Chủ Nhật, 10 tháng 7, 2011

Nghiên cứu ứng dụng chuỗi giá trị sản xuất và tiêu thụ nông sản


(Bài đăng trên Tạp chí Tia Sáng - Nhấp vào tiêu đề để xem toàn bộ nội dung)

GS.TS. Võ Tòng Xuân

Suy nghĩ về vấn đề bức bách nhất mà ngành nông nghiệp chưa làm được là ổn định đầu ra của sản phẩm, GS Võ Tòng Xuân có bài viết đề cập các tình huống dẫn đến những thất bại và thành công vừa qua của thị trường nông nghiệp Việt Nam, phân tích những điều kiện đáp ứng thị trường, và phương pháp vĩ mô cần áp dụng để tạo thị trường, với thí dụ thành công của Malaysia về dầu cọ.

Trong hơn 2 thập kỷ rồi, mặc dù có nhiều thiên tai, dịch bệnh, nhưng nông dân sản xuất thường trúng mùa, nhưng giá bán nông sản thường là không trúng, hàng hoá bán cho thương lái quá rẻ, nhiều khi vẫn khó tìm người mua. Lợi tức nông dân ngày càng giảm khi sản lượng ngày càng tăng. Cả nông dân và Nhà nước đều thấy rõ làm tăng sản lượng thì dễ nhưng làm tăng lợi tức thì rất lúng túng. Một trong các nguyên nhân chính là thị trường.

Trong bài này tác giả đề cập đến các tình huống dẫn đến những thất bại và thành công vừa qua của thị trường nông nghiệp Việt Nam, phân tích những điều kiện đáp ứng thị trường, và phương pháp vĩ mô cần áp dụng để tạo thị trường, với thí dụ thành công của Malaysia về dầu cọ; việc triển khai một chương trình nghiên cứu ứng dụng để tìm ra khung chính sách đồng bộ về chiến lược phát triển thị trường, bắt đầu từ xác định các mặt hàng có lợi thế tương đối vùng nhiệt đới, tổ chức nghiên cứu toàn diện về sản xuất, chế biến và bảo quản mặt hàng, chính sách thuế hấp dẫn các thành phần kinh tế đầu tư sản xuất mặt hàng, tổ chức tìm thị trường và giữ thị trường, cung cấp thông tin thị trường, tổ chức sản xuất qui mô lớn bằng các hợp tác xã nông nghiệp (HTXNN) hoặc trang trại, sửa đổi thêm nữa các luật đầu tư và luật hợp đồng để các nhà đầu tư yên tâm; tầm quan trọng các công tác chuẩn bị hội nhập toàn cầu như đẩy mạnh giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực cho các ngành, đặc biệt ngành quản lý, kinh doanh nông nghiệp và tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng nông thôn.



Thứ Sáu, 1 tháng 7, 2011

  1. TS Bảo Trung; TS Đinh Công Tiến; TS Hoàng Lâm Tịnh; TS Huỳnh Thanh Tú; TS Ngô Quang Huân; TS Ngô Thị Ánh; TS Nguyễn Đăng Liêm; TS Nguyễn Hồng Phú
    caohockinhte.info/forum/showthread.php?t=28689

Thứ Sáu, 17 tháng 6, 2011

Thể chế giao dịch nông sản - Institution for transaction of agricultural commodities

Thể chế giao dịch nông sản

TS. Bảo Trung


Theo cuốn "Từ điển tiếng Việt" năm 2008 của Trung tâm từ điển học, "thể chế là những quy định, luật lệ của một chế độ xã hội, buộc mọi người phải tuân theo".

Khái niệm học thuật về thể chế (Institution) rất phong phú và đa dạng. Khái niệm thể chế đầu tiên do tác giả Thorstein Veblen (1914) đưa ra, thể chế là "tính quy chuẩn của hành vi hoặc các quy tắc xác định hành vi trong tình huống cụ thể, được các thành viên của một nhóm xã hội chấp thuận và tuân thủ".

