment to its producers effective in April to help offset grain prices, Larry Hale said.
The outlook for organic dairy farming is beginning to look better relative to conventional dairying, given downward pressure on conventional milk prices, said Jodie Pennington, dairy specialist for the University of Arkansas Cooperative Extension in Little Rock. Higher non-organic milk prices have resulted in more milk production, which has created an oversupply Pennington believes will soon result in lower prices paid to conventional dairy farmers.
He said organic dairy farms still have a slight financial advantage because higher prices for organic milk help offset a $5 per cwt. higher cost for organic milk production than conventional production.
LOWER PRODUCTION
As the new organic farmers quickly calculated profits in their heads from higher contract milk prices in 2006, they failed to realize the other side of the equation - decreasing milk production levels.
"Before I transitioned to organic methods, I fed a mixed corn blend almost exclusively and my cows ate non-stop. They produced high levels of milk and burned themselves out in three to four years time," Wayne Hale said.
Using the organic method, Hale said, his herd of 100 Holstein went through an amazing physical transformation.
"They are giving far less milk because I am feeding them only a fraction of the grain, given its high costs," he said.
Hale has instead put more emphasis on pasture grazing, planting red clover and other types of grain proteins this winter and spring. He said the cows are thinner, but healthier overall.
He has seen his milk production in cows freshening - just starting to milk - down as much as 50 percent. On average last year Hale said his production was off 38 percent in his first year of organic production.
Organic experts say milk production decreases after the transition because the cows are getting less corn.
While the Harts said their production is down only a fraction, they attribute the steady production levels to the fact they feed each cow 18 pounds of corn and soybean meal per day. In contrast, only half of Hale's cows are getting a 10-pound grain ration and the other half subsist on grazing, hay and oat supplements.
This spring, Hale plans to plant 60 acres of organic corn, which he will feed through the fall and winter in hopes of raising his production levels.
"I feel like my grandfather must have felt when he ran a dairy two generations back. He fed what he could grow and took the milk the he got," Hale said. "Of course, he didn't have my bills."
Hart said he would rather buy the grain feed than invest in the equipment and additional manpower he would need to grow corn. The Harts also operate five poultry houses to grow Cornish game hens for Tyson Foods Inc.
NEW THINKING
Both farmers said the transition to organic was a change in mindset as well as farm operations.
The emphasis shifted from maximum milk production in the conventional dairy to an overall farm economy on the organic side.
The farmers do not worry about milk prices. Their contracts are fixed for three years, unlike the monthly fluctuation of a conventional month-to-month contract.
"More emphasis is put on animal welfare and strong environmental policies," Carolyn Hart said.
The Harts experienced a high calf mortality as a conventional dairy. She said none of the local animal experts could explain why they lost so many calves.
Since the transition, the Harts report healthier calves and mothers. They leave the calves with the mother longer and even though that comprises milk production, they said its worth it to have the healthy calves and build a stronger herd.
Although the milk business lost money last year, a healthier milking herd allowed the Hales to sell excess calves and heifers which brought good prices. When these receipts were added to the farm's overall revenue, he said the year wasn't bad.
Both farmers said healthier animals also result in fewer veterinarian bills.
Hale said he made a trip to Amish country last year and learned of some homeopathic remedies used by Amish dairy farmers.
He gives the cows organic sea salt for extra minerals and uses only herb treatments for the rare ailments that arise.
TRAVELING MILK
Despite a local demand - pushing prices to more than $7 a gallon - for organic milk, the milk produced by Hart and Hale is shipped to Winchester, Va., where it's processed by H.P. Hood, one of three major organic dairy producers in the nation.
This 1,200 mile journey from the farm to processing factory and distribution to a grocery on the East Coast adds about $2 per gallon to the retail cost of organic milk, Pennington said.
Ozark Natural Foods in Fayetteville sells organic milk, trucked in from either Texas or Iowa under the Organic Valley Brand, said Matt Smith, a dairy buyer for the store. He said if there was a local organic dairy processor the store would offer milk from local producers.
Larry Hale said low volume levels of local organic milk production does not justify start-up or operating costs for a local dairy processor.
As more dairy farms transition to organic and local production levels increase, the demand for a regional processor could follow.
While Larry Hale doesn't anticipate a surge in transition among Arkansas dairies, he said several Missouri dairies are interested in conversion, with four new farms in already in transition.
