Thứ Tư, 14 tháng 11, 2007


TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP VÀ VIỆC ÁP DỤNG Ở VIỆT NAM
ThS. Bảo Trung
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế hiện nay, các doanh nghiệp muốn cạnh tranh để tồn tại và phát triển đòi hỏi phải có sự thay đổi cơ bản cách thức quản lý doanh nghiệp.
Ở các nước có nền kinh tế thị trường hoàn chỉnh, hầu hết doanh nghiệp đều thuộc sở hữu tư nhân nên mục tiêu hàng đầu của họ là thu được nhiều lợi nhuận. Để thu được nhiều lợi nhuận, họ luôn luôn tìm cách hợp lý hóa hoạt động sản xuất – kinh doanh của mình và từ đó phát triển nhiều phương thức quản lý mới phù hợp hơn và hiệu quả hơn. Từ xa xưa con người đã biết tổ chức, điều khiển và phối hợp người lao động theo nhóm để hoàn thành những công trình vĩ đại như Kim tự tháp, Vạn lý trường thành. Đây chính là hoạt động quản trị mà ngày nay chúng ta nói đến. Tuy nhiên những hoạt động này chỉ dựa trên kinh nghiệm, theo kiểu thuận tiện với kỹ thuật quản trị đơn giản. Trước cuộc cách mạng công nghiệp, Adam Smith đã quan sát và ghi nhận việc phân công lao động trong sản xuất. Tuy nhiên, ông vẫn cho rằng kỹ năng của các nhà quản trị trong doanh nghiệp là do trời ban, không thể đào tạo được. Hoạt động quản trị lúc đó phụ thuộc vào tài năng của các cấp quản trị trong doanh nghiệp. Giai đoạn này người ta xem là giai đoạn quản trị theo kiểu thuận tiện. Tuy nhiên đến cuối thế kỷ 19, công nghiệp đã phát triển mạnh và có nhiều vấn đề nảy sinh ngoài tầm kiểm soát của nhà quản trị. Điều này dẫn đến sự phát triển các kỹ thuật quản trị. Năm 1911, Frederick Winslow Taylor viết cuốn "Những nguyên tắc quản trị khoa học" mở đầu cho giai đoạn quản trị theo khoa học. Từ đó có nhiều trường phái quản trị xuất hiện trên thế giới và người ta chia thành những nhóm lớn như lý thuyết cổ điển (Frederick Winslow Taylor, Henry L. Gantt, Frank và Lilian Gilbreth), lý thuyết quản lý hành chính (Max Weber, Henry Fayol), lý thuyết tâm lý xã hội (Douglas McGregor, Elton Mayo, Abraham Maslow), lý thuyết định lượng (Herbert Simon) và lý thuyết Z của Nhật (William Ouchi). Đến thập niên 1950, người ta xem quản trị theo khoa học đã hoàn chỉnh. Những lý thuyết quản trị trong giai đoạn này đã lần lượt giảng dạy tại các trường Đại học và hình thành nên chuyên ngành quản trị kinh doanh. Hoạt động quản trị trước những năm 1950 chủ yếu tập trung vào hiệu quả sản xuất nhằm nâng cao năng suất thông qua việc phân chia công việc, xây dựng sơ đồ tổ chức, xây dựng bảng mô tả công việc cho công nhân,…nhưng sau đó nó tiếp tục lan qua nhiều hoạt động khác như tài chính, tiếp thị và hình thành nên hệ thống các kiến thức và kỹ năng quản trị doanh nghiệp toàn diện. Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, các nhà quân sự của Hoa Kỳ đã nhận thức được rằng việc quản lý theo phương pháp khoa học không làm cho chất lượng sản phẩm tăng lên mà còn gây lãng phí lớn, đặc biệt đối với những sản phẩm của quốc phòng như máy bay, vũ khí không đạt chất lượng còn gây ra nhiều nguy hiểm cho xã hội. Chính vì vậy họ xây dựng các quy trình làm việc để sản xuất sản phẩm có chất lượng hơn và họ đặt tên Mil-Std 9858 (có nghĩa là tiêu chuẩn của quân đội). Đến năm 1979, Anh cũng đưa ra tiêu chuẩn quản lý áp dụng cho dân sự là BS 5750. Tuy nhiên, mãi đến năm 1987, thì phương pháp quản lý theo kiểu "làm đúng ngay từ đầu" hoặc "phòng ngừa" mới được áp dụng rộng rãi bằng sự ra đời của tiêu chuẩn ISO 9000:1987. Giai đoạn này người ta xem là giai đoạn quản lý tiên tiến. Sau thập niên 1990, tình hình thế giới có những biến đổi sâu sắc về mặt chính trị, kinh tế, xã hội làm cho sự cạnh tranh ngày càng diễn ra gay gắt buộc các doanh nghiệp phải tạo ra giá trị dành cho khách hàng ngày càng nhiều. Vì thế các doanh nghiệp đã tiến hành tái lập lại quá trình kinh doanh và cuốn sách "Tái lập công ty" ra đời đã được hưởng ứng rộng rãi. Cuối thập niên 1990 và đầu thế kỷ 21, sự ra đời của hai cuốn sách bán chạy của Thomas Friedman là "Chiếc Lexus và cây Ô Liu" và "Thế giới phẳng" đã minh chứng cho giai đoạn toàn cầu hóa. Lúc này người ta nhận thức được các 3 yếu tố quyết định trong môi trường kinh doanh: thứ nhất, khách hàng là người quyết định; thứ hai, cạnh tranh quyết liệt hơn; và thứ ba, phải thay đổi. Do vậy các nhà quản trị đã chuyển từ tập trung vào bên trong quá trình sản xuất sang tập trung vào khách hàng bên ngoài và làm thế nào tạo ra giá trị tăng thêm cho khách hàng. Đây chính là quản trị doanh nghiệp hiện đại.
Quá trình phát triển quản lý doanh nghiệp ở Việt Nam cũng đang tuần tự diễn ra theo xu hướng trên. Nếu xu hướng này cứ tiếp diễn thì doanh nghiệp Việt Nam sẽ thất bại trong xu hướng cạnh tranh toàn cầu ngày nay. Kể từ khi Việt Nam chuyển từ nền kinh tế kế hoạch sang nền kinh tế thị trường, phương thức quản lý ở các doanh nghiệp Việt Nam đã có sự thay đổi đáng kể tuy nhiên chưa đạt được hiệu quả. Trước khi đổi mới hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp này có các những đặc điểm cơ bản như sau:
  • Nó phục vụ những mục tiêu xã hội và chính trị nhiều hơn là kinh doanh.
  • Làm theo kế hoạch từ trên giao xuống
  • Những người quản lý được bổ nhiệm theo sự tin tưởng nhiều hơn là tài năng.
  • Cơ cấu tổ chức phát triển theo sự thuận tiện.
  • Mô phỏng cách thức của cơ quan hành chính với quyền hành không được ủy quyền cho ai mà tập trung vào tay giám đốc.
Trong các đặc điểm trên thì việc xây dựng cơ cấu tổ chức ở các doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò quyết định đến phương thức quản lý của các doanh nghiệp này. Hầu hết giám đốc doanh nghiệp nhà nước theo cơ chế cũ được bổ nhiệm vì chuyên môn hơn là vì kiến thức, kỹ năng quản lý. Kết quả của quá trình này là giám đốc doanh nghiệp nông nghiệp là kỹ sư nông nghiệp; giám đốc nhà máy hóa chất là kỹ sư hóa; giám đốc công ty thương mại là kỹ sư hoặc cử nhân kinh tế thương nghiệp,… Từ khi lên làm giám đốc, ông tiến hành thành lập các bộ phận được gọi là cơ cấu tổ chức và cơ cấu tổ chức này được hình thành theo lối thuận tiện hơn là theo khoa học. Ở các doanh nghiệp Việt Nam chúng ta thấy có phòng tổ chức - hành chính bởi theo cách hiểu thông thường vấn đề tuyển dụng con người là do giám đốc quyết định nên phòng tổ chức chỉ còn làm công tác giấy tờ nên công tác hành chính phải thuộc phòng này. Một ví dụ khác là phòng kế hoạch – kinh doanh hoặc kế hoạch – vật tư cũng tương tự. Bắt đầu là phòng kế hoạch lo tính toán các kế hoạch sản lượng, rồi tính toán các nguyên vật liệu đầu vào phục vụ cho sản xuất nên để thuận tiện giao luôn khâu mua vật tư cho phòng này là tốt nhất. Sau đó giám đốc thấy phòng kế hoạch – vật tư thường đi ra bên ngoài để mua vật tư nên việc bán hàng tốt nhất nên giao phòng này vì mua hoặc bán cũng như nhau nên hình thành phòng kế hoạch – kinh doanh chịu trách nhiệm mua nguyên liệu đầu vào và bán sản phẩm đầu ra. Việc hình thành cơ cấu tổ chức này hoàn toàn theo kiểu thuận tiện và điều đó tất nhiên là cách quản lý của các doanh nghiệp này hoàn toàn theo kiểu thuận tiện.
Từ thập niên 1990, khách hàng nước ngoài yêu cầu các doanh nghiệp Việt Nam phải có ISO 9000 thì mới mua hàng và chính yêu cầu bức bách này các doanh nghiệp bắt đầu tìm hiểu và quản lý theo kiểu ISO 9000. Tuy nhiên mô hình quản lý này không phải giúp cho các doanh nghiệp thành công mà còn rất nhiều trở ngại do chuyển từ quản lý thuận tiện sang quản lý tiên tiến theo ISO 9000 đòi hỏi thay đổi nhận thức rất lớn. Rất nhiều doanh nghiệp thuê tư vấn xây dựng hàng loạt các quy trình, chất đầy tủ nhưng chỉ thực hiện khi cần kiểm tra đánh giá để lấy chứng nhận, sau đó thì lãng quên đi vì thiếu sự cam kết của các cấp lãnh đạo. Các lãnh đạo trong doanh nghiệp hầu hết được bổ nhiệm do thuận tiện nên họ cảm thấy ISO 9000 là cái gì đó rắc rối, phức tạp, từ ngữ khó hiểu làm cho họ kém đi tính sáng tạo theo kiểu kinh nghiệm, thuận tiện.
Trước sự thay đổi nhanh chóng của nền kinh tế thế giới cuối thập niên 1990 và đầu thế kỷ 21, nhiều giám đốc nhận thấy rằng rất cần đi học những kiến thức và kỹ năng mới để có thể thành công trong cạnh tranh và thậm chí họ cũng quan tâm đến quản lý hiện đại như "tái lập công ty". Sau khi tiếp cận với nhiều lý thuyết quản lý khác nhau, giám đốc các doanh nghiệp thấy cần thiết phải thay đổi quản lý, cần phải "tái lập công ty" nhưng chủ yếu là cần thay đổi "cơ cấu tổ chức". Tuy nhiên, khi bắt đầu áp dụng thì gặp quá nhiều trở ngại từ việc không biết bắt đầu tư đâu đến sự phản ứng của các cấp quản trị doanh nghiệp nên cuối cùng phải từ bỏ và chuyển về quản lý theo kiểu thuận tiện.
Vậy doanh nghiệp Việt Nam sẽ đi về đâu trong tình huống này. Điều quan trọng là doanh nghiệp cần phải đánh giá lại toàn diện hoạt động của doanh nghiệp mình và cũng không thể chỉ dừng lại ở giai đoạn quản lý theo khoa học hoặc quản lý tiên tiến mà phải áp dụng mô hình quản lý hiện đại. Vì nếu cứ theo tuần tự thì doanh nghiệp Việt Nam không thể cạnh tranh được trong môi trường toàn cầu ngày nay. Tuy nhiên, cách tiếp cận là quản lý hiện đại, nhưng tùy theo trình độ nhận thức, kiến thức và kỹ năng con người mà chúng ta phối hợp tất cả các phương thức quản lý trên thế giới cho phù hợp.
Tóm lại, để thành công trên thương trường thì việc thay đổi phương cách quản lý là điều hết sức cần thiết vì các doanh nghiệp nhà nước hiện nay sẽ không đủ sức cạnh tranh và quan trọng hơn nữa là trong thời gian tới các doanh nghiệp nhà nước phải chuyển đổi thành công ty cổ phần thì việc thay đổi phương thức quản lý là điều tất yếu.

