Thứ Sáu, 29 tháng 6, 2012

Thương hiệu Việt trước áp lực bị thâu tóm

 Sự ra đi của các thương hiệu lớn khiến nhiều người đặt câu hỏi: Thương hiệu Việt có khả năng tồn tại?


Thiếu kiến thức quản trị về thương hiệu tất yếu dẫn đến sự mai một của nhiều thương hiệu.

Theo các chuyên gia thương hiệu, nguyên nhân đầu tiên khiến các thương hiệu Việt đang bị “biến mất” là do các chủ DN không nhận thức đúng tầm quan trọng của việc làm thương hiệu, dẫn đến sự lãng quên của người tiêu dùng.

Chẳng hạn, thương hiệu Thorakao từng được người tiêu dùng ưa chuộng vào những năm 1960-1970 và những năm đầu thập niên 1990, Thorakao đã trở thành thương hiệu có tên tuổi trên thị trường nội địa và được đông đảo kiều bào ở nước ngoài tin dùng.

Nhiều tập đoàn đa quốc gia khi qua Việt Nam làm ăn cũng đã đặt vấn đề mua lại hoặc mời Thorakao liên doanh. Tuy nhiên, chủ nhân thương hiệu này đã kiên định với lập trường: “Dù thế nào đi nữa cũng phải giữ gìn nghề gia truyền”.

Kiên định là vậy nhưng trong chiến lược kinh doanh, Thorakao dường như không hề quan tâm đến việc quảng bá thương hiệu bởi cho rằng: “Hễ sản phẩm tốt thì thương hiệu ắt sẽ có thị trường”.

Chính vì im hơi lặng tiếng nên mặc dù Thorakao vẫn có mặt trên thị trường, doanh thu xuất khẩu khá cao, nhưng cái tên Thorakao vẫn chỉ tồn tại mờ nhạt, thậm chí không ít người còn cho rằng, công ty này đang hoạt động cầm chừng.

Tương tự, nước tương Nam Dương dù được người tiêu dùng một thời ưa chuộng và thương hiệu cũng được xếp vào loại “bền bỉ, vượt thời gian”, nhưng thương hiệu này cũng đang bị “nhạt dần” trong lòng người tiêu dùng.

Theo bà Liên Phương, Giám đốc Công ty Nghiên cứu thị trường Epinion, nguyên nhân khác khiến thương hiệu Việt đang bị lãnq quên là do người tiêu dùng Việt Nam vẫn hoài nghi, thậm chí dị ứng với sản phẩm trong nước. Một phần do tâm lý vọng ngoại, phần khác do sản phẩm Việt chưa thực sự hiểu người tiêu dùng, dẫn đến chiến lược thương hiệu sai và cũng chưa tạo được niềm tin đối với người tiêu dùng.

Kết quả nghiên cứu của Epinion cho thấy, 60% người tiêu dùng, nhất là người tiêu dùng trẻ, có quan niệm tiêu cực về thương hiệu Việt vì cho rằng, sản phẩm lúc đầu rất tốt nhưng càng về sau chất lượng không ổn định và đảm bảo; 40% cho rằng thương hiệu Việt chưa hiểu người tiêu dùng.

Để thương hiệu Việt không dần bị biến mất, bà Phương khuyến cáo: “Yếu tố quan trọng nhất là phải biết chất lượng sản phẩm đến từ đâu và duy trì thế nào để đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng. Muốn làm được điều này thì phải biết lắng nghe người tiêu dùng và phải thực hiện tốt việc kết hợp giữa chiến lược kinh doanh và thương hiệu”.

Nhiều khảo sát cũng cho biết, số DN đánh giá đúng tầm quan trọng của việc nghiên cứu thị trường, lắng nghe phản hồi của người tiêu dùng trước khi đưa ra các quyết định về chiến lược kinh doanh cũng như coi trọng chiến lược về marketing và thương hiệu còn khá hạn chế.

Trong khi đó, việc nghiên cứu và khảo sát thị trường được thực hiện rất bài bản và thường xuyên tại hầu hết các DN nước ngoài. Lấy ví dụ về Nescafé, dù đã trở thành thương hiệu toàn cầu nhưng khi qua Việt Nam, để thương hiệu không bị mai một và cũng là cách chiếm được cảm tình người tiêu dùng Việt, thương hiệu này đã mạnh dạn đổi gu cà phê cho người Việt.

Ông Lê Quang Phúc, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Giải pháp phát triển DN BDSC, cũng cho rằng: “Để nuôi dưỡng thương hiệu, các DN Việt Nam cũng cần hiểu người tiêu dùng và có cách làm thương hiệu riêng cho người Việt”.

Tâm đắc ý kiến này, bà Bích Liễu, Trưởng phòng thị trường Công ty Tân Hiệp Phát, cũng khẳng định: “Thương hiệu Trà xanh không độ được nhiều người nhớ là do trong chiến lược sản phẩm, chúng tôi luôn tuân thủ tiêu chí: Không cung cấp những gì mình có mà chỉ đưa ra những sản phẩm người tiêu dùng cần”.

Do ta hại mình
Cạnh tranh không lành mạnh đã khiến nhiều thương hiệu tự chết dần.

Do áp lực cạnh tranh, các DN đang phải đua nhau tung ra nhiều chiêu thức cạnh tranh. Tuy nhiên, trên thị trường thời gian qua đã có không ít sản phẩm do cách làm thương hiệu đã khiến người tiêu dùng “ngoảnh mặt”.

Đơn cử gần đây, các thương hiệu như mì gói, nước tương thay vì quảng cáo để nâng cao chất lượng sản phẩm thì một số DN lại tung ra những chiêu thức cạnh tranh không lành mạnh, dọa người tiêu dùng về những hợp chất có hại trong các sản phẩm của đối thủ.

Như “mì Omachi rất ngon mà không sợ nóng" vì làm bằng khoai tây, nước tương Chinsu không có chứa 3-MCPD nên an toàn cho cả nhà, hoặc mì Tiến Vua không sử dụng dầu chiên đi chiên lại nhiều lần, không chứa transfat (loại chất béo gây chứng đột quỵ, đau tim và bệnh mạch vành)...

Điều đáng nói là khi đưa ra các chiêu thức quảng cáo này, một số thương hiệu lại rơi vào thế “gậy ông đập lưng ông”. Chẳng hạn, theo kết quả phân tích của Công ty CP Khoa học công nghệ Sắc ký Hải Đăng, trong một gói mì Tiến Vua, tỷ lệ chất transfat là 0,097% chứ không phải là 0 như đã quảng cáo.

Hoặc quảng cáo mì Tiến Vua bò cải chua với sợi mì không phẩm màu độc hại E 102, nhưng qua kiểm tra, mì Tiến Vua (loại cũ) và một số loại khác đều chứa E 102. Hay mì khoai tây Omachi chỉ có 5% nguyên liệu là khoai tây.
Rõ ràng, sau mỗi sự vụ được tung hê và làm rõ trắng đen, các thương hiệu trên đều bị giảm doanh số đáng kể. Về hiện tại, tuy các sản phẩm chưa mất đi, nhưng rõ ràng sức sống và uy tín thương hiệu đang bị mai một dần trong lòng người tiêu dùng.

Theo báo cáo vừa hoàn thành của dự án thương hiệu châu Á do B&Company Việt Nam phối hợp thực hiện cùng Nikkei BP Consulting: “So với trước đây, các DN Việt Nam đã chú trọng hơn đến việc xây dựng thương hiệu. Tuy nhiên, các DN Việt Nam nên chú ý hơn đến tính sáng tạo, đột phá khi xây dựng hình ảnh thương hiệu của mình.

Điều này gắn liền với việc xây dựng một chiến lược phát triển sản phẩm và dịch vụ đồng bộ, trong đó đặt trọng tâm vào việc mang lại lợi ích tối đa cho người tiêu dùng và tích hợp các giá trị gia tăng cho sản phẩm, dịch vụ, đồng thời gắn liền với việc tạo hình ảnh và phong cách riêng cho thương hiệu. Điều này sẽ giúp cho thương hiệu có được một “tính cách” riêng và có khả năng để lại dấu ấn sâu đậm trong nhận thức của người tiêu dùng”.

Bán rồi có mất?

Câu hỏi được lặp lại sau nhiều bài học đắt giá, liệu tư duy về thương hiệu và thương hiệu toàn cầu có thay đổi?

Gần đây, nhiều thương vụ mua bán, sáp nhập liên tiếp diễn ra, điển hình như vụ X-Men, vụ Công ty CP Diana bán toàn bộ cổ phiếu cho Công ty Unicharm (Nhật Bản). Tiếp đến là thương hiệu Phở 24 bán 100% cho Highlands Coffee.

Rồi Highlands Coffee lại bán 50% cổ phần cho Jollibee (Philippines), kế tiếp là vụ Kinh Đô vừa hoàn tất việc sáp nhập với Vinabico và Vinabico sẽ trở thành công ty TNHH do Kinh Đô sở hữu 100% vốn, Tập đoàn Lotte cũng vừa nắm giữ hơn 38% cổ phần của Bibica...

Trước hàng loạt thương hiệu nổi tiếng của Việt Nam bán lại cho nước ngoài, không ít người đã đặt câu hỏi: “Liệu các thương hiệu Việt bán đi có bị mất không? Thương hiệu Việt có còn tồn tại trong những cuộc cạnh tranh sắp tới?”. Câu hỏi này đặt ra vì DN Việt Nam từng có những bài học đắt giá khi bán thương hiệu cho nước ngoài. Ví dụ điển hình nhất vẫn là kem đánh răng Dạ Lan.

Trong khoảng thời gian từ 1990-1995, kem đánh răng Dạ Lan chiếm tới 30% thị phần kem đánh răng cả nước. Tuy nhiên, ông chủ thương hiệu này đã bán Dạ Lan cho tập đoàn Colgate Mỹ với giá 3 triệu USD, trong khi định giá thương hiệu này lên đến trên 20 triệu USD.

Với 3 triệu USD mua lại Dạ Lan và Sơn Hải, đến nay Colgate đã trở thành một thương hiệu mạnh trên thị trường hóa mỹ phẩm Việt Nam. Còn Dạ Lan dù đã quay trở lại thị trường, nhưng tiêu thụ hiện vẫn đang gặp khó khăn giống y như thời kỳ mới ra đời, không có cơ hội trước các thương hiệu lớn của nước ngoài. Có lẽ đến bây giờ, ông chủ thương hiệu Dạ lan mới nhận ra, để chiếm thêm 1% thị phần, cần phải tốn hàng triệu USD cho chi phí tiếp thị.

Vấn đề này cũng được các thành viên Friday Business Forum (một dự án phi lợi nhuận dành cho cộng đồng DN Việt Nam) đặt ra. Một thành viên của nhóm là ông Lê Quang Phúc cho rằng: “Có hai khả năng dẫn đến việc mua bán thương hiệu. Một là, chiến lược đầu tư tài chính, kiếm lợi nhuận; hai là, do không trụ nổi hoặc không còn khả năng dẫn dắt thương hiệu phát triển tốt hơn”.

Trường hợp Highlands Coffee mua Phở 24, trong khi thương hiệu này đang bị tuột dốc về độ tin cậy của người tiêu dùng do giá cao và chất lượng không đồng nhất trong hệ thống chuỗi cửa hàng, có nhiều khả năng nghiêng về mục tiêu đầu tư tài chính, động cơ mua dường như xuất phát đơn thuần từ kiếm lời (nghĩa là sẽ bán lại với giá cao hơn).

Có thể việc bán một lúc hai chuỗi cà phê và phở sẽ gia tăng giá trị của thương vụ và quy mô mà Jollibee muốn thâm nhập thị trường Việt Nam. X-Men thì không trụ nổi do áp lực cạnh tranh, còn Diana và Phở 24 nếu tiếp tục một mình sẽ không phát triển được thương hiệu ra thế giới, nên các ông chủ này đã chọn chiến lược tạm gọi là “gửi con” để kỳ vọng thương hiệu của mình sẽ phát triển xa hơn.

Và câu chuyện mua bán vào thời điểm này chính là con đường ngắn nhất để các thương hiệu Việt củng cố sức mạnh, vươn ra thế giới. Ông Đỗ Anh Tú, Tổng giám đốc Công ty Diana, từng khẳng định: “Việc Unicharm trở thành cổ đông nắm cổ phần chi phối sẽ giúp Diana cải tiến về công nghệ, phát triển sản phẩm và đẩy mạnh xuất khẩu thông qua mạng lưới rộng khắp toàn cầu của Unicharm”.


Còn Kinh Đô khi sáp nhập với Vinabico cũng cho biết, tận dụng được thế mạnh của Vinabico ở các sản phẩm bánh tươi, mảng sản phẩm Kinh Đô chưa mạnh. Bên cạnh đó, sản phẩm kẹo trang trí của Vinabico gần như không có đối thủ trong nước, lại được xuất khẩu nhiều.

Ngược lại, Vinabico cũng tận dụng được hiệu quả hệ thống phân phối mạnh với 120.000 điểm bán hàng trên cả nước của Kinh Đô. Theo báo cáo thường niên năm 2011 của Vinabico, lượng hàng bán nhờ tận dụng hệ thống này chiếm tỷ trọng hơn 70% tổng doanh thu năm 2011 của Công ty.

Về thương vụ tay ba Jollibee, Highlands Coffee và Phở 24, nếu Jollibee dự định sẽ khai thác thương hiệu Phở 24 cho toàn chuỗi bán lẻ của họ ở Philippines và dùng nó khai thác thị trường thế giới thì khi đó, dòng tiền trong tương lai sẽ rất lớn và con số 20 triệu USD được xem là rẻ. Ông Trần Hoàng, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Công ty Vietnam Marcom, cũng cho rằng, Phở 24 sau khi bán sẽ tốt hơn, còn Highlands Coffee vẫn là ẩn số.

