Đặt tên công ty – Công việc không hề đơn giản
|
Cập nhật 9-12-2014 10:52
|
Đặt tên cho một công ty hay một sản phẩm là một điều hết sức khó khăn cho các nhà kinh doanh. Rất nhiều sản phẩm và công ty có tên gọi thu hút được cảm tình trong khi có những cái tên lại làm cho người khác hoang mang. Có những cái tên tưởng rằng thành công nhưng lại thất bại và những cái tên nghe có vẻ như rất hoàn hảo thì lại vô cùng lạc lõng.
Vậy các doanh nghiệp tự tìm kiếm một cái tên hoàn hảo cho công ty, sản phẩm hay thương hiệu của mình như thế nào?
Các nhà marketing khuyên rằng chúng ta hãy thử tìm kiếm một cái tên hoàn hảo cùng với hai nguyên tắc: Tên gọi phù hợp với ngành kinh doanh hay sản phẩm và cố ý làm cho người khác suy nghĩ tò mò để tìm hiểu.
Tên gọi phù hợp với ngành kinh doanh và sản phẩm:
Đây là cách đặt tên thông thường nhất mà bạn có thể sử dụng, những tên thương hiệu như vậy giúp cho khách hàng dễ dàng biết đến sản phẩm, dịch vụ của bạn. Hãy thử xem xét một ví dụ nói về cách đặt tên của doanh nghiệp chuyên cung cấp thiết bị điều khiển trò chơi điện tử: có hai tên gọi hoàn toàn phù hợp với sản phẩm của chúng là PlayStation và Xbox trong khi một tên gọi khác là Nintendo lại hoàn toàn chẳng có liên quan gì cả. Còn về các khách sạn thì sao? Rất nhiều trong số đó đều có chữ “
Tuy vậy Mary Bowling, thành viên của đội ngũ quảng cáo của Blizzard, khuyên bạn không nên dùng các tên “quá thông minh”, đặc biệt là dùng trong kinh doanh.
Đừng đặt tên quá khôn khéo, tên bạn chọn nên thể hiện những điều bạn cần thể hiện đối với khách hàng của mình. Nếu bạn đặt đúng tên, sẽ giúp cho khách hàng hiện tại cũng như khách hàng tiềm năng của bạn biết đến vị trí của bạn. Ví dụ: “cao bồi và máy móc” - rất khôn khéo, nhưng bạn có biết họ kinh doanh gì qua cái tên này không ? “Sửa xe hơi di động
Những cái tên rõ ràng sẽ làm cho công việc tiếp thị của bạn dễ dàng hơn nhiều. Nên trước khi nghĩ ra một cái tên như vậy, bản thân doanh nghiệp nên xác định cho mình được khách hàng của mình là ai (khách hàng đang sử dụng cũng như khách hàng tiềm năng), họ cần gì và khả năng đáp ứng của mình như thế nào, đây là một bước cực kỳ quan trọng quyết định đến sự thành công của cái tên đó.
Cố ý cho người khác tò mò và tìm hiểu về cái tên của bạn
Dưới đây là những kinh nghiệm của các chuyên gia về marketing, họ muốn chia sẻ cùng với bạn trong việc làm thế nào để đặt một tên thương hiệu mà bao hàm được đầy đủ ý nghĩa và đặc biệt là tạo ra cảm giác tò mò cho người đọc.
Patti Norris khuyên mọi người: đây là một quá trình quan trọng quyết định đến sự thành công cho cái tên mà bạn chọn, vì vậy đừng nên làm một mình.
Trừ khi bạn có một chi phí quảng cáo khổng lồ chỉ để đầu tư cho cái tên thông minh (Yahoo, Google và Ipod). Còn không có lẽ cách dễ nhất là bạn chọn những điểm then chốt của sản phẩm hay công ty, rồi cùng ngồi bàn luận với những người biết rõ về sản phẩm và công ty bạn (đặc biệt từ những minh chứng rõ ràng nhất của khách hàng hay người tiêu dùng), ghi nhận lại tất cả các đóng góp, ý tưởng đó.
Nia Carter, chủ tịch của công ty truyền thông tiếp thị thế giới cho tiến hành phỏng vấn nhiều người từ đội ngũ giáo sư thương mại, các chuyên gia phát triển kinh doanh, nhân viên tiếp thị cho đến những người bạn chưa hề biết đến với kinh doanh với tiếp thị.
Chúng tôi tập hợp từng nhóm người vào từng phòng riêng (giáo sư thương mại vào một phòng, các nhân viên tiếp thị vào một phòng, những chuyên gia được vào một phòng…). Sau khi giải thích những điều tôi muốn sản phẩm mình mang lại cho khách hàng, mỗi người tại các nhóm đó sẽ đặt một cái tên, tiếp theo chúng tôi tổng hợp danh sách các tên đó và tiến hành bầu chọn. Với mỗi một cái tên chúng tôi tiến hành kiểm tra ý nghĩa tích cực và tiêu cực (về giá trị quan hệ cộng đồng quảng cáo tốt, làm vì các sự kiện ..v..v.) của nó. Cuối cùng, dựa trên nghiên cứu đó kết hợp với việc chúng tôi cũng tiến hành đặt tên è cho ra một cái tên cuối cùng.
Những người tiếp thị chuyên nghiệp trước tiên phải tìm hiểu liệu cái tên sẽ gây ra tiếng vang như thế nào đối với khách hàng của mình. Thứ nhì là cần xác định cái tên có phù hợp với thông điệp của sản phẩm, định hướng của tổ chức (ví dụ nhân viên yêu thích sản phẩm đó, họ sẽ bán với giá hữu nghị) hay không. Thứ ba là cái tên phải có tính độc quyền nhưng dễ hiểu và dễ phát âm, có giá trị văn hóa với các ngôn ngữ khác.
Cuối cùng, tên phải được bảo vệ pháp lý. Tên tốt nhất là nên có xu hướng trở thành động từ, khách hàng thích như thế. Ví dụ: “googling”, “fedexing” – cái tên trở thành một phần trong công việc chúng ta làm hằng ngày. Họ sẽ đồng tình với sự liên tưởng cảm xúc. Đặt tên là chiến lược chủ quan cao và quá trình đạt được một cái tên hay là chuyện nói dễ hơn làm.