Kinh nghiệm sản xuất theo hợp đồng của Desai Fruits and Vegetables, Ấn Độ
"King of fruit to rule all seasons"
Kalpesh Damor / Ahmedabad March 24, 2008
South Gujarat-based firm developing all-season mangoes.
Gujarat mangoes satiated taste buds of many in the White House last summer. And if all goes well, soon mango lovers across the globe would be able to relish the king of fruit all through the year.
South Gujarat-based Desai Fruits and Vegetables, the company which accounted 80 per cent of mango exports from Gujarat to the US last year, is currently developing a new variety of mango, which could be grown throughout the year.
The South Gujarat-based agri firm has already brought a team of three foreign experts to develop the variety.
"We want to develop such a variety in Gujarat, so that consumers can enjoy mangoes in all seasons. Currently, research is being carried out and the variety is under field trials," said Ajit Desai, chairman and managing director of Desai Fruits and Vegetables. He, however, refused to divulge more details on the project.
The company hopes to come out with the variety for commercialisation in around two years' time.
"Scientifically, it is feasible to develop such types of mango. This could be done by manipulating plant canope and soil," Anand Agricultural University, vice-chancellor, M C Varshney told Business Standard.
A few groups of farmers in Ratnagiri district of Maharashtra have also developed a new variety of Alphonso, which grows all through the year. This type of variety helps farmers to harvest crop every month.
Though Gujarat is known for its Kesar variety, Desai Fruits is developing new Alphonso variety for all seasons. In the past few years, the company has emerged as a strong player in the field of fruit and vegetable exports. "We were the first company to export banana for the first time in the history of Gujarat," he says.
The company currently is engaged in contract farming of mangoes, banana, pomegranate and other vegetables in the state, mainly in south Gujarat. The company has 1,200 acres of land under contract farming of fruit and vegetables in the state and around 400 farmers are associated with the company.
Last year, around 160 tonnes of mangoes were exported to the US, of which Desai Fruits accounted for 135 to 140 tonnes. Overall, it exported 1,400 tonnes of mangoes to US, Europe, Japan and Middle East last year.
In 2008-09, the company plans to export 1,800 tonnes of mangoes in 2008-09, including 500 to 700 tonnes of mangoes to the US. Lured by the impressive performance of the company, a Switzerland-based company CFI AG has picked up 80 per cent in the company, which as a turnover of Rs 32 crore.
1. Khái niệm thương lái
Trong hoạt động buôn bán hàng hóa nông sản ở Việt Nam thì hoạt động thu gom hàng hóa đóng vai trò rất quan trọng. Hoạt động này có vai trò kết nối người sản xuất, nông dân với thị trường. Tham gia trong hoạt động thu gom hàng hóa nông sản có nhiều chủ thể kinh doanh khác nhau, nhưng quan trọng nhất là thương lái. Thương lái là một thuật ngữ xuất phát từ từ "lái". "Lái" có nghĩa là người buôn bán một hàng hóa nhất định ví dụ như lái trâu. Liên quan đến thuật ngữ "lái", chúng ta có nhiều thuật ngữ khác nhau như "lái buôn" để chỉ hoạt động của những người mua hàng hóa nơi này đến nơi khác bán lại hoặc "lái vườn" để chỉ những người buôn bán trái cây. Thương lái là một thuật ngữ được sử dụng trong những năm gần đây khi nước ta chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá sang nền kinh tế thị trường và vai trò của người mua gom hàng hóa ngày càng được khẳng định. Trước đây lực lượng mua gom hàng hóa từ nông dân, chúng ta thường gọi là "tư thương" hoặc "tiểu thương". Thuật ngữ này có hàm ý tiêu cực để chỉ những người buôn bán nhỏ, làm trung gian môi giới giữa nông dân và thị trường. Họ bị xem là những người sử dụng nhiều thủ đoạn gian dối để mua rẻ bán đắt, chuyên ép giá nông dân và lũng đoạn thị trường.
Trong thực tế, những người mua gom hàng hóa có quy mô rất khác nhau từ nhỏ đến lớn. Có người chỉ mua gom hàng hóa trong phạm vi làng xã của mình, nhưng cũng có người mua gom hàng hóa cả vùng. Nước ta là nước nông nghiệp dựa trên lúa nước là chính, nên xuất hiện một thuật ngữ chỉ liên quan đến buôn bán lúa gạo, đó là "hàng xáo". "Hàng xáo" là người mua lúa của nông dân về giã hoặc xay xát để bán lại. Thuật ngữ "hàng xáo" xuất hiện từ lâu trong nên kinh tế nước ta. Tuy nhiên trong giai đoạn nền kinh tế nước ta là nền kinh tế kế hoạch hóa thì lực lượng này cũng bị đánh đồng với "tư thương".