Mua bán, sáp nhập là quy luật tất yếu của các thị trường mới nổi, những nước trong khu vực như Thái Lan, Singapore... cũng từng trải qua giai đoạn tương tự như Việt Nam hiện nay. Trong bối cảnh kinh tế mở cửa, sản xuất, kinh doanh đình trệ, các DN Việt Nam rất khó bảo vệ thương hiệu.

Vì vậy, DN rất cần sự định hướng, dẫn dắt của các hiệp hội, bộ, ngành và Chính phủ. Lý giải thêm nguyên nhân các DN lâm vào tình cảnh phải bán thương hiệu, ông Phúc cho rằng, ngoài thực tế khó khăn do tình hình kinh tế, các DN Việt Nam thường bị hạn chế trong cách giữ và phát triển thương hiệu, nhận thức về sở hữu và điều hành còn kém, thường áp dụng cùng một cách quản lý trong cách làm kinh doanh và thay đổi phương pháp quản lý rất chậm, trong khi tốc độ kinh tế lại phát triển quá nhanh nên dẫn tới bị suy yếu.

Với các thương hiệu hoạt động trong lĩnh vực ẩm thực như Phở 24, Highlands Coffee, ông Nanthorn Limtrakarn, Phó chủ tịch Hiệp hội Quản trị doanh nghiệp Thái Lan, cho rằng: “Điểm yếu của DN Việt Nam là quá ít kinh nghiệm, chuyên môn để tổ chức một hệ thống quản lý nhượng quyền chặt chẽ và có khoa học để chinh phục thị trường nội địa và vươn ra thế giới. Tuy nhiên, đem thực phẩm Việt Nam đi chinh phục thị trường thế giới thì chỉ có chính DN Việt mới làm được, vì chỉ có họ mới có tình yêu và niềm tự hào về sản phẩm của mình”.

Mặc dù, theo ý kiến của hầu hết các chuyên gia về thương hiệu, dù các thương hiệu Việt bán cho ai thì thương hiệu đó cũng không hề mất đi. Trong sân chơi toàn cầu, quan trọng là thương hiệu đó từ quốc gia nào chứ không phải hễ người khác điều hành thì thương hiệu đó sẽ bị mất.

Tuy nhiên, ông Trần Hoàng khẳng định: “Các thương hiệu Việt chỉ thật sự không bị mất đi khi thương hiệu đó đạt được bề dày uy tín, có được sự tinh túy, mang được hồn Việt, cốt cách của Việt Nam. Chẳng hạn, gốm sứ Minh Long nếu bán đi thì vẫn là niềm tự hào của thương hiệu Việt, nhưng một số sản phẩm khác nếu chưa đạt độ tinh túy, bề dày uy tín thương hiệu tại thị trường trong nước thì nếu bán cũng không có ý nghĩa gì cả và việc mất thương hiệu sẽ rất có khả năng xảy ra”.


Các thương vụ lớn gần đây

Phở 24, Highlands Coffee bán lại cho Jollibee: 20 triệu USD


Thương vụ tại Việt Nam nằm trong chiến lược mở rộng của Jollibee Food Corp. (JFC). JFC đã mua lại 50% cổ phần của tập đoàn SuperFoods, tập đoàn sở hữu chuỗi Highlands Coffee tại Việt Nam, hệ thống nhà hàng nhượng quyền thương mại Hard Rock Café tại Macau, Hồng Kông và Việt Nam, hệ thống Phở 24 tại Việt Nam và các nước châu Á khác.

Với hàng loạt các vụ thâu tóm trên, Jollibee đặt mục tiêu trở thành chuỗi cửa hàng số 1 tại châu Á và cuối cùng là có tên trong danh sách những thương hiệu hàng đầu thế giới.

Diana bán lại cho Unicharm: 184 triệu USD

Công ty CP Diana bán lại 95% cổ phần cho Unicharm của Nhật. Theo tạp chí The Asset, thương vụ này trị giá 184 triệu USD. Đối với Unicharm, sau nhiều năm kinh doanh tại Việt Nam, từ năm 2007, sản phẩm ở phân khúc cao của Unicharm là băng vệ sinh Sofy và tã giấy Mamy Poko chưa thể phát triển mạnh và đạt thị phần như mong đợi (thị phần nhỏ đến mức không thể thống kê được).

Vì thế, mua lại Diana, Unicharm cùng lúc đặt hai mục tiêu: thị trường Việt Nam và trở thành trung tâm xuất khẩu qua Trung Quốc và cả Đông Nam Á.

Trong khi đó, Diana muốn tăng trưởng bền vững và tăng cường năng lực cạnh tranh xuất khẩu trong dài hạn thì phải chọn 1 trong 3 con đường: hoặc tiếp tục tự thân vận động bằng các nguồn vốn vay ngân hàng, hoặc phát hành cổ phiếu ra công chúng, hoặc sáp nhập với một đối tác chiến lược mạnh.

Lotte thâu tóm Bibica: sở hữu 35,65%

Việc thâu tóm Bibica của tập đoàn Lotte đã được thực hiện trong thời gian khá dài, cụ thể mua 4,6 triệu cổ phiếu (tương đương 30,15%) trên sàn từ năm 2007, sau đó đến đầu năm 2008 mua thêm 5,5% cổ phần, chiếm tỷ lệ sở hữu lên đến 35,65%. Tính đến 3/2012, chưa cần sở hữu đến 49%, nhưng Lotte đã nắm vị trí chủ chốt và quyền điều hành quan trọng trong công ty Bibica thông qua hai chức danh quan trọng là chủ tịch HĐQT và giám đốc tài chính.

Trước mắt, thương vụ mua Bibica, Lotte đã có thể sản xuất sản phẩm ngay tại Việt Nam, thừa hưởng trên 20.000 cửa hàng phân phối, bán lẻ của Bibica, nên bánh kẹo Lotte sẽ sớm chiếm lĩnh thị trường Việt Nam. Các cổ đông Bibica lo ngại, giống như kịch bản đã diễn ra ở nhiều DN có vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) khác, hoạt động trong nhiều năm liền không có lãi và dần dà Bibica chỉ còn là công cụ phục vụ cho Lotte.

(Theo DNSG)Thương hiệu Việt trước áp lực bị thâu tóm

Chủ Nhật, 20 tháng 5, 2012

Thương hiệu Việt: Đánh nhau với cối xay gió!


Dư luận đang có nhiều ý kiến trái chiều về số phận của các thương hiệu Việt hiện nay. Hàng loạt doanh nghiệp (DN) phá sản, phong trào mua bán, sáp nhập DN (M&A) đang rộ lên với rất nhiều thương hiệu nổi tiếng ở VN bị các ông chủ nước ngoài thâu tóm.
Thị trường đang nóng với tin đồn về thông tin Highlands Coffee mua 100% cổ phần của Phở 24 rồi bán lại 50% tổng cổ phần đó cho Jollibee. Nhưng thực tế còn rất nhiều vụ mua bán khác với con số lớn hơn rất nhiều đã và đang xảy ra, ví dụ Lotte nắm 38% cổ phần Bibica, Orchid Fund (quỹ đầu tư của tỉ phú gốc New Zealand Richard Chandler) nắm giữ gần 10% cổ phần của FPT và đề cử người vào HĐQT của công ty này...
Ngoài việc một số thương hiệu lớn ở VN mà nước ngoài đang thôn tính dần, thì nhiều thương hiệu Việt khác cũng thua lỗ nhiều năm liên tiếp và bị dừng hoặc hủy niêm yết trên sàn chứng khoán như Bông Bạch Tuyết, Tribeco.
Tận dụng thời kỳ suy sụp kéo dài của thị trường chứng khoán VN, đặc biệt là thời điểm 2009-2011, nhiều ông chủ nước ngoài đã thầm lặng gom cổ phiếu công ty VN với mức giá có thể nói là rẻ mạt (nhiều công ty có chỉ số PE chỉ ở mức 3-4), và hiện nay chỉ còn hàng rào quy định sở hữu nước ngoài dưới 49% trong các DN niêm yết đang ngăn cản họ chiếm cổ phần chi phối trong rất nhiều DN có thương hiệu nổi tiếng tại VN.
Giấc mơ thương hiệu Việt
Thương hiệu không thể thành công chỉ vì cái tên được nhiều người biết đến, cũng như con người không thể thành công chỉ vì lên truyền hình nhiều lần. Quan trọng là người ta biết đến bạn như thế nào, bạn mang lại được gì cho người ta, và đó lại là điều mà nhiều DN Việt chưa thật sự quan tâm khi định hướng kế hoạch kinh doanh của mình.
Doanh nhân VN có ý thức xây dựng thương hiệu từ rất lâu. Những cái tên như cao su Sao Vàng, xà bông Cô Ba, kem đánh răng Dạ Lan, nệm Kymdan... từng chiếm được lòng tin của rất đông khách hàng. Nhưng khi chuyện xây dựng thương hiệu trở thành một "phong trào" bùng nổ trong những năm gần đây, đã có lúc nhiều doanh nhân VN cho rằng chỉ cần quảng cáo, PR thật nhiều, rồi gắn một cái nhãn vào sản phẩm của mình là có thể bán giá đắt gấp đôi gấp ba những món hàng vô danh khác.
Trong ngành hàng điện tử, nhiều DN đã đầu tư mạnh cho xây dựng tên tuổi, hàng loạt thương hiệu ra đời như máy tính CMS, Elead, Robo, Mekong Xanh, điện thoại Q-Mobile, Avio, F-Mobile... Hầu hết sản phẩm mà linh kiện nhập khẩu "từ con ốc đến cái logo".
Có thời gian, những chương trình máy tính giá rẻ với mục tiêu tham vọng lên đến hàng trăm ngàn chiếc hằng năm đã gây tiếng vang nhất định trong dư luận. Nhưng thực tế những năm gần đây cho thấy các thương hiệu này đang lùi dần về vạch xuất phát. Nhiều DN kinh doanh không hiệu quả, phải tái cấu trúc, sáp nhập các mảng kinh doanh khác để tồn tại, nhiều thương hiệu ra đi không hẹn ngày trở lại, đặc biệt trong ngành điện thoại di động.
Có một bài học sơ đẳng mà doanh nhân nào cũng hiểu, nhưng không phải ai cũng làm được: thành công của DN đến từ khách hàng. Thương hiệu mạnh không phải là cái logo đẹp đẽ, mà là chứng chỉ cho những món hàng chất lượng tốt với mức giá cạnh tranh. Các thương hiệu thành công trong thị trường hàng tiêu dùng đều có mức giá rẻ hơn so với đối thủ.