Dù bạn có dùng những phương pháp chuyên nghiệp gì đi nữa để đặt tên cho mình, thì cũng phải nhờ rằng: mỗi một cái tên như vậy cũng có nội dung và ý nghĩa của nó. Bạn phải đảm bảo rằng thông điệp của sản phẩm hay là định hướng của công ty bạn sẽ thể hiện được ý nghĩa của cái tên đó.
Maryl K. Evans và Hank Stroll (Cao Cẩm My – Công ty thương hiệu LANTABRAND – sưu tầm và lược dịch từ MarketingProfs.com)
|
Tiến sĩ Kinh tế ngành QTKD, Giảng viên cơ hữu Đại học Tài chính - Marketing và Giảng viên thỉnh giảng các trường Đại học phía Nam
Thứ Bảy, 17 tháng 1, 2015
Thứ Ba, 2 tháng 9, 2014
Các hãng đặt tên xe hơi như thế nào?
Luôn có những bí ẩn đằng sau mỗi mẫu xe thông dụng trên thị trường, ví như Toyota Corolla thì Corolla mang ý nghĩa vẻ đẹp của cánh hoa.
Mỗi xe khi ra đời đều gắn bới một cái tên mang ý nghĩa nào đó, có thể là địa điểm, là tên người, là âm nhạc... Jalopnik tìm hiểu trên 250 mẫu xe và đưa ra thống kê về cách đặt tên xe của các hãng.
http://vnexpress.net/tin-tuc/oto-xe-may/cac-hang-dat-ten-xe-hoi-nhu-the-nao-3038756.html
Thứ Tư, 5 tháng 2, 2014
Xây dựng thương hiệu – Hãy coi thương hiệu như một con người
|
http://www.lantabrand.com/cat2news2429.html
Cập nhật 15-3-2013 10:10
|
Một nữ quản lý bộ phận dịch vụ khách hàng phấn khởi bước vào văn phòng của Andy Oz - trưởng phòng mới của phòng sáng tạo. Đôi tay của cô đưa lên hào hứng như đang diễn thuyết trên truyền hình: “Chúng tôi đang dựng chương trình “MegaGlobal” trên toàn cầu trong 2 tuần tới! Chúng tôi cần một ý tưởng thương hiệu lớn!”
Andy nhìn lên, tháo mắt kính ra và nói “tốt” nhưng anh ta tự hỏi “ %# là gì nhỉ? Có phải cô ta muốn nói về ý tưởng thương hiệu lớn không nhỉ?
Bạn đã từng xem qua kịch bản này chưa? Thôi nào, giờ hãy đọc trên màn hình của bạn.
Vâng, thưa các bạn. Đây là một cuộc thi đố nhanh, hãy trở thành người dẫn đầu, hãy định nghĩa “thương hiệu” là gì và ghi ra giấy. Nếu bạn thực sự thông minh thì hãy định nghĩa “ý tưởng thương hiệu lớn”. Tôi sẽ đợi.
Xong hết rồi chứ ?
Hãy trở lại với Helen và Andy hai ngày sau đó. Họ đang có một cuộc họp nghiêm túc cùng với các giám đốc mỹ thuật, biên tập viên quảng cáo và các nhà kế hoạch tổng hợp. Helen đằng hắng giọng, mỉm cười với Andy và nói: “Chuyên viên sáng tạo mới của chúng ta yêu cầu tôi giải thích ý của mình khi nói về “ý tưởng thương hiệu lớn.”
Cô nhìn quanh phòng. Tất cả mọi người đều nhìn chăm chú vào cô. Helen tiếp tục: ”Với tôi, thương hiệu giống như một con người.” Cô đưa tay về phía một giám đốc mỹ thuật tên Cinco Lima - một thanh niên trông giống như Sean Penn và nói tiếp: ”Hãy tưởng tượng Cinco như là một sản phẩm, một chiếc bình pha cà phê đang đặt trên kệ hàng của Park & Shop. Anh ta có sự liên hệ khác hẳn với những khách hàng đang đi giữa các kệ hàng, đúng không? Nó cũng giống quan hệ của anh ta với những người đang làm việc tại đây.”
Helen quan sát nét mặt mọi người. Cinco gật đầu, Julie và Sabilla đều tán thành và cô tiếp tục:
“Sự liên hệ của Cinco có thể nằm ở 1 trong 3 giai đoạn:
· Giai đoạn thứ nhất là anh muốn mọi người chú ý và thừa nhận anh. Điều đó giống như là anh đang nói “Này, tôi đang ở đây, hãy nhìn tôi đi “
· Giai đoạn 2 là anh muốn được làm quen, anh muốn mọi người biết tới anh.
· Giai đoạn thứ 3 là anh muốn mọi người yêu thích anh. Nó là một mối quan hệ đặc biệt giống như là hãy ở bên nhau mãi mãi.”
“Vì thế….” Helen vừa nói vừa đưa mắt nhìn mọi người.
Julie - một biên tập viên quảng cáo với mái tóc đỏ và nước da trắng như bột lên tiếng: ”Thế theo cô thì ý tưởng thương hiệu lớn nên thuộc giai đoạn nào của mối quan hệ?”
”Chính xác. Hiện tại mối quan hệ đó đang ở giai đoạn nào và bạn muốn đặt nó vào giai đoạn nào?” Helen đáp lại.
Cinco nói: “Nó nhắc tôi nhớ tới những anh chàng nhẹ dạ. Anh chàng bảnh bao MSN với đôi cánh bướm. Anh ta giống như một người bạn đồng hành, giúp bạn lên kế hoạch cho những kỳ nghỉ, cung cấp thông tin về thể thao và thời tiết hàng ngày”
“Và nói cho bạn biết tên những cô nàng cần phải tránh xa, bạn có nhớ chiến dịch quảng cáo đó không?” Julie hỏi.
Cinco thêm vào: ”nếu tôi là Yahoo, tôi sẽ đâm thủng con bướm MSN bằng dao nhọn, ghim hắn xuống đất và hỏi ”có cần một bác sĩ không ngài bướm? hay là một người nhồi thú bông?” sau đó Cinco rống lên như một con sói bắc mỹ “yahoo!”
Mọi người phá lên cười, một phút sau Andy giơ ngón tay trỏ lên và nói: ”điều sau cùng là khi bạn đưa ra những khái niệm, hãy chắc chắn rằng mỗi ý tưởng đều phải bao gồm 3 yếu tố sau:
- Thứ nhất. Đưa ra những biểu tượng hữu hình hoặc những thần tượng được coi như thương hiệu. Áp dụng với tất cả mọi thứ từ mầu sắc cho tới logo”
- Thứ hai là phải biểu lộ được tính cách thương hiệu. Nó là thương hiệu hợp thời hay là cái gì?”