Trong hoạt động thương mại nói chung, chúng ta có một thuật ngữ "thương nhân". "Thương nhân" là người buôn bán hàng hóa nói chung. Như vậy, thương lái hoặc hàng xáo cũng có xem như là thương nhân. Tuy nhiên, theo Điều 6, Luật Thương mại Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 14/6/2005 và có hiệu lực ngày 1/1/2006, có đưa ra khái niệm Thương nhân : "Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh." Như vậy, chỉ có những tổ chức hoặc cá nhân hoạt động thương mại thường xuyên và có đăng ký kinh doanh mới là thương nhân. Cách hiểu của Luật thương mại rất khác xa với thực tế cuộc sống vì khi nói đến thương nhân thì hầu hết những người Việt Nam đều hiểu rằng khái niệm đó đề cập đến chủ thể kinh doanh là cá nhân, chứ không đề cập đến chủ thể kinh doanh là một tổ chức. Theo cách giải thích của Luật Thương mại thì "thương lái" không phải là "thương nhân" vì những cá nhân này thường không đăng ký kinh doanh và một số hoạt động chuyên nghiệp, thường xuyên và một số hoạt động không chuyên nghiệp, không thường xuyên. Tuy nhiên, chúng ta cần phải hiểu thương lái là thương nhân vì họ chính là chủ thể tham gia hoạt động thương mại trong quá trình kinh doanh hàng hóa nông sản.
Như vậy, thương lái là thương nhân hoạt động thương mại trong lĩnh vực thu mua, chế biến và tiêu thụ hàng hóa nông sản. Họ là người thu gom hàng hóa từ nông dân, nhà sản xuất và bán lại cho nhà bán buôn hoặc nhà chế biến với tư cách là nhà bán buôn. Thương lái là người trung gian kết nối thị trường nông sản từ người sản xuất đến nhà bán buôn hoặc nhà chế biến.
2. Vai trò của thương lái trong thị trường nông sản
Thương lái đã xuất hiện trong nền kinh tế nước ta từ rất lâu và ngày nay vẫn còn tiếp tục phát triển. Hầu hết các hoạt động mua hàng hóa thu mua hàng hóa từ nông dân đều do thương lái đảm nhận. Trong nền kinh tế nước ta hiện nay, thương lái có những vai trò như sau:
2.1. Thương lái là chủ thể kinh doanh chính nằm trong chuỗi giá trị nông sản
Theo Hill và Ingersent (1977) mô tả tổng quá cơ cấu một chuỗi phân phối hàng hóa nông sản như sau:
[Hình 1]
Trong chuỗi giá trị sản xuất nông sản này bao gồm các chủ thể kinh doanh như sau:
Hoạt động của thương lái trong hệ thống kênh tiêu thụ lúa gạo Đồng bằng sông Cửu Long
Đồng bằng sông Cửu Long là vựa lúa lớn của cả nước với sản lượng lúa khoảng 18 triệu tấn. Để đưa một lượng lúa lớn này tham gia vào thị trường thì vai trò của thương lái rất quan trọng. Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp nước ta là phần lớn sản phẩm được sản xuất ở quy mô nhỏ, đơn lẻ, dựa trên mô hình kinh tế hộ gia đình là chủ yếu, vì vậy số lượng sản phẩm thường không lớn và không có sự đồng nhất về chất lượng. Để có được nguyên liệu cho sản xuất, hầu hết các doanh nghiệp chế biến nông sản hiện nay phải tự tổ chức các hình thức thu mua, đặc biệt là các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu ngành lúa gạo. Doanh nghiệp nào tổ chức công tác thu mua tốt thì có nguồn nguyên liệu ổn định, đảm bảo cho sản xuất không bị gián đọan, có thể nói công tác thu mua cũng là một trong những nguyên nhân quyết định sự thành bại của doanh nghiệp trên thương trường. Trong nền kinh tế nước ta hiện nay có rất nhiều chủ thể tham gia vào quá trình kinh doanh lúa gạo. Trong đó thương lái mua khoảng 80% sản lượng lúa từ nông dân [hình 2].