Dù Apple có nổi tiếng đến đâu, Steve Jobs có trình diễn tuyệt vời đến thế nào trong các buổi giới thiệu sản phẩm, thì iPhone và iPad cũng không thể thành công đến thế nếu nó không rẻ hơn sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh. Chất lượng một món hàng hiện nay được đánh giá tổng thể từ rất nhiều mặt, bao gồm cả thời hạn giao hàng, độ ổn định, thiết kế mẫu mã, chất lượng hậu mãi, hỗ trợ kỹ thuật, khả năng tương thích...
Đối thủ của Apple rất khó làm ra một thứ có chất lượng như iPhone hoặc iPad với mức giá như vậy, họ buộc phải cạnh tranh trong những mảng thị trường hẹp hơn. Điều tương tự có thể thấy ở hầu hết các thương hiệu thành công toàn cầu, từ Microsoft, Facebook, Google, Samsung, cho đến BMW, GM, Toyota, thậm chí Airbus, Boeing.
Giống như nhiều thương hiệu điện tử VN, sản phẩm của Apple cũng được lắp ráp ở Trung Quốc, tuy nhiên Apple nắm toàn bộ công nghệ từ phần cứng đến phần mềm, nhà máy ở Trung Quốc chỉ làm thuê cho họ. Trong khi đó, DN VN chỉ lựa chọn sản phẩm của mình từ những mẫu mã người ta đưa cho, mang về lắp ráp, gắn logo lên, tiêu thụ ở một phân khúc thị trường dễ tính. Mặt khác, những đơn hàng của Apple có số lượng lên đến hàng chục triệu cái, còn DN Việt chỉ mua vài ngàn, thậm chí vài trăm đơn vị sản phẩm cho một đơn hàng. Sự khác biệt về giá của những đơn hàng này là rất lớn, và chính nó đã tạo ra lợi nhuận khổng lồ cho Apple. Người tiêu dùng không dại dột đến mức bỏ ra thêm vài trăm USD chỉ cho một cái logo, dù là rất đẹp như của Apple.
Loay hoay với thị trường nội địa nhỏ hẹp, non yếu, thiếu hỗ trợ từ các DN cung cấp dịch vụ và sản phẩm phụ trợ, rất nhiều DN VN xây dựng thương hiệu của mình hoàn toàn dựa trên nguồn sản xuất từ nước ngoài. Và cũng vì thiếu một cái chân đế vững vàng là sản phẩm, họ nhanh chóng suy sụp khi mất đi sự bảo hộ của Nhà nước (thường là từ hàng rào thuế quan và phi thuế quan).
Người Việt thật sự cần thương hiệu Việt hay không?
Nhiều quốc gia vẫn có thể phát triển và thịnh vượng mà không cần đến thương hiệu mạnh trong những ngành hàng công nghệ cao với sản phẩm được sản xuất hàng loạt như máy tính, điện thoại, ôtô... New Zealand là một ví dụ thú vị, với thu nhập bình quân đầu người là 39.300 USD (số liệu 2011 của World Fact Book), đứng thứ 26 trên thế giới. Nền kinh tế này tập trung chủ yếu vào nông nghiệp và du lịch, các sản phẩm nông nghiệp chiếm đến 2/3 doanh thu xuất khẩu hàng hóa của họ.
Cuộc khảo sát thương hiệu châu Á 2012 vừa được Công ty tư vấn BP Nikkei công bố cho thấy tại VN, thương hiệu nội trong một số lĩnh vực như viễn thông, ngân hàng, thực phẩm được xếp cao hơn tên tuổi ngoại.
Ví dụ Vinamilk đứng thứ 4 và Viettel đứng thứ 8 trong các thương hiệu mạnh nhất VN. Nokia và Honda chiếm hai vị trí đầu cũng rất dễ hiểu, do điện thoại di động và xe máy là hai món hàng mà người Việt trưởng thành nào cũng sử dụng hằng ngày. Nhưng việc các thương hiệu Việt vẫn chiếm đến 4/10 vị trí đầu tiên trong bảng kết quả khảo sát cho thấy tình hình chưa đến nỗi bi quan.
Vấn đề là rất nhiều thương hiệu hàng đầu VN chiếm được thị trường và lòng tin của khách hàng do được hưởng những ưu đãi đặc biệt trong thời gian dài. Do tránh được cạnh tranh từ các thương hiệu nước ngoài, thậm chí một mình một chợ, sự thành công đến với họ không mấy khó khăn.
Người dân VN đã phải trả những cái giá rất đắt cho dịch vụ của MobiFone, Vinaphone, Vietnam Airlines, chịu mức thuế nhập khẩu thiết bị điện tử và máy tính nguyên chiếc cao hơn linh kiện trong nhiều năm liền để tạo cơ hội cho các thương hiệu điện tử và máy tính Việt. Những thương hiệu này liệu còn giữ được chỗ đứng của mình hay không, khi họ không còn được các hàng rào thuế quan và phi thuế quan bảo hộ?
Thực tế trong nền kinh tế toàn cầu hiện nay, thương hiệu địa phương trong rất nhiều ngành nghề không có nhiều cơ hội tồn tại, đó là thực trạng đang diễn ra khắp nơi chứ không chỉ ở VN. Rất nhiều nước không có thương hiệu máy tính, điện thoại di động... nội địa. Một DN địa phương chỉ sản xuất vài chục ngàn, thậm chí vài ngàn máy tính, điện thoại làm sao có thể cạnh tranh về giá cả, chất lượng và dịch vụ với những tập đoàn có doanh thu hàng trăm tỉ USD từ hàng trăm triệu sản phẩm hằng năm? Những kế hoạch tham vọng sản xuất tại VN các sản phẩm có tính toàn cầu hóa rất cao như điện thoại, máy tính, xe máy, ôtô, thiết bị nghe nhìn... có lẽ chỉ là "vẽ ra cho vui" hoặc vì một mục đích nào đó, còn trong thực tế thì khi mất sự bảo hộ của Nhà nước, sẽ không có chút cơ hội nào cho các thương hiệu VN trong những ngành hàng đó.
Ngoài những lĩnh vực rất khó cạnh tranh và đưa ra được sản phẩm giá rẻ hơn so với sản phẩm nhập ngoại, các DN địa phương vẫn có thể tìm được chỗ đứng của mình trong chuỗi cạnh tranh toàn cầu. Có những mảng thị trường mà DN nước ngoài không bao giờ có sức cạnh tranh ngang bằng với DN địa phương, đó là mục tiêu mà các thương hiệu Việt nên hướng đến. Thay vì tìm mọi cách xin hỗ trợ của Nhà nước để chiến đấu với những cối xay gió khổng lồ, các DN nội địa nên cố gắng tìm ra cho mình lối đi riêng trong một thế giới ngày càng phẳng.
(Theo Tuổi Trẻ CN)

Thứ Ba, 24 tháng 4, 2012

Thị trường Logistics năm 2012: những vấn đề then chốt

Hà Lê Nguyễn 
(Theo http://supplychaininsight.vn/home/logistics)
Sức ảnh hưởng của các 3PL đối với sự thành công của các chuỗi cung ứng, tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đã và đang tiếp tục được khẳng định. Bên cạnh những đóng góp có thể đo lường được rất rõ ràng, thì cũng còn nhiều “mảnh ghép” các 3PL cần phải lấp đầy. Các 3PL vẫn chưa chứng minh được sự vượt trội về năng lực quản lý để các khách hàng có được một chuỗi cung ứng hiệu năng như họ kỳ vọng.

Trong 2-3 năm qua, kinh tế toàn cầu biến động ảnh hưởng đến ngành dịch vụ logistics không nhỏ. Tuy nhiên, các nghiên cứu hàng năm của Armstrong & Associates về báo cáo doanh thu toàn cầu của các 3PL trong năm 2010 là 541.6 tỷ đôla Mỹ. Chúng ta cùng điểm qua các vấn đề then chốt mà Báo cáo Annual Third-Party Logistics lần thứ 16 năm 2012 đã công bố

Thực trạng thị trường
       Sự đóng góp giá trị của các công ty 3PLs: Một lần nữa vào năm 2012, các công ty thuộc các ngành công nghiệp khác nhau và xung quanh các dịch vụ liên quan logistics toàn cầu và quản lý chuỗi cung ứng là thành phần quan trọng đóng góp vào của hiệu quả kinh doanh tổng thể, và rất nhiều tín dụng các công ty 3PLs với việc giúp đỡ để cung cấp những cách thức mới và sáng tạo để nâng cao hiệu quả hoạt động logistics.
       Logistics dựa vào sự nhất quán: Các chủ hàng đều cho rằng rằng tổng số chi phí logistics của họ chiếm 12% doanh thu bán hàng, và trong đó chi phí thuê ngoài chiếm trung bình 42% của tổng chi phí logistics. Trong tổng chi phí thuê ngoài thì chi phí vận tải chiếm 56% và chi phí hoạt động kho chiếm 39%.
       Giảm sử dụng dịch vụ 3PL: Các chủ hàng đã gia tăng sử dụng dịch vụ lên 64%, trong khi đó, 24% quay trở lại tự tổ chức vài hoạt động logistics và 58% các chủ hàng đã giảm số lượng 3PLs họ sử dụng.
       Sự thành công của khoảng cách nhận thức: Các chủ hàng (88%) và hầu hết các nhà cung cấp dịch vụ 3PL (94%) đánh giá là thành công trong mối quan hệ của họ. Ngoài ra, chỉ hơn hai phần ba của các chủ hàng nói rằng các công ty 3PLs cung cấp cho họ những cách thức mới và sáng tạo để nâng cao hiệu quả logistics - trong khi các nhà cung cấp dịch vụ 3PL lại cho là 91%.
       Sự chia sẻ và hợp tác: Yếu tố liên quan đến sự thành công của mối quan hệ giữa chủ hàng và 3PL cần được nhìn nhận sâu sắc: cởi mở, minh bạch, và giao tiếp tốt, nhanh nhẹn và linh hoạt để đáp ứng các thách thức về nhu cầu kinh doanh hiện tại và trong tương lai; quan tâm “chia sẻ” giữa các công ty 3PLs và các chủ hàng và quan tâm đến sự cộng tác với các công ty khác, thậm chí cả đối thủ cạnh tranh, để đạt được chi phí hậu cần và cải tiến dịch vụ. Chi phí hậu cần, chi phí hàng tồn kho, giảm tài sản cố định do sử dụng dịch vụ của các công ty 3PLs, cũng như tỷ lệ lấp đầy và độ chính xác để xác nhận những cải tiến chi phí và dịch vụ do mối quan hệ thành công 3PL.
       Xu hướng thuê ngoài đang được gia tăng và hoạt động logistics thường xuyên thuê ngoài nhất tiếp tục bao gồm các giao dịch, hoạt động và lặp đi lặp lại, trong khi các vấn đề chiến lược hơn, tập trung đối mặt với khách hàng và CNTT có xu hướng ít được thuê ngoài. Sự mong đợi khả năng đáp ứng công nghệ thông tin của các công ty 3PLs, theo định hướng hoạt động chung của chuỗi cung ứng, các quá trình như giao nhận vận tải và quản lý kho và trung tâm phân phối liên quan đến khả năng công nghệ được nhiều yêu cầu hơn so với các vấn đề về chiến lược và phân tích.
       Các chủ hàng nhận thấy công nghệ thông tin là một yếu tố cần thiết để nâng cao hiệu quả hoạt động. Liệu các chủ hàng có hài lòng về năng lực IT của  nhà cung cấp dịch vụ 3PL? Sự khác biệt về khoảng cách được gọi là” Khoảng cách công nghệ” trong những năm gần đây đã có một sự gia tăng khiêm tốn trong tỷ lệ phần trăm về sự hài lòng của các chủ hàng với khả năng đáp ứng của các công ty 3PLs dù trên thực tế, một giá trị được công nhận rằng tỷ lệ hài lòng đã tăng gấp đôi kể từ năm 2002 đến nay.
       Tiêu chí lựa chọn 3PL mới: tiết kiệm nhiên liệu và khí thải cacbon đang trở thành một phần quan trọng của quá trình quyết định chọn 3PL của các chủ hàng.
       Lý do không sử dụng: Những doanh nghiệp không sử dụng dịch vụ 3PL  đã cung cấp các lý do tại sao họ quyết định không thuê ngoài các dịch vụ của 3PLs. Trong số phổ biến nhất: logistics là một năng lực cốt lõi tại công ty của chúng tôi, hậu cần quá quan trọng để xem xét đến việc thuê ngoài, không có kinh nghiệm trong cắt giảm chi phí, quá khó khăn để tích hợp hệ thống CNTT của chúng tôi với hệ thống các công ty 3PLs. Các chủ hàng khác cũng cho biết đây là một trong những yếu tố quan trọng cho quyết định sử dụng dịch vụ các công ty 3PLs.

Thị trường mới nổi
       Việc tổ chức khó khăn, bao gồm cả những thách thức về logistics, đe dọa làm xói mòn các lợi ích tiềm năng liên quan đến kinh doanh hoặc trong các thị trường mới nổi. Đối với các chủ hàng trong thị trường trưởng thành này, pháp luật khó khăn và các quy định, khác biệt văn hóa, khả năng cung ứng với những lời hứa hoặc mức độ thỏa thuận dịch vụ và chế độ thuế phức tạp là những thách thức hàng đầu.
       Thật vậy, vào bất kỳ thị trường mới đòi hỏi sự nổ lực tích cực, đặc biệt khi đó là một thị trường mới nổi, thậm chí còn quan trọng hơn. Hơn một nửa của các chủ hàng có tại cả hai thị trường trưởng thành và thị trường mới nổi đồng ý rằng, một 3PL toàn cầu phối hợp với một 3PL địa phương là mô hình hoạt động thành công nhất cho điều hành các công ty 3PLs.
       Chuyên môn về các quy định thương mại toàn cầu mới nhất; quản lý và tối ưu hóa các lô hàng định tuyến dựa trên kiến thức và những  thỏa thuận thương mại tự do (FTA). Những chương trình hỗ trợ các nghiên cứu cũng bổ sung thêm dịch vụ tư vấn chủ động, cái nhìn sâu sắc địa phương và chuyên môn và các giải pháp tích hợp. Đa số các chủ hàng tại các thị trường trưởng thành và mới nổi xem kiến thức về FTA của các công ty 3PLs rất quan trọng (65% và 73%, tương ứng).

Nhân sự
       Mặc dù vai trò của chuỗi cung ứng là một đóng góp đáng kể để đạt được các mục tiêu kinh doanh chiến lược, nhưng thực tế đang diễn ra  tình trạng thiếu nhân lực quản lý chuỗi cung ứng hoàn hảo, để bước vào các vị trí quản lý chủ chốt. Điều này có thể được khắc phục bằng cách phát triển chương trình quản lý tài năng, mạnh mẽ hệ thống quá trình kết nối, chiến lược kinh doanh rõ ràng cũng được xác định để duy trì, tuyển dụng và phát triển tài năng.
       Nhiều chủ hàng và các công ty 3PLs đang gặp rắc rối bởi vấn đề quản lý tài năng trong tổ chức của họ, với nhiều chương trình thực hành luân chuyển để xác định và phát triển được các nhà lãnh đạo quan tâm hàng đầu.
       Khi chuỗi cung ứng phát triển phức tạp hơn và khả năng thực chất của công ty để đạt được mục tiêu kinh doanh của mình, họ yêu cầu các nhà lãnh đạo đa dạng hơn và nhiều mặt.Một số lượng đáng kể của các chủ hàng và các công ty 3PLs cảm thấy các nhà lãnh đạo hiện tại của họ không có những gì cần để giải quyết các thách thức kinh doanh trong tương lai.
       Các chủ hàng và các công ty 3PLs đạt giá trị cao nhất trong việc tổ chức hoạt động (51% và 60%) theo việc quản lý con người và kỹ năng phát triển (54% và 43%) trong các nhà lãnh đạo của họ. Ngày hôm nay của các nhà lãnh đạo chuỗi cung ứng đã được yêu cầu phát triển vượt ra ngoài các hoạt động nền tảng của họ, phát triển một loạt các năng lực trong khi làm việc, chủ hàng (37%) và các công ty 3PLs (39%) tự tin vào khả năng học tập của các nhà lãnh đạo ngày nay. Ngoài ra quan trọng là nhà lãnh đạo, khả năng suy luận, thực thi, tiến hành quá trình đánh giá tài năng và dẫn đến thay đổi tầm nhìn xa trông rộng. Tuy nhiên, vài tổ chức đã không quan tâm vào việc các đào tạo và phát triển năng lực quản lý cấp trung, dẫn đến cuộc khủng hoảng tài năng.
       Sự khan hiếm tài năng chuỗi cung ứng là một thách thức thực sự cho các chủ hàng và các công ty 3PLs. Đến nay, phần lớn cả hai bên chủ hàng và các công ty 3PLs tuyển dụng từ bên trong ngành công nghiệp riêng của họ, nhưng một xu hướng phát triển là để tìm kiếm tài năng trong các ngành công nghiệp liền kề. Công ty thành công và tổ chức hoạt động hiệu quả, lợi ích và mức lương hấp dẫn và cơ hội phát triển cá nhân trong công ty được coi là ưu tiên hàng đầu cần thiết để thu hút nhân tài.