- Thứ ba là hãy giải thích về mối quan hệ giữa thương hiệu với các khách hàng mục tiêu. Thương hiệu là một nhà tư vấn, một người bạn hay là một vị cố vấn?”
Cinco thắc mắc: ”Còn đặc tính của thương hiệu hay sự nổi tiếng thì sao?”
Andy đáp: ”chắc chắn rồi, hãy đặt chúng vào bất cứ giai đoạn nào thích hợp. Đối với một bác sĩ thì bạn nên đặt vào tình huống thứ 3, đối với một gương mặt nổi tiếng như Jennifer Lopez thì đặt vào tình huống thứ 1. Hãy xem xét và cân nhắc lại những khái niệm trên vào thứ hai!’
Cám ơn Andy! và các bạn đọc giả thân mến! Hãy cùng tôi nghe một đoạn nhạc rock. Trong đoạn nhạc này có đoạn:
“Thương hiệu cũng giống như một con người
- Như một con người, thương hiệu cũng có những mối quan hệ và những mối quan hệ này luôn tiến triển, có thể tốt hơn hoặc xấu đi theo thời gian nhưng nó vẫn cần được khuyến khích.
- Như một con người, thương hiệu cũng có những đặc trưng hữu hình, những âm thanh, những cá tính và luôn hướng tới sự cảm thông, chia sẻ”.
Steve McNamara (Cao Cẩm My – Công ty thương hiệu LANTABRAND – sưu tầm và lược dịch từ MarketingProfs.com)
|
Lời hứa thương hiệu - Có thật sự quan trọng?
|
http://www.lantabrand.com/cat2news6446.html
Cập nhật 9-1-2014 15:51
|
1.Giúp khách hàng đạt được những mục tiêu của họ
Hãy tìm hiểu những gì họ muốn và tự tạo ra những kinh nghiệm phù hợp với công ty của bạn trong quá trình mua hàng của khách hàng.USAA đã thực hiện điều này rất tốt. “chúng tôi muốn tạo ra những kinh nghiệm xung quanh những gì thành viên đang cố gắng để thực hiện, không chỉ là về sản phẩm” Wayne Peacock, phó chủ tịch thành viên của USAA đã nói.
2.Thường xuyên làm mới lời hứa thương hiệu của bạn
Giám đốc điều hành Starbucks Howard Shultz đã từng nói “ khách hàng phải thừa nhận rằng bạn đang đại diện cho 1 cái gì đó”.Trong khi hầu hết các tổ chức bắt đầu với 1 lời hứa thương hiệu rõ ràng, tập trung vào mục tiêu ngắn hạn.
Một khi tổ chức mất tầm nhìn của lời hứa thương hiệu nó sẽ vượt xa ngoài tầm kiểm soát.Và điều này đã diễn ra với Starbucks vào năm 2007.Shultz đã quay trở lại công ty vào đầu năm 2008 để giúp công ty khôi phục lời hứa thương hiệu.Đánh giá của ông về tình hình như sau: “ chúng ta đã mất phương hướng”.
Thay vì chờ đợi, bạn nên làm một động tác trước khi điều này xảy ra.Hãy kiểm tra thương hiệu của bạn 2 năm/lần , thậm chí nếu không có gì thay đổi thì quá trình tái khẳng định thương hiệu của bạn có thể mạnh mẽ hơn, được nhận biết với độ tin cậy cao bởi khách hàng lẫn nhân viên của bạn
3.Bắt đầu tiếp thị thương hiệu của bạn trong nội bộ
Thương hiệu cần phải được hiểu và sở hữa của toàn bộ tổ chức.Do đó nó rất quan trọng cho các công ty đầu tư mạnh vào việc xây dựng thương hiệu.Việc mọi người trong cùng công ty, tổ chức hiểu biết về thương hiệu của công ty bạn sẽ góp phần làm cho thương hiệu của bạn ngày một lớn mạnh
4.Mang khách hàng đến với thiết kế hình ảnh riêng
Thiết kế hình ảnh riêng chia sẻ những đặc điểm
- Đại diện cho một phân khúc khách hàng quan trọng, đại diện cho những đặc trưng của một phân đoạn và dựa trên một nghiên cứu vững chắc
- Tạo ra một mô tả sinh động, thiết kế tạo được hình ảnh sắc nét của người đó để đảm bảo rằng họ biết đến người đó
- Cung cấp những thông tin, thiết kế phải bao gồm các thông tin quan trọng về nhu cầu của người đó và yêu cầu để tương tác với công ty của bạn.
- Được sử dụng rộng rãi khi đưa vào sử dụng.
5.Liên tục kiểm tra đề xuất giá trị thương hiệu của bạn
Samuel Palmisano - giám đốc điều hành của IBM đã lãnh đạo công ty sử dụng khuôn khổ dựa trên 4 câu hỏi mà ông tập trung suy nghĩ:
- Tại sao một ai đó sẽ tiêu tiền của họ vì bạn?
- Tại sao ai đó sẽ làm việc cho bạn?
- Tại sao xã hội cho phép bạn hoạt động trong địa lý được xác định - trong đất nước của họ?
- Và tại sao ai đó sẽ đầu tư tiền của họ với bạn?
6.Đổi mới xung quanh sự kiện vòng đời khách hàng
Dựa vào việc nghiên cứu khách hàng, Intersil - một nhà sản xuất chất bán dẫn thường xuyên kiểm soát khách hàng để đo sự thành công của lời hứa thương hiệu: “Đơn giản chỉ cần thông minh hơn”.Họ đã thấy rằng lời hứa thương hiệu không được giữ vững.Do đó,tổ chức sẽ sử dụng một quá trình chính thức để xem xét kết quả và hành động.Trong một cuộc khảo sát, Intersil thấy rằng khách hàng có một thời gian khó tìm kiếm thông tin trên trang web của công ty.Công ty xác định rằng điều này đã phá vỡ lời hứa thương hiệu của mình.Và vì vậy, công ty đã đầu tư trong việc cập nhật các tiện ích và kinh nghiệm trực tuyến của mình.
Bruce Temkin (Phương Mai - Công ty thương hiệu LANTABRAND – sưu tầm và lược dịch từ dmnews )
|
Thứ Bảy, 20 tháng 4, 2013
Giá trị cảm nhận của khách hàng trong ngành Ngân hàng
TS.