Thương lái sử dụng kiến thức hiểu biết của mình về ngành hàng, cùng với vốn để tổ chức thu gom nguyên liệu từ các hộ sản xuất đơn lẻ, sau đó đem bán lại cho doanh nghiệp, hoặc các đại lý doanh nghêịp chế biến hoặc các cơ sở xay xát chế biếnnhỏ của tư nhân trong vùng. Căn cứ tình hình diễn biến của thị trường, các doanh nghiệp cung ứng gạo xuất khẩu/ doanh nghiệp xuất khẩu gạo xây dựng và công bố đơn giá cho nguyên liệu chuẩn, đơn giá này thường không cố định mà thay đổi theo thị trường. Khi thương lái mang nguyên liệu đến chào bán, doanh nghiệp sẽ căn cứ vào đơn giá chuẩn và chất lượng nguyên liệu của thương lái để cùng đàm phán thương thảo giá mua cụ thể cho từng loại nguyên liệu.
Ưu điểm
Hạn chế
Tóm lại, qua khảo sát hoạt động của thương lái ở Đồng bằng sông Cửu Long trong ngành kinh doanh lúa gạo, chúng ta có thể nhận thấy rằng thương lái chiếm vị trí rất quan trọng trong chuỗi ngành hàng từ người sản xuất đến người tiêu dùng. Nếu không có lực lượng thương lái đi thu gom hàng hóa từ nông dân thì hàng hóa khó lưu thông được hoặc nếu được thì chi phí giao dịch cao hơn. Việc nông dân bán hàng hóa chủ yếu cho thương lái phù hợp với điều kiện và tập quán sản xuất và kinh doanh lúa gạo ở nước ta hiện nay.
Hoạt động của thương lái trong hệ thống kênh tiêu thụ cà phê Tây Nguyên
[Hình 3]
Cà phê là một loại nông sản chính của người dân vùng Tây Nguyên và là mặt hàng xuất khẩu lớn của Việt Nam. Việt Nam là quốcgia sản cà phê nhiều nhưng mức độ sử dụng cà phê tương đối thấp, hầu hết sản phẩm cà phê đều xuất khẩu và chủ yếu là xuất khẩu dưới dạng cà phê nhân. Qua khảo sát của nhiều tổ chức quốc tế thì lượng cà phê từ người sản xuất thì đến 93% lượng cà phê đã qua phơi khô và xay xát thành cà phê nhân hoặc cà phê tươi đều bán qua thương lái. Hiện nay, do lượng cà phê của người dân tương đối nhiều nên xu hướng chung người trồng cà phê là họ thích bán cà phê tươi. Chính vì vậy thương lái là đầu mối quan trọng để nối liền người trồng cà phê với thị trường.
Hoạt động của thương lái trong hệ thống tiêu thụ rau quả Cần Thơ
[Hình 4]
Nguồn: Phân tích ngành rau củ Cần Thơ,
Trong chuỗi giá trị của rau củ cần thơ, chúng ta thấy rằng nguồn thương lái thu mua 75% hàng hóa từ nông dân. Trong khi đó bán trực tiếp cho người bán sỉ là 15%; bán lẻ/siêu thị là 5% và bán trực tiếp cho người tiêu dùng là 5%. Chính vì vậy, thương lái cũng là chủ thể kinh doanh chính trong quá trình tiêu thụ nông sản.