Thứ Ba, 3 tháng 4, 2012

Marketing xã hội: Những chữ P mới

Marketing xã hội ra đời vào những năm 1970. Khi đó, Philip Kotler và Gerald Zaltman định nghĩa “marketing xã hội” là “Khác với các khu vực marketing khác chỉ ở chỗ đối tượng của các nhà marketing và tổ chức của họ. Marketing xã hội tác động đến hành vi của xã hội mà không mang lại lợi nhuận cho các marketer, nhưng mang lại lợi nhuận cho khách hàng mục tiêu và cho xã hội nói chung”.

Marketing xã hội được sử dụng rộng rãi trong các chương trình chăm sóc sức khỏe cộng đồng, các biện pháp tránh thai, lạm dụng ma túy… Hàng trăm chương trình marketing xã hội đã và đang được áp dụng tại rất nhiều nước nhằm thay đổi hành vi của công dân: không hút thuốc lá nơi công cộng, chống vi phạm bản quyền sở hữu trí tuệ, ngừng tiêu diệt tê giác sừng đen…

Những chương trình marketing xã hội lớn ở VN có thể kể đến chiến dịch tuyên truyền toàn dân đi bầu cử, đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông. Hay còn nhiều chương trình marketing xã hội khác cũng để lại dấu ấn, như tuyên truyền phân loại rác, ăn thực phẩm chín để chống cúm gia cầm… Đặc biệt, tổ chức DKT International đã có một chương trình marketing xã hội hiệu quả với sản phẩm bao cao su OK.

Một hệ thống biển tấm lớn (quảng cáo ngoài trời), những slogan trên xe buýt (quảng cáo di động) thu hút sự chú ý của người dân… Gần như từ phổ thông tiếng Anh “OK” được hiểu là “bao cao su” tại VN. Chiến dịch marketing xã hội của DKT thành công lớn: Gần 100 triệu bao cao su đã được tiêu thụ hết thay vì phân phát miễn phí khó khăn như trước đó. Từ đó, “OK” cũng tác động đáng kể đến nhận thức của người dân trong việc sử dụng “bao cao su” để kế hoạch hóa gia đình cũng như phòng chống bệnh…

Hiệu quả của marketing xã hội cho thấy kỹ thuật này có thể ứng dụng để thực hiện nhiều chương trình xã hội khác. Nó có thể ứng dụng để hỗ trợ các hoạt động trong Năm Văn minh đô thị, kêu gọi người dân không xả rác, chửi thề, nói tục; hay kêu gọi người dân ủng hộ hàng do DN VN sản xuất… Thời gian gần đây trên đường phố xuất hiện nhiều khẩu hiệu kêu gọi người dân sống văn minh, phòng cháy, hay nhắc nhớ về lịch sử… có đi kèm logo của nhiều DN. Đó có thể là sự lồng ghép khéo léo giữa marketing thương mại và marketing xã hội.

Cũng giống như marketing thương mại, mục tiêu đầu tiên của marketing xã hội là khách hàng. Marketing hướng tới cộng đồng nhưng không vì mục tiêu bán sản phẩm là đầu tiên. Mục tiêu lấy khách hàng làm trọng tâm được thể hiện qua các yếu tố P quen thuộc của marketing hỗn hợp: Product (sản phẩm), Price (giá cả), Place (nơi bán hàng), Promotion (quảng bá)… Tuy nhiên, để có chương trình marketing xã hội hiệu quả, theo xu hướng mới, cần có những chữ “P” mới:

Public (công chúng)

Công chúng ở đây đề cập đến cả nhóm trong và ngoài chương trình. Những thành viên tham gia bên ngoài như khách hàng mục tiêu, các cơ quan tổ chức trong khi những thành viên bên trong là những người tham gia ủng hộ hoặc tiến hành chương trình.

Parnership (đối tác)

Các vấn đề về xã hội thường rất phức tạp và cần rất nhiều nhóm hay tổ chức cần tham gia. Vì vậy, cần kết hợp với nhiều tổ chức khác nhau để tạo nên hiệu quả cao cho công việc.

Policy (chính sách)

Các chương trình marketing xã hội có thể thúc đẩy các cá nhân trong cộng đồng thay đổi thái độ nhưng rất khó để duy trì thái độ ấy nếu như môi trường sống của họ lại thay đổi. Vì vậy, sự thay đổi chính sách là cần thiết để phù hợp hơn với những thay đổi của ngoại cảnh.

Purse (tiền vốn)

Hầu hết các chương trình marketing xã hội thường được bảo trợ từ các tập đoàn, trợ cấp của chính phủ hay các quỹ từ thiện. Đây cũng là một vấn đề cần chú ý để các đơn vị thực hiện có đủ tiền cho chương trình.
(Doanh nhân Sài Gòn)

Thứ Tư, 7 tháng 3, 2012

Value Chain of Michael Porter


Michael Porter of Harvard proposed the value chain as a tool for identifying ways to create more customer value. Every firm is a synthesis of activities the are performed to design, produce, market, deliver, and support its product. The value chain identifies nine strategically relevant activities that create value and cost in a specific business. These nine value creating activities consist of five primary activities and four support activities.The primary activities represent the sequence of bringing materials into the business ( inbound logistics), converting them into final products ( operations), shipping out final products (outbound logistics), marketing them ( marketing and sales), and servicing them (service). The support activities – procurement, technology development, human resource management, and firm infrastructure – are handled in certain specialized departments, but not only there. For example, several departments may do some procurement and hiring of people. The firm’s infrastructure covers the costs of general management, planning, finance, accounting, legal, and government affairs that are borne by all the primary and support activities. The firm’s task is to examine its costs and performance in each value-creating activity and to look for ways to improve it. Firm should estimate its competitors’ costs and performances as benchmarks against which to compare its own costs and performances It should go further and study the “best of class” practices of the world’s best companies. The firm’s success depends not only on how well each department performs its work, but also on how well the various departmental activities are coordinated. Too often, company departments act to maximize their interests. A credit department may Meanwhile, the customer waits and the salesperson is frustrated. A traffic department chooses to ship the goods by rail to save money and again the customer waits. Each department has erected walls that slow down the delivery of quality customer service. The solution to this problem is to place more emphasis on the smooth management of core business processes. The core business processes include The market sensing process: All the activities involved in gathering marketing intelligence, disseminating it within the organization, and acting on the information. The new offering realization process: All the activities involved in researching, developing, and launching new high-quality offerings quickly and within budget. The customer acquisition process: All the activities involved in building deeper understanding, relationships, and offerings to individual customers. The fulfillment management process: All the activities involved in building deeper understanding, relationships, and offerings to individual customers. The fulfillment management process: All the activities involved in receiving and approving orders, shipping the goods on time, and collecting payment. Strong companies develop superior capabilities in managing their core processes. For example, Wal-Mart has superior strength in its stock replenishment process. As Wal-Mart stores sell their goods, sales information flows via computer not only to WalMart’s headquarters, but also to Wal-Mart’s suppliers, who ship replacement merchandise to the stores almost at the rate it moves off the shelf. The idea is not to manage stocks of goods, but flows of goods, and Wal-Mart has turned over this responsibility to its leading vendors in a system known as vendor-managed inventories (VMI).





Thứ Tư, 8 tháng 2, 2012

Những vấn đề cải cách chuỗi cung ứng của Việt Nam

Việt Nam là một trong những nơi sản xuất và nguồn cung ứng phát triển nhanh nhất thế giới - với một tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bình quân cao nhất trong khu vực trong thập kỷ qua.

Sự quan tâm của quốc tế đối với Việt Nam ngày càng tăng. Nền kinh tế đang bùng nổ của Việt Nam đã trở thành một đầu mối để sản xuất ra nước ngoài do các nhà sản xuất toàn cầu đang tìm kiếm những nơi có chí phí thấp hơn so với ở Trung Quốc.

Trong khi chi phí lao động và đi lại của các nước láng giềng đã tăng nhanh chóng trong vài năm qua, điểm yếu trong chuỗi cung ứng của Việt Nam và cơ sở hạ tầng hậu cần chưa phát triển dẫn đến chi phí sản xuất và vận chuyển cao, cản trở khả năng cạnh tranh quốc tế.

Cơ sở hạ tầng (sân bay, cảng biển, đường giao thông, cầu,…) là rất quan trọng cho quốc gia trong việc thu hút đầu tư và thương mại và đó là những yếu tố quan trọng để quyết định nơi nào để đầu tư, xây dựng một nhà máy hoặc thành lập văn phòng trong vùng. Về khả năng cạnh tranh, Việt Nam không có nhiều thời gian để cải thiện dịch vụ hậu cần để chuẩn bị cho sự cạnh tranh gay gắt xảy ra một khi đất nước bắt đầu thực hiện các cam kết WTO về mở cửa thị trường hậu cần cho các công ty nước ngoài.

Mặc dù các phân đoạn của ngành công nghiệp bán lẻ và bán sỉ của Việt Nam đang phát triển nhanh, vẫn còn nhiều thách thức (chẳng hạn như cơ sở hạ tầng không đầy đủ và chi phí nhiên liệu tăng cao) gây cản trở dòng chảy hàng hoá từ các nhà cung cấp thông qua các trung tâm phân phối bán lẻ tới các cửa hàng rải rác trên toàn quốc. Khi các nhà sản xuất thực phẩm, đồ uống và hàng hóa đóng gói phải vật lộn để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng, họ đều phải đối mặt với chi phí tương đối cao để phân phối các sản phẩm trên toàn quốc.

Trong nỗ lực để theo kịp với những yêu cầu này, cũng như phục vụ cho nhu cầu của dân số lớn thứ 13 trên thế giới, chính phủ Việt Nam đã đầu tư mạnh vào việc nâng cấp cơ sở hạ tầng giao thông và hậu cần.

Trong khi đó mạng lưới đường thuỷ nội địa rộng lớn của Việt Nam có thể vận chuyển hàng hóa một cách hiệu quả, một mạng lưới đường bộ không tương xứng (chưa đến 20% đường được tráng nhựa) và đường sắt bị giới hạn đã ngăn chặn việc đáp ứng tiềm năng vận chuyển phù hợp. Mặc dù đường cao tốc quốc gia đã được nâng cấp và các cây cầu mới đã được hoàn thành.

Sự tắc nghẽn ở cửa khẩu cảng đã làm chậm trễ chuỗi cung ứng, làm tăng chi phí giao dịch cho các nhà nhập khẩu và xuất khẩu và các nhà sản xuất trong và ngoài nước, kiềm chế sự tăng trưởng kinh tế và chuyển hướng đầu tư sang các nước khác. Container thường mất 3-7 ngày để thông quan, với sự chậm trễ lên đến 30 ngày kể từ ngày báo cáo. Hơn nữa cơ sở hạ tầng của cảng ở Việt Nam bao gồm: quy hoạch bất hợp lý và phân bổ nguồn lực chưa hợp lý, quá nhiều cảng có quy mô nhỏ, lợi nhuận đầu tư thấp có khả năng hạn chế đầu tư xây dựng cảng mới và quản lý, và sự chậm trễ trong việc đề ra các giai đoạn của kế hoạch tổng thể như nạo vét lòng sông và xây dựng cầu đường, tiếp tục làm tắc nghẽn trầm trọng hơn.

Tốc độ tăng trưởng nhanh chóng của Việt Nam nhanh hơn việc phát triển cơ sở hạ tầng, tạo ra sự tắc nghẽn lớn tại các cảng và kiềm chế việc tăng trưởng xuất khẩu và đầu tư. Quy hoạch cơ sở hạ tầng phải được tích hợp đầy đủ bao gồm cảng biển, đường bộ, và hậu cần hàng không để đảm bảo hiệu quả và sức cạnh tranh cho các nhà đầu tư, các nhà cung cấp dịch vụ, các nhà sản xuất và xuất khẩu.

Theo USAID, ước tính khoảng 200 tỷ USD cho những con đường mới, cầu, cảng, hệ thống xử lý nước thải, điện, và các cơ sở hạ tầng khác là vẫn cần thiết để duy trì tăng trưởng. Nhưng Việt Nam không thể bỏ vốn hoặc liên kết đầu tư này thông qua các kênh chính phủ trong nước và sẽ cần phải sử dụng đối tác công-tư. Cũng sẽ cần thiết để thiết lập một ủy ban hậu cần quốc gia kết nối các Bộ, ngành và doanh nghiệp. Nếu không thành lập được uỷ ban hậu cần, Việt Nam sẽ không có cơ chế cho tiếng nói chung trong việc phát triển cơ sở hạ tầng giao thông và các khu công nghiệp.

Phát triển khả năng vận tải và truyền thông của Việt Nam sẽ đóng một vai trò rất quan trọng trong phát triển dịch vụ hậu cần quốc gia. Trong khi đó, hệ thống giao thông ở Việt Nam vẫn còn yếu, bất kể cho dù đó là đường bộ, đường sắt, đường hàng không, đường thủy hoặc đường biển. Điều này sẽ dẫn đến chi phí hậu cần cao, do đó sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển và khả năng cạnh tranh quốc tế của Việt Nam.

(theo Bangkok Post – TL)

Thứ Bảy, 4 tháng 2, 2012

Top 25 Supply Chains in the World

It should come as no surprise that the companies that appear in the Top 25 Supply Chains are also the ones that make up a good chunk of the Fortune 500.

While fairly obvious, this correlation shows that the most profitable companies in the world wouldn’t have made it to where they are today without a strong network of supply chains to support their ventures. It also proves that having a well-made product is nothing without having the means to ship it across the world and back to meet the ever-growing demands of the consumer.