Trong báo cáo của Ngân hàng thế giới năm 2002, cũng đưa ra khái niệm thể chế là "Những quy tắc và tổ chức, gồm cả các chuẩn mực không chính thức, phối hợp hành vi con người".

Theo các tác giả đề tài KX-01-06, "Thể chế là cách thức xã hội xác lập khung khổ, trật tự, trong đó diễn ra các quan hệ giữa con người và cơ chế, quy chế, quyền lực, quy tắc, luật lệ vận hành của trật tự xã hội đó".

Theo Douglas C. North (1994), thể chế được định nghĩa là "những giới hạn do con người đặt ra nhằm cơ cấu sự tương tác giữa con người với nhau. Đó là tổng hợp những giới hạn chính thức (như nguyên tắc, luật lệ, hiến pháp) và phi chính thức (ví dụ những quy phạm về hành vi, tục lệ, nguyên tắc đạo đức) và những đặc điểm cưỡng chế của chúng". Một nhánh kinh tế học đã xuất hiện đặt trọng tâm vào các thể chế, gọi là "Kinh tế học về thể chế mới (New Institutional Economics - NIE)". Theo NIE, thể chế là "những nguyên tắc của cuộc chơi" trong xã hội; không có chúng thì các thị trường không hoạt động được.

Thông qua nhiều khái niệm khác nhau về thể chế, thì phần lớn thống nhất ở các nội dung sau:

  • Thứ nhất, "luật chơi" là những quy định chung ai ở vị trí nào, làm gì, tác động với người khác ra sao theo nguyên tắc nào;
  • Thứ hai, các chủ thể tham gia "trò chơi", hoặc "người chơi" bao gồm những ai, hai người hay nhiều người;
  • Thứ ba, cơ chế thực hiện luật chơi hoặc "cách chơi"; cơ chế là "cách thức tổ chức nội bộ và quy luật vận hành, biến hóa của một hiện tượng".

Như vậy, với các khái niệm trên thể chế bao gồm hai thành phần là cấu trúc (structures) và cơ chế (mechanism).
Tuy nhiên, các khái niệm này chỉ mới liên quan đến "phần mềm". Thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội nói chung, người ta nhận thấy rằng "phần mềm" có thể hoạt động tốt trong điều kiện vật chất này mà không hoạt động tốt trong điều kiện vật chất khác. Các điều kiện vật chất chính là "phần cứng". Chính vì vậy, thể chế phải bao gồm các điều kiện vật chất cụ thể tạo điều kiện để "phần mềm" vận hành. Đây chính là "sân chơi" mà các chủ thể tham gia. Các "luật chơi" và chủ thể tham gia "trò chơi" hình thành nên cấu trúc tổ chức của thể chế và cấu trúc này được vận hành theo một cơ chế nhất định, trong điều kiện vật chất nhất định. Như vậy, thể chế là cấu trúc tổ chức và cơ chế vận hành của một hệ thống xã hội điều chỉnh hành vi của 2 hay nhiều chủ thể khác nhau phù hợp với những điều kiện vật chất cụ thể.

Trong một hệ thống xã hội, người ta chia thể chế thành nhiều bộ phận khác nhau như chính trị, kinh tế, gia đình, tôn giáo… Thể chế kinh tế (economic institution) là thể chế liên quan hệ thống kinh tế (economic system) của một xã hội. Như vậy, thể chế kinh tế là cấu trúc tổ chức và cơ chế vận hành của hệ thống kinh tế điều chỉnh hành vi của 2 hay nhiều chủ thể khác nhau phù hợp với điều kiện vật chất nhất định.