Bảo Trung
1.
Khái niệm giá trị cảm nhận của khách hàng
Từ những năm cuối thế kỷ
20 khái niệm “giá trị cảm nhận” đã được các nhà nghiên cứu trên thế giới quan
tâm đến, nó nổi lên như một yếu tố đóng vai trò quan trọng đối với sự sống còn
của tổ chức, doanh nghiệp. Các nhà nghiên cứu đã sử dụng nhiều thuật ngữ khác
nhau để định nghĩa “giá trị cảm nhận” của khách hàng. Chẳng hạn như: giá trị cảm
nhận (perceived value), giá trị của khách hàng (customer value), giá trị cho
khách hàng (value for the customer), giá trị cảm nhận của khách hàng (customer
perceived value), giá trị khách hàng cảm nhận (perceived customer value), giá
trị của người tiêu dùng (consumer value), giá trị tiêu dùng (consumption value),…
Thuật ngữ thường dùng
trong khá nhiều nghiên cứu là giá trị cảm nhận (perceived value) hay giá trị cảm
nhận của khách hàng (customer perceived value). Tuy nhiên mỗi nghiên cứu lại định
nghĩa giá trị cảm nhận một cách khác nhau. Để làm rõ các quan điểm khác nhau và
những điểm chung của các định nghĩa về giá trị cảm nhận trong các nghiên cứu
trước đây, chúng ta xem xét hai đặc điểm quan trọng trong giá trị cảm nhận của
khách hàng. Đầu tiên, giá trị cảm nhận gắn liền với việc sử dụng các sản phẩm,
sự khác biệt từ các giá trị cá nhân hoặc tổ chức. Thứ hai, giá trị cảm nhận được
nhận thức bởi khách hàng và nó có thể được xác định bởi người bán một cách
không khách quan (Zeithaml, 1988; Monroe, 1990; Lovelook, 1991). Chỉ có khách
hàng mới có thể nhận thức giá trị được cung cấp của sản phẩm hoặc dịch vụ
(Gale, 1994; Bigne’et al., 2000; Teas & Agarwal, 2000).
Khái niệm giá trị cảm
nhận phổ biến nhất là của Zeithaml (1988): “Giá trị cảm nhận là sự đánh giá tổng
thể của người tiêu dùng về tiện ích của một sản phẩm hay dịch vụ dựa vào nhận
thức của họ về những gì nhận được và những gì phải bỏ ra”. Zeithaml đánh giá
như một sự so sánh giữa hai thành phần “nhận được” và “bỏ ra” của sản phẩm, dịch
vụ. Zeithaml (1988) lập luận rằng một số người tiêu dùng cảm nhận được giá trị
khi có một mức giá thấp, những người khác cảm nhận được giá trị khi có một sự
cân bằng giữa chất lượng và giá cả. Như vậy những người tiêu dùng khác nhau,
các thành phần của giá trị cảm nhận có thể là khác biệt.
Giá trị cảm nhận của
khách hàng là giá trị được cảm nhận tính theo đơn vị tiền tệ của lợi ích về mặt
kỹ thuật, kinh tế, dịch vụ và xã hội mà khách hàng có thể nhận được so với giá
mà họ trả cho một sản phẩm, đặt trong việc xem xét giá cả và chào hàng của các
nhà cung cấp sẵn có (Anderson, Jain and Chintagunta 1993: 5).
Nhận thức của người mua
về giá trị là miêu tả sự cân đối giữa chất lượng sản phẩm hoặc lợi ích mà họ cảm
nhận được từ sản phẩm và chi phí mà họ phải trả cho sản phẩm đó (Monroe 1990:
46).
Giá trị cảm nhận của
khách hàng là mối quan hệ cảm xúc được thiết lập giữa khách hàng và nhà cung cấp
sau khi khách hàng đã sử dụng một sản phẩm hay dịch vụ của nhà cung cấp và thấy
rằng sản phẩm hay dịch vụ đó tạo ra giá trị gia tăng (Butz and Goodstein 1990:
63).
Theo Woodruff (1997:
142), “giá trị cảm nhận của khách hàng là sự yêu thích, cảm nhận và đánh giá của
khách hàng về các đặc tính của sản phẩm, sự thể hiện của đặc tính và những kết
quả đạt được (hoặc hậu quả phát sinh) từ việc sử dụng đó tạo điều kiện thuận lợi
đạt được mục tiêu và mục đích của khách hàng trong các trường hợp sử dụng”.
Khái niệm này kết hợp chặt chẽ giá trị mong muốn và giá trị nhận được và nhấn mạnh
rằng giá trị xuất phát từ nhận thức, sự ưu thích và đánh giá của khách hàng. Nó
cũng liên kết sản phẩm với các trường hợp sử dụng và hiệu quả đạt được qua quá
trình sử dụng bởi các khách hàng.
Có rất nhiều khái niệm
giá trị cảm nhận của khách hàng khác nhau. Giá trị cảm nhận luôn thay đổi, nó
khác nhau giữa các khách hàng, văn hóa và thời gian (Sanchez et al 2006: 394).
Tuy vậy, các khái niệm đều có điểm chung khi nói về giá trị cảm nhận của khách
hàng là sự so sánh giữa những gì khách hàng nhận được (lợi ích) và những gì họ
bỏ ra (sự hy sinh) để có được sản phẩm hay dịch vụ. Sự hy sinh ở đây không chỉ
là giá cả mang tính tiền tệ mà còn bao gồm cả những chi phí cơ hội không mang
tính tiền tệ được gọi là giá cả hành vi: đó là thời gian, nỗ lực bỏ ra để có được
dịch vụ.
2. Các mô hình đo lường giá trị cảm
nhận của khách hàng và mô hình Roig, et al trong ngành
ngân hàng
Để đo lường giá trị cảm
nhận, hai cách tiếp cận chính có thể được tìm thấy. Phương pháp tiếp cận đầu
tiên xác định giá trị cảm nhận như là cách xây dựng bao gồm hai phần, một là lợi
ích nhận được và một là sự hy sinh (Dodds et al, 1991;. Cronin et al, 2000).
Zeithaml (1998) quy định các lợi ích của khách hàng như cảm nhận về chất lượng
dịch vụ và một loạt các lợi ích tâm lý. Đối với các thành phần hy sinh, có thể
là một hình thức của giá trị tiền tệ và phi tiền tệ như thời gian, các rủi ro gặp
phải và sự tiện lợi (Dodds et al, 1991).