2.2. Thương lái điều tiết cung cầu thị trường làm cho lưu thông hàng hóa được thông suốt.
Thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung, môi trường kinh tế - xã hội khuyến khích công thương hạn chế tư thương, Nhà nước hỗ trợ chủ trương phát triển mạng lưới mậu dịch quốc doanh và hợp tác xã mua bán, quản lý chặt hoạt động của thị trường tự do. Chính vì vậy hầu hết hoạt động của thương lái đều được xem bất hợp pháp. "Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 10 (tháng 12/1964) về thương nghiệp và giá cả xác định: chợ nông thôn là bộ phận của thị trường xã hội chủ nghĩa thống nhất. Cần phải tăng cường công tác tổ chức và quản lý, tiến tới làm cho chợ thực sự là nơi trao đổi trực tiếp giữa người sản xuất và người tiêu dùng, không có thương nhân tham gia". Trong quá trình phát triển những năm sau đó, chúng ta đã loại dần thương lái ra khỏi quá trình lưu thông hàng hóa vì thương nghiệp quốc doanh và hợp tác xã mua bán là lực lượng nòng cốt làm nhiệm vụ thu gom hàng hóa từ nông dân. Việc mua bán hàng hóa thời kỳ này chủ yếu dựa đến định suất và hàng hóa bị khan hiếm nghiêm trọng nên đã xuất hiện một lực lượng thương lái nhanh nhạy với thị trường tìm cách đáp ứng nhu cầu hàng hóa đang bị thiếu hụt. Việc kinh doanh của những người này bị xem là bất hợp pháp và từ đó xuất hiện từ "tư thương" để gán ghép cho lực lượng này. Sau năm 1986, Việt Nam chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường, thị trường nông sản hàng hóa bắt đầu phát triển và cùng lúc đó lực lượng thương lái phát triển. Quá trình tham gia vào hoạt động của thị trường, lực lượng thương lái ngày càng phát triển mạnh. Họ nhanh nhạy với thị trường và biết tạo ra các mối quan hệ không chỉ trong làng xã mình mà họ còn vươn ra bên ngoài, đến những tỉnh thành khác. Trong môi trường hội nhập kinh tế, nhiều thương lái còn mở rộng giao thương với nước ngoài như nhiều thương lái thu mua trái cây và bán sang Trung Quốc hoặc trong quý 4 năm 2006, giá lúa gạo Việt Nam tăng vọt thì chính lực lượng thương lái đã mang ghe sang tận Campuchia để thu gom hàng hóa về bán lại cho các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam. Lực lượng thương lái ở Việt Nam ngày càng đông đảo. Ví dụ như tỉnh An Giang: "Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ của ngành nông nghiệp tỉnh An Giang, toàn tỉnh hiện có trên 900 hộ thương lái mua bán vừa và lớn, gần 3.000 bạn hàng xáo, hoạt động hầu hết trên sông nước, kênh rạch, nhiều khi họ sang cả các tỉnh lân cận trong khu vực để thu mua nông sản." Trong điều kiện nền kinh tế nước ta hiện nay, hầu hết nông dân đều sản xuất nhỏ. Theo thống kê, khoảng 95% nông dân sản xuất nhỏ có từ vài 1-2 ha trở lại. Số nông dân có quy mô sản xuất lớn chiếm tỷ trọng rất thấp. Thêm vào đó hầu hết nông dân chủ yếu chỉ quan tâm đến việc trồng trọt hoặc chăn nuôi mà không quan tâm nhiều đến thị trường tiêu thụ. Để tập hợp được một lượng hàng hóa lớn để phục vụ cho công tác chế biến thì các doanh nghiệp chế biến cần phải thu gom hoặc ký hợp đồng với hàng ngàn hoặc hàng vạn hộ nông dân. Ví dụ năm 2003 Công ty Dịch vụ kỹ thuật nông nghiệp An Giang – Antesco ký hợp đồng mua bắp non với hơn 11.000 hộ nông dân. Điều này cho chúng ta thấy rằng việc ký hợp đồng với quá nhiều hộ nông dân như vậy, chắc chắn chi phí giao dịch sẽ tăng cao và hiệu quả kinh tế mang lại thấp. Tuy nhiên, số lượng doanh nghiệp thu mua trực tiếp từ nông dân không có nhiều. Trong khi lực lượng thương lái đến tận đồng thu gom và vận chuyển đến từng trạm thu mua của doanh nghiệp để bán lại. Chính vì vậy, vai trò của thương lái là không thể thiếu. Nếu vắng họ, cầu nối giữa doanh nghiệp và nông dân sẽ bị "nghẽn", quan hệ cung cầu sẽ không được điều tiết tốt.
Lực lượng thương lái hầu hết xuất phát từ nông dân, nhờ biết cách kinh doanh buôn bán mà trở thành lực lượng thương lái và ngày càng phát triển mạnh. "Ở Hội An (thuộc huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang), ai cũng thán phục chuyện làm thương lái mà đổi đời của vợ chồng Bảy Nghiệp. 5 năm trước vợ chồng Bảy Nghiệp nghèo rớt mồng tơi, thấy người ta làm lái bắp, lái khoai, lái kiệu… sống khỏe ru, Bảy Nghiệp đâm ham những không không có tiền làm vốn. Vợ chồng vừa làm thuê vừa tích lũy. Ban đầu Bảy Nghiệp khởi sự bằng cách mua vài ký dưa leo, chút ít cà chua, đậu đũa… chở xe đạp chạy bán dọc đường. Sau mang rau màu ra chợ xã rồi lên chợ huyện. "Góp gió thành bão", lần hồi đưa rau màu sang tận chợ Long Xuyên, xuống Cần Thơ, Vĩnh Long… mối mang làm ăn ngày càng nhiều, công việc thuận lợi. Chẳng bao lâu vợ chồng Bảy Nghiệp trở thành "lái lớn" hồi nào hổng hay, mỗi ngày thu mua hàng tấn rau màu các loại cung ứng cho các đại lý khắp vùng.". Hầu hết thương lái có vốn ít, số thương lái có từ vài trăm triệu đến hàng tỷ đồng chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ, còn thương lái có từ 15-50 triệu đồng là phổ biến. Chính vì vậy họ khó có thể đầu cơ để lũng đoạn thị trường vì vốn ít chắc chắn họ phải tranh thủ xoay vòng vốn nhanh.