Thể chế kinh tế thị trường (market economic institution) hay còn gọi tắt là thể chế thị trường (market institution)
là thể chế kinh tế được hình thành và phát triển trong nền kinh tế thị trường. Nếu xét theo mức độ can thiệp của Nhà nước vào thị trường thì người ta chia thể chế thị trường thành 3 loại: thể chế thị trường tự do, thể chế thị trường xã hội và thể chế thị trường nhà nước phát triển. Nếu xét theo đối tượng tham gia thị trường, người ta chia thể chế thị trường thành 5 loại: thể chế thị trường hàng hóa và dịch vụ (goods and services market institution), thể chế thị trường bất động sản (real estate market institution), thể chế thị trường tài chính (financial market institution), thể chế thị trường sức lao động (labour market institution) và thể chế thị trường chuyển giao công nghệ (technology transfer market institution). Ở Việt Nam có khái niệm "Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (Socialism-oriented market economic institution)", đây là một khái niệm mới và việc luận giải khái niệm này khá phức tạp. Trong giới hạn phạm vi đề tài này, nhóm nghiên cứu không đi sâu phân tích khái niệm này.

Thể chế giao dịch nông sản nói đầy đủ là thể chế thị trường trong hoạt động giao dịch hàng hóa nông sản (market institution for agricultural commodities transaction) là một bộ phận cấu thành của thể chế thị trường hàng hóa và dịch vụ, trong đó hàng hóa và dịch vụ ở đây chính là hàng nông sản. Như đã trình bày, giao dịch nông sản liên quan đến hoạt động trao đổi hàng hóa nông sản từ người sản xuất đến người tiêu dùng. Các hoạt động trao đổi này diễn ra trong hệ thống tiêu thụ nông sản (agricultural marketing system). Một hệ thống tiêu thụ nông sản bao gồm cấu trúc tổ chức, cơ chế vận hành và điều kiện vật chất. Cấu trúc tổ chức của hệ thống tiêu thụ nông sản liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của từng chủ thể tham gia vào quá trình chuyển giao quyền sở hữu nông sản hàng hóa từ người sản xuất đến người tiêu dùng. Cơ chế vận hành của hệ thống tiêu thụ nông sản là mối tương tác giữa các chủ thể khác nhau trong việc phân phối giá trị, rủi ro và quyền quyết định (Sykuta và Parcell (2003)). Đây chính là mối quan hệ hợp đồng giữa các chủ thể khác nhau trong trao đổi nông sản hàng hóa. Hợp đồng là thỏa thuận giữa hai bên liên quan các điều kiện trao đổi hàng hóa; hợp đồng có thể là hợp đồng miệng (verbal) hoặc hợp đồng bằng văn bản (written). Cấu trúc tổ chức và cơ chế vận hành của hệ thống tiêu thụ nông sản được biểu hiện thông qua các hình thức giao dịch nông sản. Hay nói khác đi thể chế giao dịch nông sản liên quan đến cấu trúc tổ chức và cơ chế vận hành của các hình thức giao dịch nông sản. Cũng giống như thể chế và thể chế kinh tế, thể chế giao dịch nông sản cũng cần có những điều kiện vật chất nhất định như kết cấu hạ tầng thương mại, kết cấu hạ tầng giao thông, các phương tiện, công cụ và những điều kiện khác giúp cho các chủ thể có thể thực hiện được hoạt động giao dịch.

Tóm lại, thể chế giao dịch nông sản là cấu trúc tổ chức và cơ chế vận hành của các hình thức giao dịch nông sản giữa 2 hay nhiều chủ thể tham gia phù hợp với điều kiện vật chất nhất định. Như vậy, nghiên cứu cơ sở khoa học hình thành và phát triển thể chế giao dịch nông sản chính là nghiên cứu cấu trúc tổ chức, cơ chế vận hành và điều kiện vật chất cần thiết của hệ thống các hình thức giao dịch nông sản.