Chân dung giám đốc doanh nghiệp trong bối cảnh toàn cầu hóa
TS.Bảo Trung

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế và toàn cầu hóa hiện nay, việc áp dụng phương pháp quản lý khoa học và hiện đại vào trong hoạt động kinh doanh sẽ quyết định thành công của doanh nghiệp. Phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay quản lý theo kiểu "thuận tiện" và mối quan hệ trong doanh nghiệp theo kiểu gia đình cha-con, chú-cháu. Cách thức quản lý này sẽ không thể giúp doanh nghiệp cạnh tranh trong môi trường kinh doanh toàn cầu. Để thay đổi phương pháp quản lý theo hướng hiện đại thì vai trò của giám đốc doanh nghiệp rất quan trọng. Đối với phần lớn các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam, việc bổ nhiệm một người làm giám đốc thường xuất phát từ trình độ chuyên môn hơn là trình độ quản lý. Một kỹ sư hóa chất tốt nghiệp ra trường về làm tại một công ty hóa chất, sau nhiều năm làm việc tại phòng kỹ thuật, anh ta có nhiều sáng kiến cải tiến kỹ thuật, cải tiến sản phẩm. Anh ta sẽ được bổ nhiệm làm trưởng phòng, sau đó có thể trở thành phó giám đốc và thành giám đốc. Đối với các doanh nghiệp ngoài nhà nước thì thường là các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đặc điểm của các doanh nghiệp vừa và nhỏ thì ông chủ đồng thời kiêm luôn giám đốc doanh nghiệp. Việc quản lý này mang nặng tính chất gia đình. Với phương thức quản lý này nhiều giám đốc doanh nghiệp chưa nhận thấy đầy đủ sứ mệnh của mình và họ chưa trang bị đầy đủ những năng lực cần thiết để nắm giữ vị trí giám đốc doanh nghiệp. Người giám đốc doanh nghiệp hiện nay phải là người nắm được sứ mệnh mà doanh nghiệp, xã hội giao phó và đủ năng lực cần thiết để thực thi sứ mệnh của mình. Bài viết này tác giả xin giới thiệu sứ mệnh và năng lực cần thiết của người giám đốc doanh nghiệp trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế.
1. Sứ mệnh của giám đốc doanh nghiệp
Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng quyết liệt và môi trường kinh doanh thay đổi nhanh chóng, các nhà quản trị doanh nghiệp luôn luôn đối mặt với nhiều thách thức, đồng thời cũng gặp nhiều cơ hội để đưa doanh nghiệp mình lên tầm cao mới. Gaius Julius Caesar, Hoàng đế La Mã đã từng nói rằng: "Ta đến, ta thấy, ta chinh phục" thì giám đốc doanh nghiệp cũng phải mang trên mình sứ mệnh thiêng liêng là đến, thấy và chinh phục những vùng đất mới để doanh nghiệp duy trì và phát triển. Vì vậy sứ mệnh của giám đốc doanh nghiệp như sau:
a) Sáng tạo ra giá trị dành cho khách hàngKhách hàng là người quyết định sự duy trì và phát triển của doanh nghiệp. Khách hàng chỉ mua hàng của doanh nghiệp khi họ biết rằng sản phẩm của doanh nghiệp có giá trị đối với họ. Giám đốc doanh nghiệp mang trên mình một sứ mệnh cao cả là phải sáng tạo ra giá trị dành cho khách hàng. Trong cuộc chiến trên thương trường, người thắng cuộc chính là người tạo ra nhiều giá trị dành cho khách hàng hơn. Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hiện nay tập trung vào cạnh tranh giá trị dành cho khách hàng. Chính vì vậy, sứ mệnh đầu tiên mà giám đốc doanh nghiệp đảm nhận chính là sáng tạo ra giá trị dành cho khách hàng và đây cũng chính là nguồn gốc tạo ra giá trị doanh nghiệp.Theo Philips Kotler, giá trị dành cho khách hàng là khoảng chênh lệch giữa tổng giá trị mà khách hàng nhận được (Total customer value) và tổng chi phí mà khách hàng phải trả cho một sản phẩm/dịch vụ nào đó (Total customer cost). Các yếu tố quyết định giá trị dành cho khách hàng được biểu diễn theo sơ đồ sau []:
ổng giá trị của khách hàng
(Total customer value)
  • Giá trị về sản phẩm
  • Giá trị về dịch vụ
  • Giá trị về nhân sự
  • Giá trị về hình ảnh
Tổng chi phí của khách hàng
(Total cost value)
  • Chi phí bằng tiền
  • Chi phí về thời gian
  • Chi phí về công sức
  • Chi phí về tinh thần
Giá trị dành cho khách hàng
(Customer delivered value)
"Lợi nhuận" cho khách hàng