Apple holds the title as the best supply chain in the world and is also ranked No. 56 on the Fortune 500. Before an Apple product makes it to a local retailer, it goes through a vigorous supply chain network. Parts for items like the iPhone and Nano are produced in Singapore and Taiwan, and those parts eventually makes their way to China for final assembly. So its safe to say that fourth-generation iPhone in your pocket has crossed more international borders than you will probably ever cross in your life. Think about that the next time you slam it down because of a dropped call. Can you hear me now?

Apple isn’t the only technology giant with an intricate supply chain. Dell (5), Samsung Electronics (7), IBM (8), Research in Motion (9), Microsoft (12), Hewlett-Packard (15), Intel (18) and Nokia (19) also garner enough clout with respect to supply chain to make the list. (See the full Top 25 below)

Wal-Mart has long been praised for low prices, but it also has the fourth-best supply chain in the world. The supply chain for Wal-Mart is probably the most important arm of its company. Earlier this year, the US’s largest retailer announced that it plans to cut 20 million metric tons of greenhouse gas emissions from its supply chain by 2015, which is the equivalent of removing more than 3.8 million cars from the road for a year. It is also the top company on the Fortune 500 and revenues upwards of $14.3 billion make it the third most profitable company in the world.

Soft drink producers PepsiCo (5) and Coca-Cola (13) make the list along with internet shopping community Amazon.com (10) and sports apparel retailer Nike (16).

Check out the complete list of the Top 25 Supply Chains:

1. Apple
Industry: Computer Hardware
CEO: Steve Jobs
Fortune 500 Ranking: 56

2. Procter & Gamble
Industry: Consumer Goods
CEO: Bob McDonald
Fortune 500 Ranking: 22
No. 4 Most Profitable Company (2009 profits: $13.4 billion)

3. Cisco
Industry: Computer Networking
CEO: John Chambers
Fortune 500 Ranking: 58

4. Wal-Mart Stores
Industry: Retail
CEO: Mike Duke
Fortune 500 Ranking: 1
No. 3 Most Profitable Company (2009 profits: $14.3 billion)

5. Dell
Industry: Computer Systems
CEO: Michael Dell
Fortune 500 Ranking: 38

6. PepsiCo
Industry: Food, Beverages
CEO: Indra Nooyi
Fortune 500 Ranking: 50

7. Samsung Electronics
Industry: Consumer Electronics
CEO: Lee Yoon-woo
Fortune 500 Ranking: N/A

8. IBM
Industry: Computer Systems
CEO: Samuel J. Palmisano
Fortune 500 Ranking: 20

9. Research in Motion
Industry: Telecommunications
Co-CEOs: Mike Lazaridis, Jim Balsillie
Fortune 500 Ranking: N/A

10. Amazon.com
Industry: Online retail
CEO: Jeffrey Bezos
Fortune 500 Ranking: 100

11. McDonalds
Industry: Fast Food
CEO: James Skinner
Fortune 500 Ranking:108

12. Microsoft
Industry: Computer Systems
CEO: Steve Ballmer
Fortune 500 Ranking: 36
No. 2 Most Profitable Company (2009 profits: $14.6 billion)

13. Coca-Cola
Industry: Food, Beverage
CEO: Muhtar Kent
Fortune 500 Ranking: 72
No. 18 Most Profitable Company (2009 profits: $6.8 billion)

14. Johnson & Johnson
Industry: Healthcare
CEO: William C. Weldon
Fortune 500 Ranking: 33
No. 10 Most Profitable Company (2009 profits: $12.3 billion)

15. Hewlett-Packard
Industry: Computer Systems
CEO: Léo Apotheker
Fortune 500 Ranking: 10
No. 17 Most Profitable Company (2009 Profits: $7.7 billion)

16. Nike
Industry: Clothing
CEO: Mark Parker
Fortune 500 Ranking: 124

17. Colgate-Palmolive
Industry: Personal Products
CEO: Ian Cook
Fortune 500 Ranking: 151

18. Intel
Industry: Computer Systems
CEO: Paul Otellini
Fortune 500 Ranking: 62

19. Nokia
Industry: Telecommunications
CEO: Olli-Pekka Kallasvuo
Fortune 500 Ranking: N/A

20. Tesco
Industry: Retail
CEO: Sir Terry Leahy
Fortune 500 Ranking: N/A

21. Unilever
Industry: Conglomerate
CEO: Paul Polman
Fortune 500 Ranking: N/A

22. Lockheed Martin
Industry: Aerospace
CEO: Robert Stevens
Fortune 500 Ranking: 44

23. Inditex
Industry: Fashion, Retail
CEO: Pablo Isla
Fortune 500 Ranking:

24. Best Buy
Industry: Retail
CEO: Brian Dunn
Fortune 500 Ranking: 45

25. Sclumberger
Industry: Oilfield Services
CEO: Andrew Gould
Fortune 500 Ranking: N/A



Source: Supplychaindigital

Chủ Nhật, 29 tháng 1, 2012

Thị trường lúa gạo tiếp tục “đóng băng”

Dù Thái Lan quyết định duy trì chính sách mua lúa với giá cao cho nông dân nước này thành không thời hạn, thay vì đến tháng 2/2012, nhưng giá lúa gạo đạt tiêu chuẩn chế biến xuất khẩu của Việt Nam vẫn tiếp tục lao dốc, lúa gạo cấp thấp thì gần như “đóng băng” do thương lái gần như không dám mua vào.
Đó là những diễn biến của thị trường lúa gạo nội địa ở những ngày trước trong và sau tết Nhâm Thìn năm nay.
So với mức giá kỷ lục được xác lập cách đây không lâu, từ 7.600 - 7.700 đồng/kg lúa hàng hóa và 10.000 - 10.500 đồng/kg đối với gạo nguyên liệu (gạo lức), thì hiện mỗi kg gạo rớt giá rất nhiều và chỉ còn từ 7.500-7.600 đồng/kg, tức tương đương mỗi kg lúa hàng hóa lúc đạt mức giá kỷ lục.
Giá lúa gạo rớt thê thảm
Nếu như trong những tháng từ giữa đến cuối năm 2011, thương lái lẫn doanh nghiệp thu mua lúa gạo ra sức tìm nguồn cung để mua chế biến phục vụ xuất khẩu thì từ cuối năm 2011 đến nay, thị trường lúa gạo nội địa lẫn xuất khẩu gần như “chết đứng” vì gặp khó khăn trong việc tìm kiếm hợp đồng xuất khẩu. Đặc biệt, là thời điểm trước, trong và những ngày sau Tết Nguyên đán này, thị trường lúa gạo nội địa càng bế tắc.
Ông Dương Văn Mến, thương lái mua lúa tại huyện Lấp Vò, Đồng Tháp cho biết, hiện chỉ mới có lác đác vài doanh nghiệp hoạt động trở lại, nhưng họ chào mua gạo với mức giá “cho có”, chỉ 7.500 - 7.600 đồng/kg, tức tương đương với 1 kg lúa hàng hóa lúc ở mức giá cao trước đây.
Thông tin từ cánh thương lái chuyên thu mua lúa tại chợ đầu mối lương thực Bà Đắc, huyện Cái Bè, Tiền Giang, hiện lúa đạt tiêu chuẩn chế biến xuất khẩu (gồm các giống lúa như OM 4218, OM 4900, OM 5451…), chỉ còn dao động quanh mức 5.500-5.600 đồng/kg đối với lúa khô và từ 5.000 đồng/kg trở xuống đối với lúa tươi được thu hoạch bằng máy gặt đập liên hợp, dù nguồn lúa hàng hóa loại này vẫn chưa có dấu hiệu tăng cao.
Riêng đối với lúa IR 50404 cấp thấp thì gần như “chết đứng” vì thương lái gần như không dám “vung tiền” gom loại lúa này do những tín hiệu bất lợi từ thị trường.
Bà Ba Ánh (Nguyễn Phúc Ánh), Giám đốc doanh nghiệp Tấn Tài III, chợ Bà Đắc, huyện Cái Bè, Tiền Giang nói: “Thị trường xuất khẩu gặp khó do bị Ấn Độ cạnh tranh ở loại gạo phẩm cấp thấp, cộng thêm hiện các doanh nghiệp kinh doanh lúa gạo vẫn đang ở giai đoạn nghỉ tết nên không ai dám thu loại gạo này cũng la điều dễ hiểu thôi”.
Hiện lúa đông xuân 2011-2012 của bà con khu vực ĐBSCL đang phát triển rất tốt, hứa hẹn cho một vụ mùa bội thu. Các địa phương xuống giống lúa đông xuân sớm như Đồng Tháp, An Giang, Long An, Tiền Giang…., cũng bắt đầu thu hoạch nhưng với tâm trạng lo lắng sẽ lặp lại điệp khúc “trúng mùa, rớt giá”.
“Liều thuốc” mang tên Thái Lan?
Theo thông tin trên báo chí, Bộ trưởng Thương mại Thái Lan cho biết chính phủ nước này sẽ tiếp tục duy trì chính sách mua lúa với giá cao cho nông dân nước này thành không thời hạn, thay vì sẽ được kết thúc vào tháng 2/2012 nhằm làm tăng giá lúa gạo và tăng thu nhập cho nông dân nước này.
Theo đánh giá của các chuyên gia ngành lúa gạo, việc Thái Lan tiếp tục duy trì chính sách trợ giá là một “liều thuốc” cực mạnh chặn đà suy giảm của giá lúa gạo ở Thái Lan thời gian qua. Đồng thời, nó sẽ giúp duy trì và dẫn dắt giá lúa gạo thị trường Châu Á cũng như thị trường thế giới tiếp tục khôi phục và tăng cao trở lại.
Tuy nhiên, có ý kiến lại cho rằng, giá lúa gạo thị trường Châu Á sẽ khó có thể khôi phục lại được nhiều khi mà Ấn Độ vẫn tiếp tục cho xuất khẩu gạo cấp thấp giá rẻ như hiện nay, bổ sung một lượng lớn cho nguồn cung vào thị trường gạo thế giới.
(Theo Trung Chánh - TBKTSG Online)

Thứ Ba, 20 tháng 12, 2011

Thể chế với sự thịnh vượng của quốc gia

PGS.TS.Trần Văn Tùng*

Nhiều nhà nghiên cứu gần đây cho rằng thể chế mới là yếu tố cơ bản quyết định cho tăng trưởng kinh tế.
Nếu như các mô hình kinh tế về tích tụ các yếu tố sản xuất thay đổi công nghệ nội sinh chỉ cung cấp những lời giải thích gần đúng cho tăng trưởng kinh tế tương đối, thì những mô hình nào đưa ra lời giải thích đáng tin cậy hơn cả? Nhiều nhà nghiên cứu gần đây cho rằng thể chế mới là yếu tố cơ bản quyết định cho tăng trưởng kinh tế. Khi nhấn mạnh tầm quan trọng của lý thuyết thể chế và các thể chế kinh tế, để có các đánh giá khách quan hơn, cần xem xét tới yếu tố địa lý, văn hoá, các thành tố dẫn đến việc hình thành các động cơ kinh tế và một số cơ may có được từ một số xã hội.

Thể chế kinh tế

Có giả thiết cho rằng sự khác biệt về thể chế kinh tế là nguyên nhân cơ bản của các mẫu hình khác nhau trong tăng trưởng kinh tế. Cốt lõi của giả thiết này dựa trên luận điểm cách thức con người tổ chức xã hội của họ quyết định xã hội đó có thịnh vượng hay không. Một cách tổ chức xã hội khuyến khích mọi người đổi mới, chấp nhận rủi ro, tiết kiệm cho tương lai, học tập, giải quyết những vấn đề chung và cung cấp các hàng hoá công cộng… là một xã hội đạt tới mức thu nhập cao hơn. Ngược lại với cách tổ chức này thì xã hội đó sẽ rơi vào tình cảnh nghèo đói.

Ý tưởng về sự phồn vinh của một xã hội phụ thuộc vào các thể chế kinh tế, ít nhất đã được Adam Smith đề cập trong các cuộc thảo luận về chủ nghĩa trọng thương và vai trò của thị trường, và nổi bật hơn với luận điểm xã hội thành công về kinh tế khi họ có được thể chế kinh tế tốt. Chúng ta có thể cho rằng, thể chế kinh tế tốt bao gồm một số các sự vật có liên quan đến nhau. Đó là, quyền sở hữu phải được thực thi trên diện rộng trong một xã hội, để cho tất cả các cá nhân có cơ hội đầu tư, đổi mới công nghệ và các đổi mới đó tham gia vào các hoạt động kinh tế, có một mức độ hình đẳng về xã hội (kể cả bình đẳng trước pháp luật), ngăn chặn người có quyền lực thâu tóm các cơ hội đầu tư.

Một loại hình khác của thể chế kinh tế là thị trường. Các quan điểm truyền thống của các nhà sử học về tăng trưởng kinh tế nhấn mạnh tới sự lan toả của thị trường, đại diện tiêu biểu của những quan điểm này là Pirenne (1937). Các mô hình về bẫy nghèo đói của Acemoglu (1995,1997), của Murphy và Shleifer (1989), dựa trên ý tưởng cho rằng thị trường không hoàn hảo có thể dẫn đến sự tồn tại của điểm cân bằng tối ưu Pareto. Kết quả là một quốc gia có thể gặp khó khăn trong một trạng thái cân bằng Pareto kém, gắn liền với nghèo đói. Nhưng để nhận ra bẫy nghèo đói, đòi hỏi phải có sự hợp tác các hoạt động mà thị trường không cung cấp. Các nghiên cứu được khởi xứng bởi Banerjee và Newman (1993), Glor và Zeira (1993) dựa trên ý tưởng thị trường không hoàn hảo, vấn đề phân phối của cải cho những người có cơ hội đầu tư, cùng với việc phân phối thu nhập sai lệch thì xã hội đó sẽ bị mắc kẹt trong nghèo đói, nói khác đi là rơi vào bẫy nghèo đói.