Thứ Tư, 8 tháng 6, 2011

Lớp tập huấn tiểu giáo viên về chuỗi giá trị



Giảng viên phụ trách: TS. Bảo Trung
Đơn vị tư vấn kỹ thuật: GTZ Vietnam (Cố vấn trưởng: Christoph Feldkotter và cố vấn kỹ thuật: Nguyễn Thị Huyền Linh)

Chủ Nhật, 29 tháng 5, 2011

Sản xuất theo hợp đồng

LUẬN CỨ KHOA HỌC SẢN XUẤT NÔNG SẢN THEO HỢP ĐỒNG

TS. Bảo Trung

1. GIỚI THIỆU

Sản xuất và tiêu thụ nông sản theo hợp đồng ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp - nông thôn nước ta. Việc sản xuất và tiêu thụ nông sản theo hợp đồng ở nước ta đã được xuất hiện từ lâu, nhưng chỉ phát triển nhanh chóng kể từ khi Thủ tướng chính phủ đã ban hành Quyết định 80/2002/QĐ-TTg về “Chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hóa thông qua hợp đồng” ngày 24/6/2002. Theo Quyết định này, Việt Nam phấn đấu đến năm 2005, phương thức ký hợp đồng tiêu thụ nông sản hàng hóa chiếm 30% và năm 2010 là 50% sản lượng hàng hóa của một ngành sản xuất hàng hóa lơn. Bên cạnh Quyết định 80/2002/QĐ-TTg, các bộ ngành cũng đã có nhiều thông tư hướng dẫn nhằm đẩy mạnh phương thức này. Tuy nhiên, trong thời gian qua, việc thực hiện hợp đồng bao tiêu nông sản cho nông dân còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc. Hiện tượng phá vỡ hợp đồng hay lạm dụng hợp đồng vẫn xảy ra. Một số doanh nghiệp đổ lỗi cho nông dân khi nông dân không thực hiện hợp đồng và ngược lại. Chính vì vậy, cả nông dân và doanh nghiệp không mặn mà lắm đối với phương thức ký hợp đồng tiêu thụ nông sản. Nhiều hội nghị, hội thảo cũng đã bàn đến nhiều nguyên nhân dẫn đến sự thất bại của phương thức ký hợp đồng bao tiêu nông sản. Việc sản xuất và tiêu thụ nông sản qua hợp đồng là xu hướng tất yếu và là định hướng đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta, nhưng việc tổ chức thực hiện phương thức này có phần chủ quan và duy ý chí. Chúng ta đang chạy theo số lượng hợp đồng được ký kết hơn là đi vào chất lượng của việc thực hiện hợp đồng. Theo số liệu của Bộ Nông Nghiệp Mỹ, tại Mỹ, năm 1969, 12 % giá trị nông sản được sản xuất và tiêu thụ qua hợp đồng; năm 1991 tăng lên 28% và năm 2004 là 36%. Các số liệu, tuy chưa đủ để đánh giá nguyên nhân và đề ra giải pháp để đẩy nhanh sản xuất và tiêu thụ nông sản qua hợp đồng, nhưng đủ để minh chứng một điều chúng ta chưa nhận thức đầy đủ luận cứ khoa học về sản xuất và tiêu thụ theo hợp đồng, mà theo các triết gia cho rằng nếu nắm được luận cứ khoa học thì nhân loại sẽ tránh được ít nhất một nửa lầm lạc. Một trong những luận cứ khoa học quan trọng mà bài viết này muốn trình bày là chúng ta cần hiểu rõ các khái niệm liên quan đến tổ chức thị trường tiêu thụ nông sản mà sản xuất và tiêu thụ nông sản theo hợp đồng là một hình thức. Vì chỉ hiểu rõ các khái niệm này thì chúng ta mới có bước đi phù hợp để thị trường nông sản vận hành được tốt.

2. SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ NÔNG SẢN THEO HỢP ĐỒNG LÀ GÌ ?

Trong sản xuất nông nghiệp, người nông dân có thể ký kết một số hợp đồng với người cung cấp để mua các yếu tố đầu vào sản xuất nông nghiệp như phân bón, thuốc trừ sâu hay nước tưới v.v… Bên cạnh đó, để tiêu thụ nông sản hàng hóa, người nông dân có thể ký kết hợp đồng với người mua. Người mua có thể là nhà bán buôn, bán lẻ, nhà chế biến ….Ngày nay, việc mua và bán của nông dân theo phương thức ký kết hợp đồng tương đối phổ biến. Tuy nhiên, những hợp đồng mua và bán này không phải tất cả đều có nghĩa là “Sản xuất theo hợp đồng” (Contract farming) hay còn gọi là hợp đồng sản xuất (Production contracts).