2.3. Thương lái người tạo ra môi trường để người sản xuất điều chỉnh hành vi kinh tế và phát triển sản xuất theo hướng đến thị trường.
Thương lái là người nhanh nhạy, nắm bắt thị trường tiêu thụ. Họ am hiểu địa bàn, hiểu tâm lý nông dân và doanh nghiệp. Do đó họ dễ dàng thuyết phục người nông dân sản xuất theo thị trường. Chúng ta đã chủ trương sản xuất 1 triệu ha lúa chất lượng cao nhưng không thành công vì doanh nghiệp không thể nào ký kết hợp đồng với nông dân, còn thương lái đang nắm hệ thống tiêu thụ nông sản. "Ông Nguyễn Văn Xuyên, Giám đốc Sở NN&PTNT Kiên Giang cho biết: "Tỉnh đang tiến hành xây dựng vùng lúa chất lượng cao phục vụ xuất khẩu qui mô 100.000 ha. Theo đề án qui hoạch thì sản lượng lúa trên diện tích này sẽ được bao tiêu trước nhất. Đầu năm 2004 đã triển khai kế hoạch bao tiêu 30.000 ha, chúng tôi mời các doanh nghiệp ngồi lại cùng bàn bạc, phân công, chia chỉ tiêu cụ thể, nhưng cuối cùng chẳng có doanh nghiệp nào tham gia hợp đồng bao tiêu được. Một vấn đề bất hợp lý nữa là sức chứa lúa thật sự của 3 doanh nghiệp lớn trong tỉnh hiện tại chỉ đạt tối đa 70.000 tấn. Nếu thu mua hết diện tích 100.000 ha lúa chất lượng cao thì không tài nào có kho dự trữ đủ". Đặc điểm của thương lái họ chỉ kinh doanh những gì thị trường cần và luôn đặt chữ tín lên hàng đầu. Do đó họ sẵn sàng cung ứng vốn cho nông dân sản xuất và thu mua lại hàng hóa khi thu hoạch. Đối với mặt hàng nào dư thừa và khó tiêu thụ họ sẽ không mua cho nên sẽ không khuyến khích nông dân sản xuất. Chúng ta thường ca thán rằng: "được mùa, mất giá và mất mùa, được giá. Tuy nhiên nếu nhìn lại việc tổ chức sản xuất của chúng ta đang có nhiều khiếm khuyết dẫn đến tình trạng nhiều mặt hàng cung vượt cầu và nhiều mặt hàng thì cầu vượt cung. Trong hoạt động kinh doanh, nhiều thương lái đã tác động đến hành vi sản xuất của nông dân. Ví mục tiêu là tối đa hóa lợi nhuận cho nên họ hoạt động tuân thủ theo quy luật cung cầu. Họ sẽ mua giá thấp khi hàng hóa dư thừa và họ mua giá cao khi hàng hóa thiếu hụt. Chính điều này tạo động lực cho người sản xuất phải điều chỉnh hành vi kinh doanh của mình. Hiện nay việc tổ chức sản xuất hàng hóa chất lượng cao ở Việt Nam không thể thực hiện được là do bản thân doanh nghiệp không thể ký hợp đồng trực tiếp tiêu thụ nông sản cho nông dân còn nông dân thì chỉ muốn bán cho các thương lái và việc mua bán với thương lái dễ dàng dàng hơn. Do đó thương lái đã điều chỉnh hoạt động sản xuất của người nông dân. Ví dụ, người nông dân trồng cà phê ở Tây Nguyên ít sử dụng thường chỉ sử dụng phương pháp chế biến khô để sản xuất ra cà phê nhân vì thương lái mua cà phê chế biến ướt và chế biến khô không có sự chênh lệch lớn trong khi đó chi phí chế biến ướt cao hơn chi phí chế biến khô. Tương tự ở Đồng bằng sông Cửu Long, thường nông dân cũng chỉ bán lúa cho thương lái nên người nông dân cũng không quan tâm đến vấn đề chế biến vì nếu chế biến tốt như sấy lúa đạt độ ẩm thay vì phơi ngoài đồng thì giá cả thương lái mua cũng không cao hơn bao nhiêu. Chính điều này Việt Nam sản xuất hàng chất lượng cao gặp nhiều khó khăn.