Cách tiếp cận thứ hai
quan điểm giá trị cảm nhận của khách hàng như là một cấu trúc đa chiều (Mattson
năm 1991, Sheth et al. năm 1991, Woodruff, năm 1997; De Ruyter et al, 1997 và
1998;. Sweeney Soutar năm 2001; Roig et al, 2006,…).
Mattson (1991) đã đưa
ra nghiên cứu lý thuyết về sự đa chiều của giá trị cảm nhận và nắm bắt các khía
cạnh nhận thức và tình cảm của giá trị cảm nhận đó là chức năng (functional),
tình cảm (emotional) và hợp lý (logical).
Sheth et al. (1991) với
nghiên cứu định lượng trong ngành thuốc lá, xác định giá trị nhận thức như là một
cấu trúc đa chiều bao gồm năm giá trị cốt lõi, đó là chức năng (functional),
tình cảm (emotional), xã hội (social), tri thức (epistemic) và điều kiện
(conditional). Giá trị chức năng như là một tiện ích nhận thức của các thuộc
tính của sản phẩm hoặc dịch vụ. Giá trị cảm xúc bao gồm các cảm xúc hay những
trạng thái tình cảm tạo ra bởi kinh nghiệm tiêu thụ. Giá trị xã hội là sự chấp
nhận hoặc tiện ích ở cấp độ của các mối quan hệ của cá nhân với môi trường xã hội
của mình. Giá trị tri thức là khả năng của sản phẩm hoặc dịch vụ mang đến sự bất
ngờ, khơi dậy sự tò mò hoặc đáp ứng mong muốn về kiến thức. Cuối cùng, giá trị
điều kiện đề cập đến trường hợp hoặc yếu tố tình huống như bệnh tật hoặc tình
huống xã hội cụ thể (Sheth et al., 1991a).
Tương tự, De Ruyter et
al. (1997) trong một nghiên cứu định lượng về sự hài lòng trong quá trình cung
cấp dịch vụ và vai trò của giá trị khách hàng ở lĩnh vực bảo tàng đã đề xuất một
phương pháp tiếp cận toàn diện giá trị, trong đó kết hợp một phản ứng nhận thức
(giá trị đồng tiền) và các thành phần tình cảm. Theo các tác giả này, giá trị
khách hàng được đo lường bằng ba yếu tố: giá trị cảm xúc (emotional), giá trị
thực tế (practical) và tính hợp lý (logical). Yếu tố giá trị cảm xúc cho thấy
đánh giá tình cảm của việc sử dụng dịch vụ của khách hàng, yếu tố giá trị thực
tế phản ánh các khía cạnh thực tế của các dịch vụ, và cuối cùng là yếu tố hợp
lý tạo ra chất lượng dịch vụ và giá cả, giá trị nói trên so với tiền bỏ ra. Mỗi
giai đoạn của quá trình thực hiện dịch vụ có thể được đánh giá về các yếu tố
trên.
Trong một nghiên cứu
sau đó, Sweeney và Soutar (2001) đã không xem xét các tri thức và yếu tố điều
kiện được đề xuất bởi Sheth et al. (1991a, 1991b) là quan trọng. Năm yếu tố ban
đầu do đó giảm xuống còn ba: chức năng giá trị (functional value), giá trị xã hội
(social value) và giá trị cảm xúc (emotional value). Các tác giả thiết kế một
thang đo đo lường giá trị đã biết như PERVAL. Giá trị chức năng bao gồm các yếu
tố như giá cả (giá trị của tiền), chất lượng (cảm nhận chất lượng và năng suất
dự kiến của sản phẩm hoặc dịch vụ), và tính linh hoạt (khả năng thích ứng và thực
tiễn của sản phẩm). Giá trị xã hội và giá trị cảm xúc được đại diện bởi các thiết
lập của tài sản vô hình có ảnh hưởng đến mối quan hệ.
Sanchez et al. (2006)
đã phát triển một thang đo giá trị cảm nhận với 24 yếu tố, được gọi là GLOVAL.
Thang đo GLOVAL cũng bao gồm ba yếu tố lớn như thang đo PERVAL và thêm vào yếu
tố giá trị chức năng được phân tích cụ thể hơn. Trong thang đo GLOVAL xác định
sáu yếu tố của giá trị cảm nhận. Bốn trong số đó tương ứng với yếu tố giá trị
chức năng: cơ sở vật chất (functional value of the establishment), tính chuyên
nghiệp của nhân viên (functional value of the contact personnel –
professionalism), chất lượng của dịch vụ mua (functional value of the service
purchased - quality) và giá cả (functional value price). Hai yếu tố còn lại đề
cập đến khía cạnh tình cảm của giá trị cảm nhận: giá trị tình cảm và giá trị xã
hội.
Roig et al. (2006) đã
phân tích các giá trị nhận thức của người tiêu dùng trong lĩnh vực ngân hàng và
thấy rằng giá trị cảm nhận của khách hàng là kết quả từ sự kết hợp giữa giá trị
chức năng, giá trị tình cảm và giá trị xã hội tương tự như nghiên cứu của
Sanchez et al. (2006) trong ngành công nghiệp du lịch. Giá trị chức năng có thể
được xác định thông qua đánh giá về tính hợp lý và tiết kiệm của một khách hàng
dựa trên giá cả và chất lượng của một sản phẩm hay dịch vụ. Giá trị tình cảm và
giá trị xã hội là vô hình và có thể được xem là giá trị được đánh giá bởi cảm
giác của khách hàng đối với việc mua một sản phẩm hoặc dịch vụ từ một doanh
nghiệp, tổ chức. Giá trị tình cảm có thể được xem như là một giá trị định hướng
bởi các yếu tố bên trong, còn giá trị xã hội là một giá trị định hướng bởi các
yếu tố bên ngoài.