Để tiêu thụ nông sản hàng hóa, giữa người nông dân và người mua có 4 phương thức giao dịch như sau:

2.1 Thị trường giao ngay (Spot market)
Thị trường giao ngay là phương thức giao dịch hàng hóa truyền thống. Nông dân có thể bán nông sản hàng hóa thông qua hợp đồng với người mua hoặc bán trực tiếp đến người mua tại chợ hoặc sàn đấu giá. Việc mua bán này được thực hiện ngay tại thời điểm diễn ra giao dịch, theo giá cả của thị trường hiện tại. Nông dân kiểm soát và quyết định toàn bộ quá trình sản xuất như sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu như thế nào, cũng như họ phải tự bỏ vốn đầu tư cho hoạt động của mình. Sau khi thu hoạch thì người nông dân phải tự tìm kiếm thị trường và thương lượng với người mua để bán nông sản mình sản xuất ra. Trong trường hợp này nếu giá cả thị trường tại thời điểm giao dịch cao hơn chi phí mà người nông dân bỏ ra để sản xuất thì nông dân có lời và ngược lại thì nông dân thua lỗ. Phương thức này tương đối đơn giản vì người mua và người bán nắm được thông tin về giá cả và chất lượng sản phẩm tại thời điểm giao dịch.

2.2 Hợp đồng sản xuất (Production contracts)

“Sản xuất theo hợp đồng” (Contract farming) hoặc hợp đồng sản xuất (Production contracts) là hợp đồng giữa nông dân và người mua theo những thoả thuận triển hạn (Forward Agreements). Đây là phương thức giao dịch của thị trường giao sau khác với thị trường giao ngay. Hợp đồng sản xuất được ký kết trước khi người nông dân tiến hành sản xuất. Hợp đồng này quy định chi tiết về trách nhiệm của nông dân và người ký kết hợp đồng. Trong loại hợp đồng này, người nông dân ít có quyền quyết định vấn đề sản xuất mặc dù họ là vẫn là người trực tiếp sản xuất. Người ký kết hợp đồng với nông dân sẽ quy định cụ thể về các yếu tố đầu vào cần sử dụng và phương thức canh tác, kể cả người ký hợp đồng chịu trách nhiệm công tác hướng dẫn kỹ thuật canh tác và thường xuyên kiểm tra thực tế trên đồng ruộng. Hợp đồng sản xuất thường xuất hiện dưới hai hình thức. Thứ nhất, hợp đồng gia công, điều này có nghĩa người mua đầu tư toàn bộ từ cơ sở vật chất đến các yếu tố đầu vào và nhận lại toàn bộ sản phẩm. Trong trường hợp này người nông dân được trả công chăm sóc và một số chi phí khác được thoả thuận trong hợp đồng. Hình thức hợp đồng này đang được Công ty CP Việt Nam áp dụng. Thứ hai, người mua đầu tư ứng trước vốn, vật tư, hướng dẫn kỹ thuật và cũng thu lại toàn bộ sản phẩm theo giá đã được thoả thuận tại thời điểm ký kết hợp đồng. Hình thức hợp đồng này đang được áp dụng tại Công ty Bông Việt Nam. Trong hợp đồng sản xuất, thì nông sản do người sản xuất ra thuộc quyền sở hữu của người đầu tư, là người ký kết hợp đồng với nông dân.