Tóm lại, chính thương lái là người điều chỉnh hành vi sản xuất của nông dân trong chuỗi kinh doanh nông sản hiện nay.
2.4. Thương lái là người làm giảm chi phí giao dịch trong điều kiện sản xuất nông nghiệp còn phân tán, manh mún.
Sản xuất hàng hóa nhỏ lẻ, phân tán và manh mún là đặc điểm cơ bản của nền sản xuất nông nghiệp nước ta hiện nay. Mọi hoạt động kinh tế thường phải trải qua ba giai đoạn: sản xuất, phân phối và tiêu dùng. Mỗi giai đoạn đều có tầm quan trọng nhất định và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó phân phối còn được gọi là giao dịch hàng hóa, là trung tâm của hoạt động kinh tế. Mỗi phương thức tổ chức sản xuất quy định bối cảnh và phương thức tổ chức hoạt động trao đổi tương ứng với nó. Phương thức tổ chức sản xuất của nền nông nghiệp Việt Nam chủ yếu dựa theo nghề lúa nước có tính thời vụ và theo công đoạn sản xuất kém phát triển tự cấp tự túc, tự sản tự tiêu quy mô hộ gia đình là chính. Mỗi hộ gia đình chỉ có một vài công ruộng. Sản xuất được vài chục đến vài trăm giạ lúa. Với phương thức sản xuất này, các doanh nghiệp khó có thể tiếp cận người nông dân với chi phí thấp được. Theo thống kê của tỉnh An Giang, các thương lái, bạn hàng xáo thu lãi từ 20 - 30 đồng/kg lúa; lúa gia công chế biến thành gạo lãi 50 - 100 đồng/kg; rau dưa các loại lãi 120 - 150 đồng/kg; cá tra, cá basa lãi 150 - 200 đồng/kg... Khoản lãi này thật sự chưa cao trong khi chưa tính đến tỷ lệ hao hụt qua cân và chi phí bảo quản. Với chi phí này thì các doanh nghiệp không thể nào cạnh tranh được với thương lái do bộ máy tổ chức cồng kềnh, trong khi đó thương lái "lấy công làm lời" là chính.
Trong hoạt động kinh doanh nông sản hiện nay, qua khảo sát thì hầu hết nông dân đều biết giá cả thị trường từng thời điểm do các phương tiện thông tin đại chúng như radio, truyền hình, điện thoại di động phát triển mạnh. Nhiều nông dân ở vùng cà phê Tây Nguyên còn nắm rõ thông tin thì trường cà phê thế giới. Hiện nay không có rào cản nào về mặt thông tin. Bên cạnh đó với lực lượng thương lái đông đảo và cạnh tranh nhau quyết liệt. Chính điều này sẽ làm cho chi phí tìm kiếm thông tin và bán sản phẩm tương đối thấp.
Tóm lại, với sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng thương lái đã làm giảm chi phí giao dịch, giúp nông dân dễ dàng đưa nông sản ra thị trường với chi phí thấp hơn.
3. Những vấn đề còn tồn tại của tổ chức hoạt động thương lái
Mặc dù thương lái tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong hoạt động giao dịch nông sản ở nước ta hiện nay, tuy nhiên hoạt động của thương lái còn tồn tại những khiếm khuyết sau:
- Hành vi ứng xử của thương lái hoàn toàn theo tín hiệu của thị trường nên dẫn đến tình trạng "được mùa mất giá và mất mùa được giá".
- Một số thương lái xuất thân từ nông dân nên việc kinh doanh chưa mang tính chất chuyên nghiệp và rủi ro cao. Thậm chí một số thương lái không cạnh tranh được trên thị trường làm ăn thua lỗ và họ chuyển rủi ro này cho người nông dân hoặc doanh nghiệp phải gánh chịu.