Nhìn chung các tác giả
định nghĩa khái niệm giá trị như một sự đa chiều đều đồng ý rằng hai chiều có
thể được phân biệt: một là giá trị chức năng (lợi ích của sản phẩm/ dịch vụ
mang lại khi sử dụng) và một là giá trị về cảm xúc hay tình cảm. Các yếu tố được
xác định trong giá trị chức năng bao gồm: giá trị đồng tiền (value for money)
(Sweeney et al, 1999.), chất lượng sản phẩm (product quality) (Sweeney et al,
1999; Sweeney và Soutar năm 2001;. Petrick, 2002), tính linh hoạt (versatility)
(Sweeney et al, 1999), chất lượng dịch vụ (quality of service) (Sanchez và cộng
sự, 2006), chi phí không bằng tiền (non-monetary sacrifices) (Sweeney et al,
1999;. Petrick năm 2002) và giá (price) (Sweeney et al, 1999; Sweeney và Soutar
năm 2001; Petrick, 2002). Yếu tố tình cảm nắm bắt được cảm xúc hay cảm xúc được
tạo ra bởi việc sử dụng các sản phẩm hay dịch vụ. Yếu tố tình cảm này được hình
thành bởi một thành phần cảm xúc, liên quan đến cảm xúc bên trong hoặc cảm
giác, và một thành phần xã hội, liên quan đến tác động xã hội của việc mua
(Sa'nchez et al, 2006).
Gần đây nhất, năm 2006,
Roig et al. đã thực hiện nghiên cứu về giá trị cảm nhận trong lĩnh vực ngân
hàng (Customer perceived value in banking services). Roig et al. thực hiện
nghiên cứu này nhằm mục đích phân tích các khía cạnh của khái niệm giá trị cảm
nhận trong lĩnh vực ngân hàng, dựa trên thang đo GLOVAL đo lường của giá trị cảm
nhận trong lĩnh vực dịch vụ ngân hàng.
Roig, et al tổ chức khảo
sát và sàng lọc đưa vào mô hình nghiên cứu với 200 khách hàng của các tổ chức
tài chính đã chứng minh bằng các mô hình phương trình cấu trúc tuyến tính về độ
tin cậy và tính hợp lệ của thang đo giá trị cảm nhận. Qua nghiên cứu, các tác
giả đã phát hiện ra giá trị cảm nhận là một cấu trúc đa chiều bao gồm sáu chiều
(sáu nhân tố):

Nguồn:
Roig, et al (2006).
Nghiên cứu của Roig, et
al (2006) đã giúp hình thành một công cụ để đo lường giá trị cảm nhận của người
tiêu dùng trong các tổ chức tài chính. Mô hình nghiên cứu của Roig đã được
chính tác giả kiểm định và nhiều nghiên cứu tiếp theo của nhiều học giả trên thế
giới đã chứng minh sự phù hợp của mô hình này.
Tóm lại, việc nghiên cứu
giá trị cảm nhận của khách hàng nói chung và của ngành ngân hàng nói riêng sẽ
giúp cho các doanh nghiệp nhận rõ các yếu tố quan trọng để có thể tác động nhằm
mang lại sự hài lòng của khách hàng. Hiện nay có rất nhiều mô hình đo lường giá
trị cảm nhận của khách hàng nhưng mô hình giá trị cảm nhận của khách hàng trong
ngành ngân hàng của Roig, et al được đánh giá cao. Trong bối cảnh cạnh tranh
gay gắt giữa các ngân hàng hiện nay, việc khám phá ra những nhân tố tác động đến
giá trị cảm nhận của ngân hàng sẽ giúp cho các nhà quản trị ngân hàng ra những
quyết định phù hợp để cải thiện sự hài lòng của khách hàng. Có rất nhiều mô
hình nghiên cứu nhưng việc sử dụng mô hình của Roig et al (2006) được đánh giá
cao.
Tài
liệu tham khảo
1)
Anderson, J.C.
and Gerbing, D.W. (1988), “Structural equation modelling in practice: a review
and recommended two-step approach”, Psychological Bulletin, Vol. 103 No. 3, pp.
411-23.
2)
Butz, H.E. Jr
and Goodstein, L.D. (1996), “Measuring customer value: gaining the strategic
advantage”, Organisational Dynamics, Vol. 24, pp. 63-77.
3)
Cronin, J. Jr,
Brady, M. and Hult, T. (2000), “Assessing the effects of quality, value, and
customer satisfaction on consumer behavioral intentions in service
environments”, Journal of Retailing, Vol. 76 No. 2, pp. 193-218.
4)
De Ruyter, K.,
Wetzels, M. and Bloemer, J. (1998), “On the relationship between perceived
service quality, service loyalty and switching costs”, International Journal of
Service Industry Management, Vol. 9 No. 5, pp. 436-53.
5)
De Ruyter, K.,
Wetzels, M., Lemmink, J. and Mattson, J. (1997), “The dynamics of the service
delivery process: a value-based approach”, International Journal of Research in
Marketing, Vol. 14 No. 3, pp. 231-43.
6)
Dodds, W.B.,
Monroe, K.B. and Grewal, D. (1991), “The effect of price, brand and store
information on buyers product evaluations”, Journal of Marketing Research, Vol.
28, August, pp. 307-12.
7)
Monroe, K.
(1990), Pricing: Making Profitable Decisions, McGraw-Hill, New York, NY.
8)
Parasuraman, A.
and Grewal, D. (2000), “The impact of technology on the quality-value-loyalty
chain: a research agenda”, Journal of the Academy of Marketing Science, Vol. 28
No. 1, pp. 168-74.
9)
Parasuraman, A.,
Zeithaml, V.A. and Berry, L.L. (1985), “A conceptual model of service quality
and its implication for future research”, Journal of Marketing, Vol. 49, April,
pp. 41-50.
10)
Payne, A., Holt,
S. and Frow, P. (1999), “Relationship value management: exploring the
integration of employee, customer and shareholder value and enterprise
performance models”, paper presented at 7th International Relationship
Marketing Colloquium, University of Strathclyde, November.
11)
Petrick, J.F.
(2002), “Experience use history as a segmentation tool to examine golf
travellers’ satisfaction, perceived value and repurchase intentions”, Journal
of Vacation Marketing, Vol. 8 No. 4, pp. 332-42.
12) Roig, et al (2006), “Customer perceived value in banking services”,
International Journal of Bank Marketing, Vol. 24 No. 5, pp. 266-283
13)
Sanchez, J., Callarisa,
LL.J., Rodriguez, R.M. and Moliner, M.A. (2006), “Perceived value of the
purchase of a tourism product”, Tourism Management, Vol. 27 No. 4.
14)
Sheth, J.N. and
Parvatiyar, A. (1995), “Relationship marketing in consumer markets: antecedents
and outcomes”, Journal of the Academy of Marketing Science, Vol. 23 No. 4, pp.
255-72.
15)
Sheth, J.N.,
Newman, B.I. and Gross, B.L. (1991a), “Why we buy what we buy: a theory of
consumption values”, Journal of Business Research, Vol. 22, pp. 159-70.