Tổng giá trị mà khách hàng nhận được là toàn bộ những lợi ích mà họ mong đợi ở một sản phẩm/dịch vụ. Nó bao gồm một tập hợp các giá trị thu được từ: chính bản thân sản phẩm/dịch vụ, các dịch vụ kèm theo, nguồn nhân lực và hình ảnh của công ty. Những giá trị gắn liền với bản thân sản phẩm/dịch vụ được phản ánh tập trung ở chất lượng của chúng và được thể hiện thông qua một loạt các thuộc tính như: độ bền, độ cứng, độ dẻo, độ tin cậy, tốc độ... Những giá trị gắn liền với dịch vụ kèm theo là một tập hợp các giá trị mang lại bởi việc: giao hàng, bán hàng, sửa chữa, cung cấp phụ tùng, hướng dẫn sử dụng, chăm sóc khách hàng… Giá trị về nhân sự được thể hiện ở trình độ hiểu biết, tinh thần trách nhiệm, sự tận tụy, ân cần của đội ngũ những người bán hàng, đội ngũ cán bộ công nhân viên của công ty đối với khách hàng. Cuối cùng, giá trị về hình ảnh được quan niệm là tổng hợp các ấn tượng về công ty trong tâm trí khách hàng.
Tổng chi phí mà khách hàng phải trả là toàn bộ những phí tổn mà khách hàng phải bỏ ra để nhận được những lợi ích mong muốn. Trong tổng chi phí này, những bộ phận chủ chốt thường bao gồm: giá tiền của sản phẩm/dịch vụ, phí tổn thời gian, phí tổn công sức và phí tổn tinh thần mà khách hàng đã bỏ ra trong quá trình mua hàng.
Như vậy, giá trị dành cho khách hàng không chỉ đơn thuần là những giá trị/lợi ích nằm trong bản thân sản phẩm/dịch vụ. Nó bao gồm tất thảy những giá trị hữu hình và vô hình, giá trị được sáng tạo ra trong sản xuất và giá trị nằm ngoài khâu sản xuất, miễn là những giá trị này mang lại lợi ích cho khách hàng.
b) Hoạch định chiến lượcSứ mệnh thứ hai của giám đốc doanh nghiệp là hoạch định chiến lược. Chiến lược chính là đáp án giúp cho người giám đốc lý giải được vấn đề như doanh nghiệp sẽ đi đến đâu?, trong hoàn cảnh nào?, chúng ta có thể làm được gì?, chúng ta cần gì?, và cần đạt mục tiêu như thế nào? Chiến lược là sự phối hợp những biện pháp về không gian và thời gian dựa trên việc phân tích môi trường và nguồn lực của tổ chức nhằm đạt được mục đích kinh doanh của doanh nghiệp phù hợp với xu hướng thị trường và điều kiện của doanh nghiệp. Mục đích của hoạch định chiến lược chính là nhằm mở rộng những ưu thế hiện có giành lấy nhiều cơ hội kinh doanh để mang lại nhiều lợi ích nhất cho doanh nghiệp. Với tư cách là người hoạch định chiến lược, giám đốc doanh nghiệp cần phải vạch ra đường đi nước bước cho doanh nghiệp ngày càng tiến lên.
c) Thực hiện chiến lượcSứ mệnh thứ ba của giám đốc doanh nghiệp là chỉ đạo thực hiện chiến lược. Chiến lược dù có hoàn hảo đến đâu nếu không được vận dụng vào thực tế thì doanh nghiệp cũng không thể phát triển được. Giám đốc doanh nghiệp cần phải lựa chọn con đường nào ngắn nhất để đi đến mục tiêu và trên con đường đầy chông gai đó, người giám đốc doanh nghiệp phải biết lúc nào có hố sâu, rào cao để nhảy qua, lúc nào có bom mìn phải né tránh. Trong quá trình thực hiện chiến lược, giám đốc doanh nghiệp sẽ biết được con đường đi của mình đã vạch ra đúng hay chưa để có thể điều chỉnh bổ sung kịp thời. Và cũng trên con đường đó người giám đốc doanh nghiệp sẽ ra những quyết định phù hợp để doanh nghiệp phát triển.
d) Bảo hộ doanh nghiệpSứ mệnh thứ tư của người giám đốc doanh nghiệp là thần hộ mệnh bảo hộ doanh nghiệp tránh được những tai ương, mất mát trên con đường đi. Giám đốc doanh nghiệp phải bảo hộ doanh nghiệp trước sự tấn công của đối thủ cạnh tranh, tránh rủi ro tài chính và các rủi ro khác có thể xảy ra. Giám đốc doanh nghiệp phải hiểu biết tường tận đối thủ cạnh tranh để tránh được sự sát thương của họ và tìm con đường vượt lên trên họ bằng phương pháp tinh khôn nhất nhưng phù hợp với đạo đức của xã hội. Giám đốc doanh nghiệp còn phải đảm nhận trách nhiệm là tránh những rủi ro tài chính xảy ra. Nhiều doanh nghiệp thất bại, đi đến phá sản không phải chiến lược sai lầm mà chính là do không kiểm soát được tài chính dẫn đến chi tiêu quá mức, sử dụng đồng tiền không đúng mục đích và cuối cùng doanh nghiệp yếu đi, kiệt quệ và phá sản. Ngoài ra, giám đốc còn có trách nhiệm là đề phòng tất cả các rủi ro khác có thể xảy ra. Ý thức đề phòng tai họa là nguyên tắc quan trọng của giám đốc doanh nghiệp. Người ta thường nói: Sống là do biết đề phòng tai họa, chết là do an nhàn vô sự. Giám đốc phải là người phải lo trước cái lo của thiên hạ. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp ngày càng phải đương đầu với nhiều rủi ro từ bên trong và bên ngoài. Do đó giám đốc doanh nghiệp cần phải có nhiều biện pháp phòng ngửa để bảo hộ doanh nghiệp.