- Nhiều thương lái không quan tâm đến chất lượng hàng hóa nên mua tất cả dù chất lượng tốt hay xâu. Điều này làm cho người sản xuất cũng không quan tâm đến chất lượng.
4. Tổ chức hoạt động của thương lái trong thị trường tiêu thụ nông sản
Vận động thương lái tham gia vào hiệp hội các nhà buôn hoặc hợp tác xã
Trước những hạn chế của hoạt động của thương lái trong thị trường tiêu thụ nông sản thì việc tổ chức cho thương lái hoạt động là điều hết sức quan trọng. Việc tổ chức cho thương lái hoạt động trong các hiệp hội hoặc trong HTX là được xem là giải pháp phát triển bền vững của thị trường tiêu thụ nông sản. Việc vận động thương lái tham gia vào HTX hoặc hiệp hội là điều không phải dễ dàng. Quá trình phát triển hợp tác, liên kết với nhau là đòi hỏi phải có thời gian. Đặc biệt, người ta chỉ hợp tác với nhau khi thấy cùng chung lợi ích. Để thương lái có thể tham gia vào hợp tác xã hoặc than2h lập hiệp hội thì vai trò của chính quyền địa phương rất quan trọng. Chính quyền địa phương ở cấp xã, huyện phải vận độn, thuyết phục thương lái thành lập các hiệp hội và bảo vệ quyền lợi cho họ. Hiện nay, chúng ta xây dựng nhiều hiệp hội và hợp tác xã nhưng thương lái chưa được tham gia nhiều vì còn tình trạng đố kỵ, xem họ là người mua gian, bán lận.
Tổ chức thương lái thành lực lượng mua hàng của doanh nghiệp
Thương lái đóng vai trò quan trọng trong quá trình thu mua hàng nông sản. Để phát huy tính tích cực và hạn chế tính tiêu cực của thương lái thì việc tổ chức lại hoạt động của thương lái sẽ giúp ổn định thị trường nông sản. Thương lái phải là chủ thể tham gia vào chuỗi cung cấp hàng hóa cho doanh nghiệp. Sở dĩ như vậy là vì thương lái có khả năng len lõi vào vùng sâu, vùng xa giúp cho doanh nghiệp giảm bớt chi phí giao dịch.
Contract farming did no good to farmers, says IIM-A study
Posted online: Monday, August 14, 2006 at 0000 hours IST
NEW DELHI, AUG 13: Contract farming in the country has not benefited the farmers. Appropriate institutional arrangements, legal provisions and government intervention are needed to protect the interests of farmers, said a study conducted by an expert from Ahmedabad-based Indian Institute of Management (IIM-A).
The study conducted by Sukhpal Singh of the IIM-A's Centre for Management in Agriculture noted "contract farming, in political economy, is one mode of capitalist penetration of agriculture for capital accumulation and exploitation of farming sector by the agribusiness companies."
It said that new concept is the result of the recent developments in marketing, food habits, technology and agriculture in the new economic environment.
The entitled study 'Contract Farming for Agricultural Development' was commissioned by the Centre for Trade & Development (Centad), an initiative of Oxfam GB in India.
The study noted contract farming is being practiced in India by MNCs like Cadbury in cocoa, PepsiCo in potato, chillies and groundnut, Unilever in tomato, chicory, tea and milk, ITC in tobacco, wood trees and oilseeds, and Cargill in seeds.
There are also domestic corporates in the field like Ballarpur Industries, JK Papers and Wimco in eucalyptus and poplar trees, Green Agro Pack, VST Natural Products, Global Green, Intergarden India, Kempscity Agro Exports and Sterling Agro in gherkins, United Breweries in barley, Nijjer Agro in tomato, Tarai Foods in vegetables, M Todd in mint, and Namdhari Seeds in seeds. There are also various government and semi-government agencies involved. Financial institutions and banks assisting contract farming. The new changing dynamics of contract farming was the consortium approach note by the study.
It noted a general monopsony of corporates and contracts being loaded against the interests of farmers. It also dwelt on the problems faced by contract growers, particularly in Punjab and Haryana.
With an aim to mitigate the situation, the study suggested formation of "new generation of co-operatives" for increasing the bargaining power of contract growers.
Trong thời đại số hóa, khi mọi tương tác, giao tiếp và quyết định mua hàng dần chuyển dịch lên môi trường trực tuyến, Digital Marketing ( ...