16)
Sheth, J.N.,
Newman, B.I. and Gross, B.L. (1991b), Consumption Values and Market Choices:
Theory and Applications, Southwestern Publications, Amarillo, TX.
17)
Sweeney, J.C.
and Soutar, G. (2001), “Consumer perceived value: the development of multiple
item scale”, Journal of Retailing, Vol. 77 No. 2, pp. 203-20.
18)
Sweeney, J.C.,
Soutar, G.N. and Johnson, L.W. (1999), “The role of perceived risk in the
quality-value relationship: a study in a retail environment”, Journal of
Retailing, Vol. 75 No. 1, pp. 77-105.
19)
Teas, K. and
Agarwal, S. (2000), “The effects of extrinsic product cues on consumers’
percepcions of quality, sacrifice and value”, Journal of the Academy of
Marketing Science, Vol. 28 No. 2.
20)
Woodruff, R.B.
(1997), “Customer value: the next source of competitive advantage”, Journal of
the Academy of Marketing Science, Vol. 25 No. 2, pp. 139-53.
21)
Zeithaml, V.A.
(1988), “Consumer perceptions of price, quality and value: a means-end model
and synthesis of evidence”, Journal of Marketing, Vol. 52, July, pp. 2-22.
Thứ Sáu, 15 tháng 2, 2013
Ngành mía đường sẽ không còn ngọt trong năm 2013? Góc nhìn từ tính chu kỳ ngành
Tác giả Lê Tất Thành
Chuyên
viên phân tích độc lập
Theo TTVN
Lịch sử ngành mía đường Việt Nam cho thấy rằng mía đường là ngành có tính chu kỳ xấp xỉ 5 năm với giá cả và lợi nhuận của ngành có mối quan hệ nghịch biến với diện tích mía.
Sau
giai đoạn giá mía-đường liên tục tăng cao, nông dân và giờ đây là cả các “đại
gia” mía đường đang tích cực gia tăng diện tích mía. Và không còn nghi ngờ gì nữa,
đỉnh của ngành mía đường một lần nữa đang được lặp lại theo chu kỳ của nó!
Từ dữ liệu quá khứ
Lịch sử ngành mía đường Việt Nam cho thấy rằng mía đường là ngành có tính chu kỳ xấp xỉ 5 năm với giá cả và lợi nhuận của ngành có mối quan hệ nghịch biến với diện tích mía. Mỗi lần diện tích mía từ 300 ngàn ha trở lên là dấu hiệu cảnh báo ngành mía đường đang ở đỉnh của chu kỳ, giá mía đường sẽ xuống thấp và ngành chuẩn bị đón một đợt sụt giảm lợi nhuận do hệ quả của nguồn cung dư thừa.
Bất chấp nhu cầu tiêu thụ đường của các nhà máy nước giải khát, bánh kẹo và tiêu thụ đường trực tiếp gia tăng trong 10 năm qua (trung bình khoảng 3%/ năm), năng suất mía cũng gia tăng từ mức 50 tấn/ha trong năm 2003 lên 55 tấn/ha giai đoạn 2007-2008 và đến 61-63 tấn/ha giai đoạn 2012-2013, nên diện tích mía có thể được xem là chỉ tiêu khá chuẩn mực để đánh giá tính chu kỳ của ngành mía đường Việt nam.
Nguồn: Bộ Nông Nghiệp, Hiệp Hội Mía Đường
Nhìn vào hình 2 có thể thấy mối quan hệ này rất rõ nét: lợi nhuận của SBT và BHS thấp nhất trong những năm diện tích mía ở vùng đỉnh (trên 300 ngàn ha) dẫn đến ngành đường dư thừa nguồn cung như niên vụ 2003 và 2008; và lợi nhuận cao nhất trong những năm ngành đường có diện tích ở vùng đáy (khoảng 260 ngàn ha) dẫn đến nguồn cung không đáp ứng đủ nhu cầu như niên vụ 2006 và 2011.
Nguồn: Bộ Nông Nghiệp, Hiệp Hội Mía Đường, BCTC SBT và
BHS
Niên vụ 2012, năng suất mía tăng nhẹ và
diện tích mía tăng 12 ngàn ha so với 2011 đạt 283 ngàn ha, nằm ở giữa chu kỳ của
ngành nên việc các doanh nghiệp mía đường gần đây công bố lợi nhuận gộp 3 quý
năm 2012 sụt giảm so với cùng kỳ năm trước cũng là một điều dễ hiểu, vẫn nằm
trong chu kỳ của ngành mía.
Nguồn: BCTC các doanh nghiệp
Cần biết rằng, chu kỳ 5 năm của ngành mía
đường không phải là đặc điểm riêng có tại Việt Nam mà nó phổ biến trên thế giới
do đặc điểm của cây mía có tính chu kỳ (trồng và thu hoạch trong 3 năm). Quan
sát biến động giá đường thế giới có thể thấy giá đường đạt đỉnh vào các niên vụ
2001, 2006, 2011 và đạt đáy vào các niên vụ 2002, 2007.
Nguồn: FAO
Dự
báo niên vụ 2013: Đỉnh của chu kỳ ngành và đáy lợi nhuận của các nhà máy đường
Việt Nam
Theo Hiệp hội mía đường, bước sang niên vụ 2013, diện tích mía dự kiến đạt 300 ngàn ha, bên cạnh đó là 3.503 ha mà SBT và BHS đã ứng vốn cho các doanh nghiệp đối tác Campuchia trồng mới tại tỉnh Svay Riêng, nâng tổng diện tích mía tiêu thụ tại Việt Nam lên 303 ngàn ha (không tính diện tích mía 10 ngàn ha của HAGL vì sản xuất tại Lào và Bộ Tài Chính không chấp nhận đề nghị của Bộ Công Thương cấp hạn ngạch nhập khẩu đường riêng cho HAGL theo công văn 7043/BTC-CST, HAGL cũng phủ nhận thông tin xuất về Việt Nam).
Từ dữ liệu quá khứ, diện tích mía đang báo hiệu ngành ở vùng đỉnh của chu kỳ. Và thực vậy, diện tích này lớn hơn mốc cảnh báo 300 ngàn ha, nằm trong chu kỳ 5 năm của ngành mía 2003 – 2008 – 2013 (xem hình 1), trùng với triển vọng giá đường thế giới đang sụt giảm khi các nước sản xuất đường chính như Brazil, Ấn Độ, Trung Quốc có vụ mùa bội thu và theo kế hoạch sản xuất của 40 nhà máy đường trong niên vụ 2013 thì sản lượng đường dự kiến đạt 1.6 triệu tấn, mức sản lượng kỷ lục của ngành đường Việt Nam!