e) Khích lệ tập thểSứ mệnh thứ năm của giám đốc doanh nghiệp là khích lệ tập thể. Bất cứ tổ chức nào muốn thành công đều đòi hỏi sự hợp sức của nhiều người. Nếu tất cả mọi người đều cùng nhau xây dựng tổ chức thì tổ chức sẽ ngày càng lớn mạnh. Sứ mệnh của giám đốc doanh nghiệp là làm sao lôi kéo được mọi người đóng góp vì sự nghiệp chung. Giám đốc doanh nghiệp sẽ thất bại nhiều không khích lệ được tập thể để họ cùng chung lưng, đấu cật vì sự nghiệp phát triển doanh nghiệp.
2. Năng lực của giám đốc doanh nghiệp
Để hoàn thành sứ mệnh mà cổ đông, người lao động và xã hội giao cho mình, giám đốc doanh nghiệp đòi hỏi phải có đủ kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết để thực thi nhiệm vụ của mình.
a) Kiến thức của giám đốc doanh nghiệp
Sự hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng, giám đốc doanh nghiệp khó có thể lèo lái con thuyền doanh nghiệp nếu họ không được trang bị đầy đủ các kiến thức cần thiết. Giám đốc doanh nghiệp đòi hỏi có những kiến thức như sau:
Thứ nhất, giám đốc doanh nghiệp phải có kiến thức cơ bản có hệ thống và toàn diện về quản trị kinh doanh. Giám đốc doanh nghiệp thường được bổ nhiệm từ các bộ phận chức năng nên có kiến thức chuyên môn sâu về chức năng mình đảm nhận trước đây. Tuy nhiên, với vai trò giám đốc doanh nghiệp, họ cần phải được trang bị kiến thức một cách có hệ thống và toàn diện về quản trị kinh doanh. Phần lớn giám đốc doanh nghiệp ở nước ngoài đều học qua chương trình Thạc sỹ quản trị kinh doanh (MBA). Chương trình này cung cấp cho họ kiến thức toàn diện về quản lý một doanh nghiệp. Nếu giám đốc doanh nghiệp thiếu những kiến thức nền tảng về quản trị kinh doanh tổng quát thì việc quản lý của họ chỉ mang tính tự nhiên và sự thành công hoặc thất bại chỉ mang tính may rủi. Kiến thức quản trị kinh doanh là nền tảng để tất cả kiến thức khác như ngoại ngữ, công nghệ thông tin và thông tin môi trường được sử dụng vào hoạt động doanh nghiệp. Các môn học của chương trình đào tạo thạc sỹ quản trị kinh doanh thường được chia thành 2 nhóm: bắt buộc và tự chọn. Các môn học bắt buộc thường bao gồm quản trị chiến lược, quản trị marketing, quản trị sản xuất, quản trị tài chính, kế toán quản trị, kỹ năng lãnh đạo, thương lượng,…Sau khi hoàn tất các môn bắt buộc thì học viên phải chọn lựa một số môn học chuyên sâu theo chuyên ngành chọn lựa. Ví dụ như chuyên ngành marketing thì học viên có thể lựa chọn học các môn như nghiên cứu thị trường, quảng cáo, quan hệ công chúng,….Phương pháp học tập của chương trình MBA chủ yếu là tự học và thảo luận những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn và cuối khóa học, học viên bắt buộc phải làm một luận văn liên quan đến chuyên ngành đã chọn lựa. Chương trình đào tạo MBA ở nước ngoài thường không yêu cầu người học phải tốt nghiệp đại học ngành kinh tế hoặc quản trị kinh doanh mà họ có thể tốt nghiệp đại học ở bất cứ ngành nào. Việc chọn lựa người học MBA chủ yếu dựa vào năng lực và tư duy quản lý chứ không phụ thuộc vào việc thi cử như ở Việt Nam.
Thứ hai, giám đốc doanh nghiệp phải có trình độ ngoại ngữ, đặc biệt là Tiếng Anh. Trong môi trường toàn cầu hóa, giám đốc doanh nghiệp cần phải được trang bị kiến thức tiếng Anh để có thể tiếp cận nguồn thông tin từ nước ngoài. Hầu hết các website trên thế giới đều viết bằng tiếng Anh, nên giám đốc doanh nghiệp cần phải biết tiếng Anh để có thể tự nghiên cứu học hỏi những thông tin vô cùng hữu ích này.