2.3 Hợp đồng tiêu thụ (Marketing contracts)

Đây cũng là hình thức hợp đồng triển hạn (Forward contract). Người sản xuất và người mua đồng ý ký kết hợp đồng mua một số lượng hàng hóa nhất định với giá cả được quy định trước trong thời gian trước khi nông sản được thu hoạch. Người sản xuất hoàn toàn kiểm soát vấn đế sản xuất nông sản của mình và phải đảm bảo việc giao hàng đúng số lượng, chất lượng và giá cả theo hợp đồng. Trong trường hợp đến khi thu hoạch, do rủi ro về thới tiết hay các yếu tố khác người sản xuất không đủ hàng giao cho người mua thì họ có trách nhiệm đi thương lượng với nông trại khác để đảm bảo cung cấp đủ hàng cho người mua. Việc giao dịch này giúp cho người sản xuất định hướng được thị trường, nắm bắt được giá cả và triển vọng tiêu thụ nông sản. Tuy nhiên, trách nhiệm cam kết chưa cao, việc chế tài giữa các bên gặp rất nhiều khó khăn. Chính vì vậy, ở các nước người ta nâng cấp thành hợp đồng kỳ hạn (Future contract) và được giao dịch thông qua Sở giao dịch hàng hóa, như Sở giao dịch hàng hóa Luân Đôn hoặc NewYork. Về sau người ta gọi thị trường tiêu thụ nông sản qua sở giao dịch hàng hóa là thị trường kỳ hạn. Thị trường kỳ hạn đã giải quyết được vấn để tiêu thụ hàng hóa trước khi thu hoạch một cách ổn định và vững chắc. Tuy nhiên, thị trường nông sản đầy biến động, rủi ro lớn, nên với các hợp đồng kỳ hạn, giá hàng hóa vẫn còn bấp bênh, chênh lệch lớn với giá thực tế. Vì vậy xuất hiện một nghiệp vụ thị trường mới là hợp đồng quyền chọn (Option Contract). Hợp đồng quyền chọn trong đó người mua mua của người bán một cái quyền được mua hay quyền được bán nông sản trong thời gian nhất định với mức giá thỏa thuận. Người mua phải trả cho người bán một số tiền gọi là phí hay tiền cược (premium) là giá quyền chọn. Có hai loại quyền là quyền tự chọn mua (Short sales) và quyền tự chọn bán (long sales). Quyền này có thời hạn, nếu hết thời hạn hợp đồng người mua không tiến hành mua hoặc bán thì quyền tự chọn không còn hiệu lực. Trong thực tế, các nhà chế biến lo sợ giá cả nguyên liệu tăng nên thường mua quyền chọn mua để bảo hiểm giá nguyên liệu. Người sản xuất lo sợ giá sản phẩm sẽ giảm mạnh nên mua quyền tự chọn bán để bảo hiểm cho việc tiêu thụ nông sản. Các hợp đồng quyền chọn, việc mua bán quyền chọn đều diễn ra tại sàn giao dịch của Sở giao dịch hàng hóa.

Thị trường giao sau lúc đầu chỉ thực hiện giữa người sản xuất và người bán và hình thành nên thị trường sơ cấp. Sau đó thị trường này trở nên nhộn nhịp khi xuất hiện hình thức mua đi bán lại các hợp đồng này. Phương thức này đã hình thành thị trường giao dịch thứ cấp và trở nên phổ biến ngày này. Thị trường kỳ hạn hay thị trường quyền chọn chỉ được thực hiện tại Sở giao dịch hàng hóa, tuân theo những quy định chặt chẽ và dưới sự giám sát của Uy ban hàng hóa kỳ hạn của Nhà nước.