Các lý thuyết này đưa ra một số mô hình thú vị về động cơ mong muốn phụ thuộc vào hành vi của một nhóm người khác hoặc phân phối của cải cho một nhóm người nào đó khi mà thị trường không hoàn hảo. Tuy nhiên, cấu trúc của thị trường là nội sinh, và được xác định bởi quyền sở hữu. Một khi cá nhân có quyền sở hữu an toàn và bình đẳng trước các cơ hội, động cơ sẽ tồn tại để tạo ra và cải thiện thị trường (mặc dù rất khó đạt tới một thị trường hoàn hảo). Vì vậy, sự khác biệt về thị trường là một kết quả của các hệ thống khác nhau về quyền sở hữu và thể chế chính trị tạo nên sự khác biệt giữa các nước về hoạt động kinh tế. Như vậy, vấn đề trọng tâm của thể chế kinh tế là những nội dung có liên quan tới việc thực thi các quyền sở hữu trên diện rộng trong các nhóm xã hội, tạo ra sự khác nhau về thu nhập.

Yếu tố địa lý

Trong khi các lý thuyết thể chế nhấn mạnh tầm quan trọng của các yếu tố do con người tạo ra, để hình thành các động cơ thì một lý thuyết khác lại tập trung vào vai trò tự nhiên có nghĩa là môi trường vật chất và vị trí địa lý. Trong bối cảnh hiểu biết về sự khác biệt giữa các quốc gia trong hoạt động kinh tế, cách tiếp cận này nhấn mạnh tới sự khác biệt địa lý, khí hậu, sinh thái quyết định các sở thích và cơ hội của từng tác nhân kinh tế ở các xã hội khác nhau. Phương pháp tiếp nhận này gọi là giả thuyết địa lý. Hiện tại, có ít nhất ba phiên bản về giả thuyết địa lý, mỗi giả thiết nhấn mạnh một cơ chế khác nhau của yếu tố địa lý ảnh hưởng thế nào tới sự thịnh vượng của một quốc gia.

Thứ nhất, khí hậu có thể là một yếu tố quan trọng quyết định tới nỗ lực làm việc, động cơ và năng suất. Nhiệt độ quá cao, làm cho cơ thể giảm sức mạnh. Vì vậy, sự kiệt sức sẽ làm giảm tinh thần hăng say, giảm sức sáng tạo, thậm chí làm cho con người không còn rộng lượng với nhau. Thực tế cho thấy con người ở xứ lạnh táo bạo và dũng mạnh hơn. Một trong những nhà kinh tế học nổi tiếng là Marshall đã cho rằng thể chất phụ thuộc phần nào vào chất lượng của chủng tộc, một phần khác quan trọng hơn là phụ thuộc vào khí hậu.

Thứ hai, địa lý là yếu tố quyết định cho công nghệ phát triển tại một xã hội, đặc biệt là trong nông nghiệp. Khi bắt đầu của thời kỳ tăng trưởng kinh tế hiện đại, công nghệ của các vùng ôn đới có năng suất cao hơn so với vùng nhiệt đới. Khẳng định của nhà kinh tế học Sachs (2001) cũng giải thích sự chinh phục ồ ạt của người Châu Âu vào Châu Mỹ là do sự khác biệt về công nghệ. Châu Âu truyền thống là nơi tập trung dân cư đông đúc, công nghệ trong nông nghiệp nhằm vào mục tiêu cung cấp thực phẩm. Tiến bộ công nghệ đã giúp cho Châu Âu khai phá các vùng đất mới tại các quốc gia Bắc và Nam Mỹ trong các thế kỷ trước.

Thứ ba, các giả thuyết địa lý đặc biệt phổ biến trong thập kỷ qua, liên quan tới gánh nặng bệnh tật. Tỷ lệ mắc bệnh sốt rét ở Châu Phi cận Sahara, HIV đang làm giảm tốc độ tăng trưởng của Châu Phi.

Yếu tố văn hoá

Nghiên cứu nổi bật nhất về quan hệ giữa văn hoá và phát triển là của Weber (1930), ông lập luận rằng, nguồn gốc của công nghiệp hoá ở Tây Âu, xuất phát từ cải cách đạo Tin Lành. Theo quan điểm của ông, nhóm niềm tin về thế giới trong đạo Tin Lành, có vị trí rất quan trọng đối với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản. Đạo Tin Lành, nhấn mạnh tới ý tưởng của lý thuyết định mệnh ở chỗ, một số cá nhân được Chúa chọn và được ưu ái, trong khi những người khác thì không, và một phần của nhân loại được cứu rỗi, còn phần khác thì bị nguyền rủa. Những ai được chọn, còn ai thì không? Weber đã giải thích điều này là do thuyết định mệnh. Đạo Tin Lành dẫn đến một tập hợp các niềm tin, trong đó nhấn mạnh tới thành công về kinh tế là nơi phù hợp với sự lựa chọn của Chúa. Nếu so sánh với Đạo Tin Lành thì Công giáo và các tôn giáo khác thúc đẩy chủ nghĩa tư bản phát triển yếu hơn. Đạo Tin Lành khoan dung hơn với sự đổi mới.

Gần đây Landes (1998), cũng cho rằng nguồn gốc của sự thống trị kinh tế của phương Tây là do có một tập hợp tín ngưỡng về thế giới, và họ biết cách chuyển các niềm tin đó thành nỗ lực của con người. Ý tưởng về văn hoá ảnh hưởng như thế nào đến tăng trưởng kinh tế bị giới hạn bởi tôn giáo. Thường thì các nghiên cứu độc lập cố gắng giải thích sự phát triển là do các đặc điểm văn hoá ban đầu của một quốc gia, chủng tộc. Thí dụ, Mỹ Latinh nghèo bởi vì áp dụng di sản của Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha, trong khi Bắc Mỹ thịnh vượng là do áp dụng di sản Anglo-Saxon của nó. Ngoài ra, cũng có một số nghiên cứu khác về nhân chủng học lập luận rằng, các xã hội có thể trở nên năng động khác thường với hoàn cảnh là do họ có một hệ thống niềm tin và cách thức hoạt động để phát huy thành công, tiến tới thịnh vượng. Ngược lại, các xã hội không thích nghi với hoàn cảnh thì rơi vào nghèo đói. Thí dụ, người nghèo ở vùng miền Nam nước Italia do chịu ảnh hưởng niềm tin vào các thành viên gia đình và từ chối hợp tác với người khác. Những xã hội như thế là thiếu hụt vốn xã hội. Mối tương quan giữa xã hội và tăng trưởng kinh tế là chặt chẽ, cùng chiều. Mức độ chặt chẽ khác nhau tạo ra các tỷ lệ tăng trưởng khác nhau.

Thể chế chính trị dân chủ và tăng trưởng

Quan điểm trung tâm cho rằng dân chủ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dựa trên các thể chế chính trị dân chủ, và các thể chế đó vận hành có hiệu quả dưới chế độ dân chủ. Thể chế này bao gồm chế độ pháp quyền, bảo vệ quyền sở hữu, tự do cá nhân nhằm phát huy sáng tạo năng lực hoạt động trong các ngành công nghiệp, thương mại, dịch vụ... Trong công trình nghiên cứu của Iqbal, Jong-Ilyou (2001), tiến hành khảo sát 115 quốc gia trong thời kỳ 1960 – 1980 đã cho thấy các nước có mức độ chính trị dân chủ, mở cửa cao, đạt tỷ lệ tăng trưởng trung bình hàng năm từ 2,5 – 3%, so với mức tăng trưởng 1,4% của những nước có nền kinh tế thiếu dân chủ và đóng cửa với bên ngoài.

Các kết quả nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa dân chủ và tăng trưởng kinh tế đã được một số tác giả tập trung nghiên cứu, dựa vào các yếu tố về pháp quyền, chế độ chính trị tác động tích cực đến mức nào tới tăng trưởng. Đại diện tiêu biểu nhất lý giải cho mối quan hệ này là North (1990). Theo ông thì pháp quyền được hiểu là quyền lực tối cao của định chế pháp luật, được củng cố nhờ bộ máy tư pháp độc lập thường là tam quyền phân lập, và thiết chế quan trọng để bảo đảm các quyền sở hữu. North cho rằng, các thiết chế dân chủ phải được xem là một phần của cơ sở chính trị pháp quyền. Hoạt động của thể chế dân chủ sẽ bảo đảm cho cạnh tranh chính trị công bằng hơn và không cho phép thế lực chính trị nào giành được quyền lực hơn để áp đảo thế lực khác. Nghiên cứu của ông đã đi đến kết luận rằng, thứ nhất thể chế dân chủ đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì một chính quyền tốt, hạn chế tham nhũng. Thứ hai, những nước có thể chế chính trị dân chủ và quyền tự do dân sự có lợi cho phát triển kinh tế. Thứ ba, những thành quả kinh tế đạt được to lớn hơn là do có môi trường kinh tế tự do hơn. Các kết luận này đã giúp cho các tổ chức quốc tế đưa ra một số giải pháp giúp đỡ cho các nước nghèo. Theo quan điểm của các tổ chức này, ưu tiên hàng đầu không phải là đẩy mạnh cải cách dân chủ ngay tức thì mà phải cải cách các thể chế hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế. Không nên hy vọng quá nhiều vào cải cách chính trị, do đó cải cách chính trị theo hướng dân chủ phải được tiến hành đồng thời với cải cách kinh tế. Nhiều nước quá vội vàng thực hiện cải cách chính trị đã thất bại trong cải cách kinh tế, thí dụ là nước Nga trong đầu thập niên 1990 dưới thời Eltsin làm tổng thống.

Các bằng chứng hiện tại

Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy giả thuyết thể chế kinh tế khác nhau tạo ra tỷ lệ tăng trưởng khác nhau và mức thu nhập bình quân đầu người khác nhau.

Dựa vào chuỗi số liệu trong thời kỳ 1985-1995 về thu nhập bình quân đầu người và số liệu về quyền sở hữu chống lại rủi ro do quốc hữu hoá hoặc xung công. Các nước có quyền sở hữu an toàn (nghĩa là có thể chế kinh tế tốt hơn) sẽ có thu nhập bình quân đầu người cao hơn. Thí dụ đầu tiên về những thử nghiệm rõ ràng nhất về thể chế là trường hợp Hàn Quốc (Nam Triều Tiên).

Trước khi đi theo hai con đường phát triển khác nhau thì Hàn Quốc và CHDCND Triều Tiên đều chung một nguồn gốc văn hoá. Bắc Triều Tiên được thiên nhiên ưu đãi hơn về tài nguyên có các mỏ than trữ lượng lớn, vonfram, kẽm, magie, sắt, đường, vàng, muối, thuỷ điện… Hàn Quốc cũng có một số khoáng sản. Nếu so sánh thì thấy rằng cả hai đều có cùng khả năng về vị trí địa lý và tiếp cận thị trường, chi phí vận tải, nhưng về bất cứ phương diện gì khác thì Bắc Triều Tiên vẫn vượt trội hơn. Thí dụ, đã đạt tới trình độ công nghiệp hoá tương đối khi các công ty Nhật Bản mở rộng hoạt động trên miền Băc. Điển hình là nhà máy thuỷ điện trên sông Yalu lớn thứ hai thế giới lúc đó do tập đoàn Suiho xây dựng. Nippon Chisso, một tổ hợp hoá chất lớn thứ hai thế giới cũng hoạt động trên Bắc Triều Tiên, ngoài ra Chongjin là một cảng lớn trên biển Nhật Bản cũng ở đất Bắc. Mặc dù, miền Bắc có một số tiềm năng, Maddison (2001), ước tính rằng tại thời điểm chia cắt thì hai miền đều có mức thu nhập tương đương nhau. Nhưng đến cuối thập niên 1960 Hàn Quốc trở thành nền kinh tế thần kỳ ở châu Á, một quốc gia nổi lên nhanh nhất về sự thịnh vượng tại Đông Á, trong khi đó Triều Tiên vẫn ở trong tình trạng kinh tế trì trệ. Năm 2000 thu nhập bình quân đầu người của Hàn Quốc là 18.000USD, trong khi Triều Tiên là 1.000USD, tương đương với mức thu nhập của các quốc gia Châu Phi cận Xahara.Hàng triệu người thiếu đói lương thực.

Có thể lãnh đạo Kim Nhật Thành và các cộng sự của ông tin rằng các chính sách kinh tế theo mô hình Xô Viết tốt hơn cho đất nước. Tuy nhiên, những năm 1980 đã cho thấy các chính sách kinh tế của Chính phủ Triều Tiên là không hiệu quả. Tiếp tục đi theo đường lối kinh tế này, theo Acemoglu (2009) là do các nhà lãnh đạo muốn duy trì quyền lực và lợi ích riêng của mình mà quay lưng với lợi ích chung của đại đa số nhân dân. Khi mà thể chế kinh tế chỉ phục vụ cho một nhóm người có quyền lực thì hầu hết các quốc gia đi theo mô hình thể chế đó đều có kết cục thất bại.

Hàn Quốc đã áp dụng thể chế kinh tế thị trường tự do cùng với quá trình dân chủ hóa đã đầu tư cho giáo dục, khoa học công nghệ ở mức cao, hội nhập sâu vào nền kinh tế toàn cầu, nhanh chóng trở thành quốc gia có nền công nghiệp hiện đại. Nhiều ngành công nghiệp như điện tử, ô tô, đóng tàu, hóa dầu…có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường thế giới.