Thứ ba, giám đốc doanh nghiệp phải có trình độ công nghệ thông tin. Công nghệ thông tin chiếm vị trí rất quan trọng trong quá trình phát triển doanh nghiệp. Hiện nay việc trao đổi thông tin thực hiện qua công nghệ thông tin đã dần dần thay đổi cách thông tin truyền thống vì vừa rẻ và vừa nhanh chóng. Chính vì vậy, điều tối thiểu là giám đốc doanh nghiệp cần phải biết sử dụng Email, mạng nội bộ để điều hành công việc của mình. Ngoài ra máy tính là một công cụ mà không thể tách rời giám đốc doanh nghiệp trong việc thực hiện nhiều công việc hành chính khác. Trước đây giám đốc doanh nghiệp đi đâu cũng cần có cô thư ký đi theo để thực hiện công việc viết lách, nhưng ngày nay giám đốc doanh nghiệp phải là người trực tiếp sử dụng máy tính để thảo văn bản và giám đốc doanh nghiệp chuyên nghiệp và hiện đại thì luôn mang bên mình máy vi tính xách tay.
Thứ tư, giám đốc doanh nghiệp phải có kiến thức môi trường kinh doanh toàn cầu. Hiện nay các quốc gia trên thế giới đều nằm trong vòng xoáy của các tác động mang tính toàn cầu. Doanh nghiệp có thể xuất khẩu hoặc không xuất khẩu nhưng đều chịu tác động của môi trường kinh doanh quốc tế. Do đó, hiểu rõ được môi trường kinh doanh toàn cầu giúp cho doanh nghiệp khai thác được cơ hội và phòng tránh được rủi ro để doanh nghiệp phát triển.
b) Kỹ năngQuản lý một doanh nghiệp ngoài những kiến thức đã được trang bị đầy đủ thì người giám đốc doanh nghiệp còn đòi hỏi một số kỹ năng cần thiết để thực thi sứ mệnh của mình:
Thứ nhất, giám đốc doanh nghiệp phải là người có kỹ năng tư duy sáng tạo. Đó là người dám đổi mới, có khả năng phát hiện ra những quy luật và hình thức tồn tại của sự vật hiện tượng xung quanh. Người giám đốc phải nắm được cá biệt rút ra kết luận chung, đồng thời vừa thấy được cục bộ lại nắm được toàn cục. Với tư duy sáng tạo, người giám đốc doanh nghiệp sẽ có tầm nhìn xa, trông rộng giúp cho doanh nghiệp vượt qua những thử thách của sự thay đổi môi trường kinh doanh. Đây là kỹ năng cần thiết mà người giám đốc cần phải có khi nắm giữ vai trò của mình.
Thứ hai, giám đốc phải có kỹ năng suy lý chặt chẽ. Giám đốc doanh nghiệp phải là người có tư duy lô gíc và biện chứng. Quyết định của giám đốc đóng vai trò thúc đẩy doanh nghiệp phát triển hoặc đưa doanh nghiệp đi đến thất bại. Nguyên tắc thứ 7 khi thực hiện quản lý theo hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000:2001 là "mọi quyết định đều phải dựa trên dữ liệu thực tế". Ngày nay, giám đốc doanh nghiệp không thể ra quyết định một cách cảm tính mà phải dựa trên những số liệu, dữ liệu khách quan và suy luận một cách khoa học có phương pháp. Điều này sẽ làm giảm thiểu những rủi ro mà doanh nghiệp phải gánh chịu do những quyết định sai lầm.
Thứ ba, giám đốc doanh nghiệp phải có kỹ năng phát hiện và giải quyết vấn đề thấu đáo. Điều này đòi hỏi giám đốc doanh nghiệp phải nắm chắc được các khái niệm, lý luận và phương pháp đã học để đối chiếu vào thực tế và đưa ra giải pháp phù hợp. Nhiều người nắm rất vững khoa học, khái niệm nhưng không thể vận dụng chúng vào thực tiễn thì không thể làm giám đốc doanh nghiệp được. Sự thành công hoặc thất bại của giám đốc doanh nghiệp chính là khả năng biến những kiến thức quản trị khoa học, tiên tiến, hiện đại vào thực tiễn quản lý doanh nghiệp. Giám đốc doanh nghiệp có vai trò quan trọng giúp khoảng cách giữa lý thuyết và thực tiễn ngày càng nhỏ lại mà điều này không có trường lớp nào có thể dạy được.
Thứ tư, giám đốc doanh nghiệp cần có kỹ năng tổng hợp. Đây là kỹ năng nhận thức và tổng hợp mọi khía cạnh của một công việc hoặc một vấn đề, nhận biết được mối tương quan giữa các khía cạnh, cũng như ảnh hưởng của nó. Giám đốc doanh nghiệp phải có tư duy hệ thống để nhìn vấn đề dưới nhiều khía cạnh khác nhau và tổng hợp lại thành những quyết định quan trọng. Giám đốc doanh nghiệp là người có thể nghe và nhận nhiều báo cáo khác nhau từ những bộ phận khác nhau trong doanh nghiệp nhưng cuối cùng phải tổng hợp lại để đưa ra quyết định cuối cùng. Giám đốc doanh nghiệp sẽ thất bại khi không có năng lực tổng hợp vì như vậy các quyết định chỉ có thể tốt ở khía cạnh này và không tốt ở khía cạnh khác, điều này có thể dẫn đến nguy cơ sự xung đột lợi ích rất lớn. Khi trong một doanh nghiệp mà quyết định của giám đốc làm lợi cho cá nhân, bộ phận này, nhưng không có lợi cho cá nhân, bộ phận khác thì doanh nghiệp đó sẽ bị rối loạn. Rối loạn trong tổ chức chính là nguồn gốc dẫn tổ chức đi đến phá sản.