Vì vậy, tương ứng với vùng đỉnh mía-đường, rõ ràng rằng “mía” của người nông dân, “đường” của các nhà máy và các DN niêm yết sẽ không còn ngọt trong năm 2013 khi nguồn cung đường sẽ trở nên thừa thãi và giá đường đang tiếp tục đi xuống. Một lần nữa lịch sử ngành đường đang lặp lại chính nó và tương lai đã có thể nhìn thấy trước!
Từ dữ liệu quá khứ
Lịch sử ngành mía đường Việt Nam cho thấy rằng mía đường là ngành có tính chu kỳ xấp xỉ 5 năm với giá cả và lợi nhuận của ngành có mối quan hệ nghịch biến với diện tích mía. Mỗi lần diện tích mía từ 300 ngàn ha trở lên là dấu hiệu cảnh báo ngành mía đường đang ở đỉnh của chu kỳ, giá mía đường sẽ xuống thấp và ngành chuẩn bị đón một đợt sụt giảm lợi nhuận do hệ quả của nguồn cung dư thừa.
Bất chấp nhu cầu tiêu thụ đường của các nhà máy nước giải khát, bánh kẹo và tiêu thụ đường trực tiếp gia tăng trong 10 năm qua (trung bình khoảng 3%/ năm), năng suất mía cũng gia tăng từ mức 50 tấn/ha trong năm 2003 lên 55 tấn/ha giai đoạn 2007-2008 và đến 61-63 tấn/ha giai đoạn 2012-2013, nên diện tích mía có thể được xem là chỉ tiêu khá chuẩn mực để đánh giá tính chu kỳ của ngành mía đường Việt nam.
Hình 1: Diện tích và giá
mía, 2003 – 2013E
Lưu ý:
Diện tích niên vụ 2012-2013 (gọi tắt là niên vụ 2013) dựa trên kế hoạch sản xuất
của 40 nhà máy đường. Giá đường niên vụ 2013 được lấy ở thời điểm hiện tại của
khu vực ĐBSCL để phản ánh xu hướng giảm giá đường, không đại diện cho cả niên vụ
2013
Để minh chứng biến động lợi nhuận của
các doanh nghiệp mía đường với chu kỳ ngành. Tôi dùng lợi nhuận gộp của BHS và
SBT với diện tích mía theo thời gian vì (1) lợi nhuận gộp chỉ phản ánh mối quan
hệ giữa nhà máy đường với người tiêu dùng và nông dân nên đánh giá chính xác
hơn các chỉ tiêu lợi nhuận khác; (2) hai nhà máy đường SBT và BHS có dữ liệu
tài chính quá khứ đủ dài và đại diện được cho ngành mía đường.Nhìn vào hình 2 có thể thấy mối quan hệ này rất rõ nét: lợi nhuận của SBT và BHS thấp nhất trong những năm diện tích mía ở vùng đỉnh (trên 300 ngàn ha) dẫn đến ngành đường dư thừa nguồn cung như niên vụ 2003 và 2008; và lợi nhuận cao nhất trong những năm ngành đường có diện tích ở vùng đáy (khoảng 260 ngàn ha) dẫn đến nguồn cung không đáp ứng đủ nhu cầu như niên vụ 2006 và 2011.
Hình 2: Diện tích mía và lợi
nhuận gộp của SBT và BHS, 2003 – 2011
Hình 3: Lợi nhuận gộp của
các doanh nghiệp mía đường (tỷ đồng), 3 quý 2011 so với 3 quý 2012
Hình 4: Giá đường thế giới
(USD cents/lb), 2000 – 11T/2012
Theo Hiệp hội mía đường, bước sang niên vụ 2013, diện tích mía dự kiến đạt 300 ngàn ha, bên cạnh đó là 3.503 ha mà SBT và BHS đã ứng vốn cho các doanh nghiệp đối tác Campuchia trồng mới tại tỉnh Svay Riêng, nâng tổng diện tích mía tiêu thụ tại Việt Nam lên 303 ngàn ha (không tính diện tích mía 10 ngàn ha của HAGL vì sản xuất tại Lào và Bộ Tài Chính không chấp nhận đề nghị của Bộ Công Thương cấp hạn ngạch nhập khẩu đường riêng cho HAGL theo công văn 7043/BTC-CST, HAGL cũng phủ nhận thông tin xuất về Việt Nam).
Từ dữ liệu quá khứ, diện tích mía đang báo hiệu ngành ở vùng đỉnh của chu kỳ. Và thực vậy, diện tích này lớn hơn mốc cảnh báo 300 ngàn ha, nằm trong chu kỳ 5 năm của ngành mía 2003 – 2008 – 2013 (xem hình 1), trùng với triển vọng giá đường thế giới đang sụt giảm khi các nước sản xuất đường chính như Brazil, Ấn Độ, Trung Quốc có vụ mùa bội thu và theo kế hoạch sản xuất của 40 nhà máy đường trong niên vụ 2013 thì sản lượng đường dự kiến đạt 1.6 triệu tấn, mức sản lượng kỷ lục của ngành đường Việt Nam!
Vì vậy, tương ứng với vùng đỉnh mía-đường, rõ ràng rằng “mía” của người nông dân, “đường” của các nhà máy và các DN niêm yết sẽ không còn ngọt trong năm 2013 khi nguồn cung đường sẽ trở nên thừa thãi và giá đường đang tiếp tục đi xuống. Một lần nữa lịch sử ngành đường đang lặp lại chính nó và tương lai đã có thể nhìn thấy trước!
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Digital Marketing – Chìa khóa mở cửa kỷ nguyên tiếp thị hiện đại
Trong thời đại số hóa, khi mọi tương tác, giao tiếp và quyết định mua hàng dần chuyển dịch lên môi trường trực tuyến, Digital Marketing ( ...
-
Trong thời đại số hóa, khi mọi tương tác, giao tiếp và quyết định mua hàng dần chuyển dịch lên môi trường trực tuyến, Digital Marketing ( ...
-
TS. Bảo Trung 1. Khái niệm giá trị cảm nhận của khách hàng Từ những năm cuối thế kỷ 20 khái niệm “giá trị cảm nhận” đã được các...