2.4 Hội nhập dọc (Vertical integration)

Hội nhập dọc là hình thức liên kết giữa nông trại và người sử dụng. Người sử dụng ở đây thường là các nhà máy chế biến. Đối với hình thức này, các nhà máy chế biến tự đầu tư nguồn cung cấp nguyên liệu cho nhà máy mình thông qua việc mua đất hoặc thuê đất để tự sản xuất. Người nông dân chỉ là người làm thuê cho nhà máy chế biến. Một cách khác người chế biến và nông dân cùng tham gia góp vốn dưới dạng cổ đông để hình thành mối liên kết giữa sản xuất và chế biến. Nông dân có thể góp vốn vào nhà máy chế biến bằng quyền sử dụng đất của mình và nhà máy chế biến có thể tham gia góp vốn với nông dân trong đầu tư vùng nguyên liệu. Người nông dân và người chế biến cùng chia sẻ rủi ro trong sản xuất nguyên liệu và tiêu thụ nông sản đã qua chế biến. Ngoài ra, trong hội nhập dọc còn có một hình thức khá phổ biến ở Việt Nam là “Sự tái lập trang trại gia đình trong lòng doanh nghiệp nông nghiệp nhà nước”. Hình thức này có hai chủ thể kinh doanh, người mua nông sản là chủ thể kinh doanh thứ nhất đồng thời là chủ thể pháp lý; người sản xuất là chủ thể kinh doanh thứ hai, nông dân nhận khoán đất để tự tổ chức sản xuất và bán lại nông sản cho chủ thể kinh doanh thứ nhất theo hợp đồng ký kết. Điển hình ở Việt Nam cho phương thức giao dịch này là “Nông Trường Sông Hậu”.

3. NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT TRONG VIỆC THỰC HIỆN SẢN XUẤT THEO HỢP ĐỒNG

Xuất phát từ khái niệm vừa trình bày ở trên, chúng ta thấy rằng có sự khác biệt giữa 4 phương thức giao dịch trong thị trường nông sản hàng hóa. Ngoài phương thức thứ nhất là thị trường giao ngay, 3 phương thức còn lại chỉ có thể vận hành tốt trong những điều kiện nhất định. Chính vì vậy, chúng ta cần giải quyết một số vấn đề sau:

- Thứ nhất, các bên tham gia vào thị trường nông sản hàng hóa và Nhà nước cần phải nhận thức đầy đủ các khái niệm trên để có thể hành xử đúng theo cơ chế thị trường.
- Thứ hai, đối với thị trường giao ngay thì đây vẫn còn là phương thức hiệu quả trong quá trình sản xuất và tiêu thụ nông sản vì người mua và người bán có đủ thông tin thị trường và trên thực tế, người mua như các doanh nghiệp hay thương nhân thường chỉ muốn hàng có sẵn trên thị trường.
- Thứ ba, sản xuất theo hợp đồng đang có xu hướng phát triển. Tuy nhiên, để việc sản xuất theo hợp đồng vận hành được tốt đòi hỏi phải có điều kiện tiên quyết là người mua và nông dân đều nhận thấy có lợi nhuận trong tương lai và mang tính chất ổn định lâu dài. Ngoài ra phương thức này đòi hỏi cần phải có sự hỗ trợ của Nhà nước. Theo một số nhà khoa học thì phương thức này chỉ phát triển trong 4 điều kiện sau: thứ nhất, nhu cầu về sản phẩm riêng biệt đáp ứng nhu cầu của khách hàng cụ thể; thứ hai, áp lực của của việc truy xét nguồn gốc (traceability) sản phẩm; thứ ba, áp lực về quản lý chặt chẽ hệ thống sản xuất để bảo vệ môi trường; và thứ tư, nông trại có quy mô lớn chiếm tỷ trọng cao.
- Thứ tư, đối với phương thức hợp đồng tiêu thụ, đòi hỏi phải có Sở giao dịch hàng hóa.
- Thứ năm, đối với phương thức hội nhập dọc, đòi hỏi phải thiết lập mối liên kết chặt chẽ giữa người mua và nguời sản xuất trên cơ sở cùng chia sẻ rủi ro trong kinh doanh.

Tóm lại, sản xuất theo hợp đồng là phương thức sản xuất tiến tiến nhưng để phương thức này vận hành được tốt chúng ta cần nghiên cứu tổng kết lý luận và thực tiễn để từ đó có những bước đi phù hợp trong điều kiện nền kinh tế nước ta hiện nay.

Digital Marketing – Chìa khóa mở cửa kỷ nguyên tiếp thị hiện đại

  Trong thời đại số hóa, khi mọi tương tác, giao tiếp và quyết định mua hàng dần chuyển dịch lên môi trường trực tuyến, Digital Marketing ( ...