Thứ năm, giám đốc doanh nghiệp phải có kỹ năng trình bày và đàm phán. Nhiều người chuyên môn rất giỏi, kiến thức rộng nhưng khi thực hiện vai trò quản lý thất bại vì họ không có kỹ năng trình bày và đàm phán. Hai kỹ năng này thường đi liền với nhau. Giám đốc doanh nghiệp phải là người có kỹ năng trình bày tốt, điều này có nghĩa là diễn đạt các vấn đề một cách rõ ràng và các giải pháp cụ thể để cho người nghe hiểu được đâu là mấu chốt của vấn đề. Giám đốc trình bày tốt thì mới có khả năng đàm phán tốt được. Trong công việc đàm phán đòi hỏi phải trình bày một cách thuyết phục trước người nghe để cho họ chuyển sang hành động. Ngày nay với công cụ máy tính phát triển mạnh, nhiều người nhầm tưởng trình bày tốt chính là sử dụng thành thạo các công cụ như chương trình Powerpoint. Thật ra đây chỉ là công cụ mà giúp cho một người tăng hiệu quả của trình bày chứ không có tính quyết định.
c) Thái độThái độ của người giám đốc doanh nghiệp cũng quyết định đến thành công hoặc thất bại. Trong môi trường kinh doanh ngày nay, ngoài kiến thức và kỹ năng cần thiết, giám đốc doanh nghiệp cần phải có một số thái độ như sau:
Thứ nhất, giám đốc phải có thái độ tốt về đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội. Henry Ford đã từng nói: "Một cuộc kinh doanh không mang lại gì cho xã hội mà chỉ mang lại tiền là cuộc kinh doanh tồi tệ". Cuộc chiến trên thương trường ngày nay là cuộc chiến mà cả hai cùng thắng (win-win). Chính vì vậy, giám đốc doanh nghiệp phải dẫn dắt công việc kinh doanh của doanh nghiệp mình đúng theo những nguyên tắc và giá trị, chuẩn mực của xã hội. Thêm vào đó, giám đốc doanh nghiệp phải có trách nhiệm với xã hội để tạo ra xã hội ngày càng tốt đẹp hơn. Những đóng góp mà giám đốc doanh nghiệp mang lại cho xã hội chính là nền tảng giúp cho doanh nghiệp phát triển bền vững. Yếu tố đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội là yếu tố giúp cho doanh nghiệp phát triển bền vững. Trong cơ chế thị trường có thể có nhiều doanh nghiệp vì chạy theo lợi nhuận đã bất chấp tất cả. Như các doanh nghiệp chế biến thực phẩm sẵn sàng sử dụng hóa chất để chế biến gây ảnh hưởng đến sức khỏe của người tiêu dùng. Điều này không thể chấp nhận trong môi trường kinh doanh ngày nay. Giám đốc doanh nghiệp phải luôn luôn đặt chuẩn mực đạo đức và trách nhiệm xã hội lên trên khi thực thi nhiệm vụ của mình.
Thứ hai, giám đốc doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao trình độ của bản thân. Việc thường xuyên tu luyện kiến thức là điều quan trọng đối với giám đốc doanh nghiệp. Kiến thức này không đơn thuần là học rộng biết nhiều mà là sự vừa có hiểu biết, vừa biết ứng dụng sự hiểu biết, biết tùy cơ ứng biến. Giám đốc doanh nghiệp phải luôn luôn cập nhật những kiến thức quản lý kinh doanh và kiến thức liên quan đến ngành nghề kinh doanh của mình và vận dụng chúng vào thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp mình. Khoa học và công nghệ luôn luôn thay đổi, nếu giám đốc doanh nghiệp không chịu khó tu dưỡng bản thân thì dễ bị lạc hậu và đào thải. Việc tu dưỡng thường xuyên là yêu cầu quan trọng đối với các giám đốc doanh nghiệp hiện nay.
Thứ ba, giám đốc doanh nghiệp phải có tinh thần đồng đội. Tinh thần đồng đội chính là người giám đốc có thể vừa đóng vai trò lãnh đạo, vừa là thành viên của tổ chức. Điều này đòi hỏi giám đốc doanh nghiệp phải biết quan sát, lắng nghe và tôn trọng mọi ý kiến của mọi người. Giám đốc doanh nghiệp phải sẵn sàng chấp nhận ý kiến đối nghịch thậm chí những ý kiến có vẻ điên rồ. Giám đốc doanh nghiệp cần phải hiểu được hoàn cảnh khác nhau, tính cách khác nhau của cán bộ nhân viên dưới quyền trực tiếp để khuyến khích họ hành động cùng một hướng do mình định ra. Với sức mạnh tổng hợp của mọi thành viên trong doanh nghiệp thì sức mạnh của doanh nghiệp sẽ tăng lên nhiều lần.
Tóm lại, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, giám đốc doanh nghiệp phải là một nghề có tính chuyên nghiệp cao. Điều này đòi hỏi giám đốc doanh nghiệp phải hiểu rõ được sứ mệnh của mình và giám đốc doanh nghiệp phải có kiến thức, kỹ năng và thái độ đúng đắn để hoàn thành sứ mệnh của mình.