Nền văn minh duy nhất đáng lẽ có thể vượt qua châu Âu là Trung Quốc. Bảng liệt kê danh sách các phát minh của Trung Quốc khá dài như la bàn, giấy và mực in, kỹ thuật in, thuốc nổ, dệt lụa, sành sứ, xe ngựa... Vào thế kỷ 12, công nghiệp dệt của Trung Quốc đã vượt xa nước Anh, luyện thép tại Trung Quốc đã biết sử dụng than đá. Nhưng lịch sử công nghiệp hoá của Trung Quốc là những bước lùi do không có công nghệ mới. Bởi vì, Trung Quốc thiếu vắng thị trường tự do, nhà nước luôn can thiệp vào thị trường và hoạt động kinh doanh của tư nhân. Thứ hai, nhà nước đã cấm đoán nhiều hoạt động kinh tế, thao túng giá cả, tham nhũng và không muốn để cho tư nhân làm giàu. Thứ ba, cung cách làm việc theo kiểu truyền thống, bóp chết sáng kiến, làm tăng các chi phí giao dịch, loại bỏ các tài năng về công nghệ và kinh doanh khỏi lĩnh vực công nghiệp và thương mại. Không có một biểu hiện nào của đời sống công cộng thoát khỏi sự kiểm soát của nhà nước, thể chế chính trị mất dân chủ đã ngăn chặn quá trình phát triển của Trung Quốc.

----

* Viện nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Acemoglu, Daron (2009), Modern Economic Growth, Princeton Iniversity press.

2. Acemoglu, Daron (1995), Reward Structures and the Allocation of Talent, European Economic Review, 39, 17-33

3. Acemoglu, Daron (1997), Training and Innovation in an Inperfect Labor Market, Review of Economic Studies, 64, 445-464

4. Acemoglu, Daron, Simon Johnson and James A. Robinson (2002), Reversal of Fortune: Geography and Institutions in the Making of Modern World Incom Distribution, Quarterly of Journal of Economics 118, 1231-1294

5. Banerjee, Abihyit and Adrew F. Newman (1993), Ocupational choice and the Process of Development, Journal of Political Economy 101,274-198

6. Davis, Ralph (1973), The Rise of the Atlantic Economics, Cornell University Press

7. Galor Oded and Joseph Zeina (1993), Income Distribution and Macroeconomics, Review of Economic Studies 40, 35-52

8. Greif, Avner (1994), Cultural Beliefs and the Organization of Society, Journal of Political Economy 102, 912-950

9. Iqbal, Jong – Ilyou (2001), Democracy, Market Economics and Deverlopment: An Asian Perspctive, World Bank Press.

10. Knack, Steven and Philip Keefer (1997), Does Social capital have an Economic Impact? A cross – Country Investigation? Quarterly Journal of Economics 112, 1252-1288

11. Landes, Davids (1998), The wealth and The Poverty of Nations: Why some are so rich and some so poor, Norton & Co, New York

12. Maddision, A17. Maddision, Angus (2001), The world Economy: A Millenial perspective, OECD Paris

13. Murphy, Kevin J, Andrei Shleifer and Robert W. Vishny (1989) Industrialization and the Big Push, Journal of Political Economy, 97, 1003-1026

14. North, Douglas (1990), Institution, Instutution change, and Economic performance, Cambridge University Press

15. Pirenne, Henri (1937), Economic and Social History of Medieval Europe, New York, Brace & Co press

16. Trần Văn Trùng (2003), Quan hệ giữa thiết chế dân chủ với tăng trưởng kinh tế, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 11-2002

17. Tân tử Lăng (2007), Mao Trạch Đông ngàn năm công tội, NXB Thư tác Phường Hồng Kông. Thông tấn xã Việt Nam xuất bản.

18. Weber, Max (1930), The protestal Ethic and the Spirit of Capitalism, Allen and Unwin, London.

Thứ Năm, 20 tháng 10, 2011

Chính sách liên kết sản xuất – tiêu thụ mía đường Thái Lan

TS. Bảo Trung

Mía đường là một trong những cây trồng chính của Thái Lan. Tổng diện tích trồng mía của Thái Lan lớn thứ 5 trên thế giới, sau Brazil, Ấn Độ, Cu Ba và Trung Quốc. Vùng canh tác chính thuộc các tỉnh Karnjanaburi, Suphanburi, Udonthani, Chaiyaphoom, Nakornratchasima, Konkaen, Kampangpeth và Nakornsawan chiếm tới 60% tổng diện tích canh tác của cả nước.Trong năm 2005, Thái Lan là nước xuất khẩu thứ 2 về mía đường, tổng giá trị xuất khẩu là 29,541 triệu Baht. Các thị trường xuất khẩu chính là Nhật Bản, Hàn Quốc, Indonesia và Malaysia.
Trong niên vụ 2010 – 2011, Thái Lan có 47 nhà máy chế biến mía đường với tổng công suất của các nhà máy khoảng 620.000 tấn/ngày. Hiện tại, Thái Lan có khoảng 1,03 triệu ha mía nằm rãi rác trên 49 tỉnh thuộc 4 vùng của cả nước, với khoảng 190.000 hộ gia đình trồng mía. Hàng năm ngành công nghiệp mía đường Thái Lan tạo công ăn việc làm cho khoảng 1,5 triệu lao động của nước này.
Năm 1984, Thái Lan đã ban hành Luật về mía đường và đường (Cane and Sugarcane Act) với mục đích tổ chức và kiểm soát việc sản xuất – tiêu thụ mía đường đảm bảo duy trì sự ổn định trong nền kinh tế của đất nước, bảo vệ quyền lợi của người nông dân trồng mía và đảm bảo sự công bằng giữa nông dân, nhà máy chế biến và người tiêu dùng trong việc sản xuất, chế biến và tiêu thụ mía đường.
Căn cứ vào Luật mía đường và đường, một Ủy ban quản lý ngành mía đường được thành lập bao gồm đại diện Nhà nước, nông dân trồng mía, các nhà máy chế biến đường và các nhà thương mại được thành lập. Ủy ban này với tên gọi là Văn phòng Hội đồng mía đường và đường (Office of the cane and sugarcane Board), đặt trụ sở tại Bộ Công nghiệp Thái Lan. Thành phần Ban quản trị của Văn phòng Hội đồng mía đường và đường bao gồm 5 thành viên từ các Bộ trong đó có Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Hợp tác xã, Bộ trưởng Bộ Công nghiệp, Bộ trưởng Bộ Thương mại; 9 đại diện cho nông dân trồng mía và 7 đại diện cho các doanh nghiệp chế biến và thương mại. Ban quản trị bầu ra 1 Chủ tịch, 2 Phó chủ tịch và 1 Tổng thư ký. Tổng thư ký là người trực tiếp điều hành hoạt động của Văn phòng Hội đồng mía đường và đường. Nhiệm vụ và trách nhiệm của Văn phòng Hội đồng mía đường và đường:
(1) Thực hiện các công việc hành chính của Hội đồng mía đường và đường
(2) Xây dựng các chính sách và kế hoạch phát triển ngành mía đường
(3) Giám sát sản xuất và phân phối mía và đường tuân thủ theo quy ta18vc và quy định của Luật mía đường và đường
(4) Điều phối hoạt động hợp tác liên quan đến xúc tiến và phát triển ngành giữa các tổ chức trong nước với nước ngoài
(5) Thúc đẩy nghiên cứu và phát triển giống mía, các sản phẩm đường và các sản phẩm phụ cũng như phát triển công nghệ để nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành mía đường.
Trên cơ sở của Luật mía đường và đường năm 1984, Chính phủ Thái Lan quy định về tổ chức quản lý ngành mía đường từ đầu vào đến đầu ra một cách chặt chẽ bao gồm 3 nội dung chính:
Thứ nhất, Chính phủ đưa ra một hệ thống phân phối thu nhập ròng mà theo đó nông dân sẽ nhận được 70% và chủ các nhà máy nhận được 30% trong tổng thu nhập từ đường. Tổng thu nhập từ đường là giá trị thu được dựa trên việc bán đường tính theo giá đường trắng (white sugar). Trên cơ sở này, Văn phòng Hội đồng mía đường và đường sẽ xác định giá mía cây. Giá mía cây nông dân trồng mía bán cho các nhà sản xuất đường của Thái Lan được xác định giá trị dựa trên chữ đường (CCS) và số lượng do đại diện của Văn phòng mía đường và đường tại nhà máy chế biến đường đo lường theo Hệ thống mía và đường thương mại Thái (Thai Commercial Cane & Sugar System). Hàng năm, Văn phòng Hội đồng mía đường và đường sẽ xác định giá mía cây tạm tính đầu vụ để ứng tiền cho nông dân khi giao mía cho nhà máy chế biến đường. Mức giá này sẽ được điều chỉnh vào cuối vụ và giá này là giá cuối cùng của sản phẩm mía đường và đường. Nếu giá mía kết thúc lớn hơn giá khởi điểm, phần chênh lệch sẽ được trả lại cho người nông dân trồng mía. Nếu ngược lại, Chính phủ Thái Lan sẽ hỗ trợ phần chênh lệch cho các nhà máy bằng Quỹ hỗ trợ mía đường của Chính phủ.
Thứ hai, Chính phủ quy định hạn ngạch xuất khẩu và chính sách quản lý xuất khẩu đường rất cụ thể và công khai. Hàng năm, khoảng tháng 10, tháng 11, Bộ Thương mại Thái Lan công bố kế hoạch và số lượng đường xuất khẩu cho cả năm sau. Giấy phép hạn ngạch (quota) xuất khẩu đường được cấp cho các nhà máy sản xuất và một số doanh nghiệp xuất khẩu đường của Thái Lan.
Thứ ba, Chính phủ quy định về việc xây dựng và quản lý hạn ngạch A, B, C. Hạn ngạch A, khoảng 2,5 triệu tấn, là số lượng đường được quy định dành cho tiêu thụ trong nước. Hạn ngạch B là hạn ngạch dành cho xuất khẩu, ấn định là 0,8 triệu tấn hàng năm được phân bổ cho Cty Thai Cane Cooperation (Cty liên doanh giữa Nhà nước và tư nhân 50/50) để xuất khẩu. Hạn ngạch C là hạn ngạch dành cho các nhà sản xuất mía đường xuất khẩu trực tiếp. Năm 2010, số lượng đường dành cho các nhà máy này là 3,92 triệu tấn. Quyền xuất khẩu được phân bố cho 7 công ty xuất khẩu của Thái Lan vào thời điểm 6 tháng trước khi vào mùa vụ sản xuất. Các nhà máy được yêu cầu phải ưu tiên thực hiện xong hạn ngạch A và B, rồi mới đến hạn ngạch xuất khẩu C.
Nhằm ổn định và phát triển ngành mía đường, Chính phủ Thái Lan thành lập Quỹ bình ổn giá đường. Quỹ này được thành lập để thực hiện chiến lược đảm bảo nguồn cung đường và bảo vệ người tiêu dùng, nông dân và doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ đường trước sự biến động của thị trường đường thế giới. Ngoài ra, Quỹ bình ổn mía đường được lập ra còn cung cấp một chương trình tín dụng cho phép nhà sản xuất vay một số tiền tương ứng với khoản họ nhận trước từ các nhà máy với mức lãi suất thị trường.
Ngoài ra, Chính phủ Thái Lan còn thành lập một Uỷ ban hoạch định chính sách mía đường để nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành đường. Ủy ban này bao gồm Bộ Nông nghiệp và HTX với trách nhiệm giám sát sản lượng mía với mục tiêu nâng cao năng suất cũng như chất lượng mía; Bộ Thương mại có trách nhiệm mở rộng thị trường nước ngoài và Bộ Công nghiệp quản lý việc nâng cao hiệu quả sản xuất và tìm cách hỗ trợ người trồng mía chuyển sang lao động trong các ngành khác như giấy, điện năng.
Kể từ khi ban hành Luật mía đường và đường, ngành mía đường phát triển ổn định không còn hiện tượng tranh mua nguyên liệu; thu nhập của người nông dân trồng mía được nâng lên. Katanavadee Kosumbongkoch (2004) nghiên cứu “Tác động kinh tế của chính sách đường Thái Lan kể từ khi ban hành Luật mía đường và đường năm 1984” đã kết luận xét trên khía cạnh thặng dư người sản xuất và thặng dư người tiêu dùng thì thặng dư của người sản xuất trong giai đoạn 1984-2003 đạt được 352.726 triệu baht gấp 2,8 lần so với tổn thất của người tiêu dùng 126.752 triệu baht. Điều này chứng minh rằng chính sách liên kết sản xuất – tiêu thụ mía đường được ban hành trong Luật mía đường và đường năm 1984 của Thái Lan đã đạt được mục tiêu.
Tóm lại, ngành mía đường là một trong ngành kinh tế quan trọng của Thái Lan. Để giải quyết vấn đề bất ổn định của ngành mía đường, Thái Lan đã ban hành chính sách liên kết sản xuất – tiêu thụ mía đường thông qua Luật mía đường và đường năm 1984. Kể từ khi Luật này được ban hành, ngành mía đường của Thái Lan đã góp phần phân bổ lợi ích công bằng hơn giữa người nông dân trồng mía và người chế biến đường. Điều này góp phần phát triển kinh tế - xã hội của Thái Lan.

Tài liệu tham khảo:
1. Luật mía đường và đường của Thái Lan năm 1984.
2. Katanadee Kosumbongkoch (2004), Tác động kinh tế của chính sách đường Thái Lan kể từ khi ban hành Luật mía đường và đường năm 1984, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại học Chulalongkorn, Bangkok, Thái Lan.
3. Văn phòng Hội đồng mía đường và đường, Giới thiệu Văn phòng Hội đồng mía đường và đường, http://en.ocsb.go.th/

Thứ Bảy, 1 tháng 10, 2011

Hội thảo: “Xây dựng chính sách thúc đẩy phát triển liên kết sản xuất tiêu thụ nông sản giữa nông dân và các thành phần kinh tế khác”

Ngày 17/9/2011, tại Văn phòng Cơ quan phía Nam, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn phối hợp với Dự án cạnh tranh nông nghiệp tổ chức hội thảo: “Xây dựng chính sách thúc đẩy phát triển liên kết sản xuất tiêu thụ nông sản giữa nông dân và các thành phần kinh tế khác”. Hội thảo được tổ chức dưới sự chủ trì của ông Tăng Minh Lộc, Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn. Đến dự hội thảo có đại diện các doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ nông sản, các hợp tác xã, các Viện, Trường, các Chi cục Phát triển nông thôn và các Hiệp hội ngành hàng.
Mục tiêu của hội thảo là thu thập ý kiến góp ý về dự thảo Quyết định của Thủ tướng về “Chính sách thúc đẩy liên kết sản xuất chế biến tiêu thụ nông sản giữa doanh nghiệp và người sản xuất”. Dự thảo này dự kiến sẽ thay thế Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg ngày 24/6/2002 của Thủ tướng Chính phủ về “Chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hóa thông qua hợp đồng”
Về tính cấp thiết phải ban hành Quyết định thay thế Quyết định 80, hầu hết các đại biểu đều nhất trí và đề nghị cần phải ban hành sớm. Trong báo cáo đề dẫn của Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn đã chỉ ra mặc dù Quyết định 80 trong thời gian đã có tác động hình thành nhiều vùng sản xuất nông sản nguyên liệu gắn với chế biến; nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp đã làm quen và từng bước hình thành các hợp đồng hợp tác liên kết sản xuất – chế biến – tiêu thụ nông sản. Tuy nhiên, Quyết định 80 cũng đã bộc lộ nhiều hạn chế. Tỷ lệ nông sản hàng hóa tiêu thụ qua liên kết sản xuất – chế biến tiêu thụ nông sản giữa nông dân với các thành phần kinh tế khác còn thấp, chưa phát triển sâu rộng ở các địa phương, ngành hàng và sản phẩm. Nhiều mô hình liên kết còn thiếu tính bền vững, tình trạng phá vỡ hợp đồng khá phổ biến. Một số nông dân cố tình bán ra bên ngoài để lẫn tránh việc thanh toán các khoản đầu tư ứng trước. Nhiều doanh nghiệp chưa tôn trọng lợi ích nông dân, không quan tâm vùng nguyên liệu, lợi dụng thế độc quyền ép giá, ép cấp,...Nói chung, Quyết định 80 chưa tạo được mối quan hệ giữa doanh nghiệp và nông dân trên cơ sở lợi ích. Trong báo cao đề dẫn và thảo luận của các đại biểu tham dự đều cho rằng nguyên nhân của tình trạng trên xuất phát từ nguyên nhân khách quan về tình trạng sản xuất nhỏ lẻ; trình độ kỹ năng nghề nghiệp của nông dân thấp; năng lực hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp còn thấp. Nhưng bên cạnh đó, nguyên nhân chủ quan từ cơ chế, chính sách và chỉ đạo của chính quyền địa phương hiện nay, cụ thể:
Thứ nhất, tư duy và nhận thức về vị trí, vai trò của các thể nhân, tác nhân trong liên kết kinh tế còn bất cập so với yêu cầu nền kinh tế thị trường hội nhập quốc tế
Thứ hai, một số cơ chế chính sách chưa hợp lý, thiếu đồng bộ hoặc chậm được điều chỉnh như:
- Thiếu cơ chế, chính sách đồng bộ, nhất quán theo hướng khuyến khích doanh nghiệp đầu tư lâu dài phát triển vùng nguyên liệu tập trung quy mô lớn.
- Thiếu cơ chế, chính sách hỗ trợ khuyến khích các hợp tác xã tham gia tổ chức dịch vụ chế biến, tiêu thụ nông sản cho xã viên.
- Các cơ quan, tổ chức khoa học hoạt động chủ yếu dựa vào nguồn kinh phí ngân sách nhà nước, ít quan tâm tìm nguồn kinh phí qua liên kết với doanh nghiệp, nông dân.
- Thiếu chế tài hoặc chưa đủ mạnh để điều chỉnh giữa các bên tham gia quan hệ liên kết; thiếu lực lượng tư vấn pháp lý cho các hợp đồng liên kết sản xuất tiêu thụ nông sản ký kết giữa nông dân và doanh nghiệp.
- Thiếu các hiệp hội ngành hàng mạnh có khả năng tập hợp, phối hợp các doanh nghiệp, không điều hành được các doanh nghiệp thành viên hướng vào lợi ích chung.
- Thiếu các thể chế thị trường: chợ bán buôn, sàn giao dịch, hợp đồng giao sau, thanh toán qua ngân hàng.
Thứ ba, công tác tổ chức thực hiện còn nhiều yếu kém: công tác chỉ đạo sản xuất hiệu quả chưa cao, đặc biệt là công tác quy hoạch vùng nguyên liệu, dồn điền đỗi thửa, tích tụ và tập trung ruộng đất. Chỉ đạo đổi mới hoạt động của các tổ hợp tác, hợp tác xã; việc kiểm tra giám sát thực thi pháp luật, chính sách còn hạn chế.
Xuất phát từ các nguyên nhân nhân trên, các đại biểu thảo luận và đã có thống nhất bước đầu một số nội dung sau:
Thứ nhất, chính sách thúc đẩy liên kết không thực hiện tràn làn, nên tập trung vào 2 nhóm ngành hàng:
- Ngành hàng đặc biệt ưu tiên là ngành hàng chiến lược, phục vụ xuất khẩu hoặc có sản lượng hàng hóa lớn cho tiêu dùng nội địa đồng thời có giá trị gia tăng cao.
- Nhóm ngành hàng ưu tiên là nhóm ngành hàng có giá trị gia tăng cao đồng thời phục vụ xuất khẩu, có giá trị sản lượng hàng hóa lớn, có ý nghĩa nâng cao thu nhập và tạo việc làm.
Thứ hai, về cơ chế, chính sách (ngoài các quy định trong Nghị định 61 về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư về nông thôn và Nghị định 41 về tín dụng nông thôn và các chính sách khác đã ban hành), các đại biểu tham dự hội thảo cũng đã thảo luận một số chính sách cụ thể như sau:
Về pháp lý, quy định rõ chế tài trong Luật dân sự theo hướng xây dựng mức xử phạt vi phạm hợp đồng nhưng tối đa không qua 50% giá trị hợp hổng, hoặc tối đa 100% giá trị vật tư, vốn ứng trước của doanh nghiệp cho nông dân; bổ sung Luật trợ giúp pháp lý để nông dân được hưởng tư vấn pháp lý miễn phí khi tham gia các hộp đồng kiến kết kinh tế; mỗi xã có cán bộ tư vấn pháp lý cho nông dân.
Về chính sách bảo hộ đầu tư của doanh nghiệp với vùng nguyên liệu, các đại biểu thảo luận và đề nghị bổ sung hướng dẫn luật đầu tư theo hướng: (i) Doanh nghiệp chế biến bắt buộc phải gắn với xây dựng vùng nguyên liệu, (ii) cơ chế chống độc quyền và (iii) cần quy định khoảng cách giữa các nhà máy cùng sử dụng chung nguyên liệu nông sản.
Về chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư phát triển vùng nguyên liệu, dự thảo cũng đề xuất chính sách hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng như (i) giao thông trục chính nội đồng, (ii) hệ thống tưới tiêu. Mức hỗ trợ tốt đa 20% tổng kinh phí công trình và chính sách hỗ trợ đào tạo nghề cho công nhân nông nghiệp.
Về chính sách thuế, giảm tối đa 20% thuế cho doanh nghiệp khi liên kết với nông dân và miễm 100% thuế thu nhập doanh nghiệp cho hợp tác xã làm cầu nối tiêu thụ giữa nông dân và doanh nghiệp.
Về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác xã, tổ hợp tác, củng cố hiệp hội ngành hàng gồm hỗ trợ 100% kinh phí đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý hợp tác xã, tổ hợp tác; hỗ trợ 10% chi phí quảng cáo, xây dựng thương hiệu, triển lãm hội chợ.
Về chính sách khuyến khích cá nhân, tổ chức khoa học tham gia phát triển liên kết sản xuất và phát triển vùng nguyên liệu bao gồm hỗ trợ 50% lãi suất vốn vay để thực hiện các hợp đồng nghiên cứu, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật đã ký với doanh nghiệp hợp tác xã, tổ hợp tác.
Một chính sách mới liên quan đến khuyến khích chính quyền địa phương hỗ trợ phát triển liên kết sản xuất và xây dựng vùng nguyên liệu như trích 10% thuế giá trị gia tăng (VAT) thu được đối với nông sản để bổ sung ngân sách xã và 5% VAT cho ngân ách huyện và 1% lãi trước thuế của các doanh nghiệp trong vùng nguyên liệu để xây dựng Quỹ dự phòng chống rủi ro trong liên kết.
Phần lớn các đại biểu tham dự hội thảo đều đánh giá cao các chính sách này. Các chính sách này tương đối cụ thể đủ sức thúc đẩy các thành phần tham gia liên kết. Tuy nhiên, điều mà các đại biểu băn khoăn nhất là các chính sách không được thực thi trong thực tế. Ví dụ, trường hợp Nghị định 61 và Nghị định 41, đã có quy định về vay thế chấp để phát triển nông nghiệp nhưng hầu như các doanh nghiệp, nông dân và hợp tác xã đều không thể tiếp cận được ngân hàng để vay vốn. Do vậy, trong phần tổ chức thực hiện, các đại biểu đề nghị phải quy định cụ thể để các Bộ, Ban ngành xây dựng hướng dẫn chi tiết và có cơ chế giám sát việc thực hiện Quyết định.
Tóm lại, chính sách thúc đẩy liên kết sản xuất – tiêu thụ nông sản là chủ trương đúng đắn. Tuy nhiên, làm thế nào xây dựng được cơ chế thực thi là đều hết sức khó khăn. Đây là vấn đề khó khăn nhất trọng thực tiễn phát triển nông nghiệp Việt Nam hiện nay.

Thứ Tư, 31 tháng 8, 2011

Chiêu sinh lớp "Anh văn giao tiếp hội nhập quốc tế"


Chương trình Anh ngữ giao tiếp hội nhập quốc tế được Trung tâm Ngoại ngữ, Tin học – DMA thiết kế dựa trên chương trình Anh ngữ giao tiếp quốc tế (English for International Communication) nhằm tạo điều kiện cho người có thêm cơ hội để trao dồi kỹ năng tiếng Anh và có thể sử dụng ngôn ngữ một cách thành thạo, tự tin trong môi trường giao tiếp quốc tế hội nhập.

1.      Mục đích bồi dưỡng:
Giúp người học có cơ hội ôn luyện, trao dồi và cải thiện thêm không những cho các  kỹ năng như Nghe- Nói- Đọc- Viết tổng quát mà còn có thể sử dụng ngôn ngữ nhằm phục vụ cho chuyên ngành như nông nghiệp, công nghiệp, kinh tế, ngân hàng, kế toán, hoặc kinh doanh để có thể theo kịp với sự phát triển hội  nhập kinh tế  toàn cầu.
2.      Mục tiêu bồi dưỡng:
Sau khi tham gia khóa học, học viên  sẽ có đủ điều kiện để tham gia kỳ thi chứng chỉ quốc gia trình độ B trở lên hoặc kỳ thi TOEIC với thang điểm 500-700.
Trung tâm có tổ chức thi và cấp chứng chỉ tiếng Anh trình độ A, B và C.
3.      Đối tượng:
Tất cả học viên có nhu cầu và đã biết tiếng Anh cơ bản.
4.      Giáo trình:
+   Ken Wilson, Smart Choice Student’s book 1, 2, 3, Oxford University Press 2007.
+   David Cotton, David Falvey, Simon Kent, New Edition 2007, Market Leader, Pre-intermediate Business Englsih Course Book, Pearson Education Limited.
+   C. St. Yates, English for Academic Purposes Series, Economics, Phoenix ELT.
+   Compiled by Associate Professor Phan Thi Cuc, Ph.D. Ho Nguyet Thanh, M.A. Edited by Scott Brantley, M.S.O.M., English For Banking And Finance, Course Book, Ho Chi Minh City University of Industry Faculty of Banking And Finance.


5.      Nội dung:
STT
Các chuyên đề


1
Chào hỏi, giới thiệu về bản thân

2
Giới thiệu công việc, mô tả chi tiết công việc của bản thân

3
Nói về sở thích trong ăn uống

4
Miêu tả ngoại hình, tính cách, đặc điểm

5
Nói về những nơi chốn, về danh lam thắng cảnh của thành phố và đất nước

6
Miêu tả hoạt động của kỳ nghỉ

7
Trao đổi ý kiến về phim ảnh và âm nhạc

8
Nói về các hoạt động thể thao

9
Đi mua sắm

10
Chuyên ngành kinh doanh

11
Chuyên ngành tài chánh-ngân hàng

12
Chuyên ngành kinh tế

13
Chuyên ngành công nghiệp

14
Chuyên ngành nông nghiệp

15
Thi hết học phần


6.      Thời gian, địa điểm và phương tiện học tập:
Thời gian học tập:
+   Tổng thời gian: 200 tiết
+   Kế hoạch học: tuần học 3 buổi thứ ba, năm và bảy từ 14:00 đến 17:00
+   Dự kiến khai giảng: ngày 19/09/2011 và kéo dài khoảng 4 tháng.
Địa điểm: Trường Cán bộ Quản lý Nông nghiệp và PTNT II,
Số 45 Đinh Tiên Hoàng (đối diện Đài Truyền hình TP.HCM),
phường Bến Nghé, quận 1, TP. HCM.
7.      Kinh phí học tập: Chi phí học tập, tài liệu: 6.800.000đ/học viên.
Rất mong được đón tiếp các quý vị tham gia khóa bồi dưỡng.
Trân trọng kính chào.

Digital Marketing – Chìa khóa mở cửa kỷ nguyên tiếp thị hiện đại

  Trong thời đại số hóa, khi mọi tương tác, giao tiếp và quyết định mua hàng dần chuyển dịch lên môi trường trực tuyến, Digital Marketing ( ...