Thứ Bảy, 10 tháng 11, 2007

Bế giảng lớp Đào tạo giám đốc doanh nghiệp

Ngày 9/11/2007, Trường cán bộ quản lý nông nghiệp và PTNT II đã làm lễ bế giảng và phát bằng tốt nghiệp lớp Đào tạo giám đốc doanh nghiệp cho 17 học viên. Đến dự buổi lễ bế giảng có thầy TS. Nguyễn Thắng - Hiệu trưởng, thầy TS. Đinh Công Tiến - Phó Hiệu trưởng, cô TS. Nguyễn Thị Xuân Lan - Trưởng khoa quản trị doanh nghiệp, lãnh đạo, chuyên viên Phòng đào tạo, các giáo viên trong khoa quản tri doanh nghiệp và toàn thể 17 học viên. Sau khi hoàn tất 27 chuyên đề và làm báo cáo tốt nghiệp các học viên đã hoàn tất chương trình đào tạo giám đốc doanh nghiệp. Đây là chương trình được các doanh nghiệp trong ngành nông nghiệp đánh giá rất cao vì nó mang lại kết quả thiết thực cho công tác quản lý ở các đơn vị.

Thứ Tư, 7 tháng 11, 2007

Phương pháp xác định hiệu quả kinh tế


PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH HIỆU QUẢ KINH TẾ (HQKT)

CỦA CÁC MÔ HÌNH SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP

TS. Phạm Xuân Giang


1. Sự lúng túng của học viên trong việc xác định HQKT của các mô hình sản xuất nông nghiệp ( và cả mô hình VAC)

Gần đây có khá nhiều học viên thực hiện đề tài tốt nghiệp với nội dung xác định HQKT của các mô hình sản xuất nông nghiệp (và cả mô hình VAC). Mục đích chính của loại đề tài này là làm sao xác định được một vài mô hình có hiệu quả cao cho từng vùng sinh thái cụ thể để từ đó khuyến cáo người dân áp dụng. Điều tự nhiên khi thực hiện đề tài là học viên phải biết có bao nhiêu mô hình trong vùng nghiên cứu. Sau đó, họ phải thu thập được số liệu để tính các chỉ tiêu phản ánh HQKT của từng mô hình. Các công việc này đã được học viên thực hiện khá tốt. Tuy vậy, học viên lại rất lúng túng trong việc đánh giá HQKT của các mô hình. Bởi, để đánh giá HQKT của các mô hình phải sử dụng một hệ thống chỉ tiêu và phải so sánh lần lượt từng chỉ tiêu của các mô hình với nhau. Điều đó chắc chắn dẫn đến việc là mô hình này có chỉ tiêu tốt hơn lại có chỉ tiêu xấu hơn mô hình kia. Và như vậy, học viên sẽ không có căn cứ để cho rằng mô hình nào là tốt hơn. Chẳng hạn, có thí dụ về cách tính HQKT các mô hình sản xuất nông nghiệp của một học viên:



Mô hình

Công lao động/ha

Chi phí vật chất/ha

(tr,đồng)

Lãi/ha

(tr.đồng)

Tỷsuất

LN/Vốn

(%)

1. 3 vụ lúa

410

15,037

29.963

60,8

2. 2 lúa + 1 cá

380

16.700

30.660

68,1

3. 2 lúa + 1 vụ dưa

450

25.033

28.967

73,5

4. 2 lúa + 2 rau

500

29.500

38.600

72,9

Mô hình tối ưu

380 (2)

15.037 (1)

38.600 (4)

73,5 (3)


Với kết quả ở bảng trên, học viên này rất khó để cho rằng: mô hình nào từ 4 mô hình trên là có hiệu quả nhất. Nếu căn cứ vào chỉ tiêu thứ nhất thì mô hình 2 là có hiệu quả nhất; căn cứ vào chỉ tiêu thứ hai thì mô hình 1; căn cứ vào chỉ tiêu thứ ba thì mô hình 4; còn nếu căn cứ vào chỉ tiêu thứ tư thì mô hình 3 lại là mô hình có hiệu quả nhất. Chỉ tiêu Tỷ suất lợi nhuận/vốn là một chỉ tiêu cơ bản để đánh giá HQKT, nhưng nó vẫn chưa phải là một chỉ tiêu toàn diện. Chính vì vậy, phần sau của bài viết sẽ trình bày hai cách đánh giá HQKT của các mô hình sản xuất nông nghiệp.

2. Đánh giá HQKT của các mô hình sản xuất nông nghiệp bằng cách tính chỉ tiêu hiệu quả tổng hợp

HQKT của các tiến bộ kỹ thuật, các phương án sản xuất hoặc các mô hình kinh tế (gọi tắt là các mô hình) … được biểu hiện bằng nhiều chỉ tiêu. Các chỉ tiêu này chịu tác động của những nhân tố khác nhau và với những cường lực không giống nhau. Thậm chí cùng một loại nhân tố nhưng thời kỳ này tác động mạnh, thời kỳ khác lại có thể yếu hơn. Mặt khác, có loại chỉ tiêu trị số càng lớn càng tốt (được gọi là chỉ tiêu thuận), lại có chỉ tiêu trị số càng nhỏ càng tốt (được gọi là chỉ tiêu nghịch). Trong đánh giá HQKT không thể sử dụng một chỉ tiêu mà phải sử dụng một hệ thống chỉ tiêu. Các chỉ tiêu này lại không trực tiếp cọng lại được với nhau và mỗi chỉ tiêu biểu hiện HQKT ở một khía cạnh riêng biệt, do đó cũng không thể sử dụng một chỉ tiêu làm đại diện để so sánh. Bởi vậy, người ta đã đưa ra cách tính chỉ tiêu hiệu quả tổng hợp. Chỉ tiêu này có tác dụng tổng hợp được các chỉ tiêu bộ phận để biểu hiện thành một chỉ tiêu chung nhất phản ánh HQKT của từng mô hình. Cách tính được tiến hành qua bốn bước:

- Bước 1:Tính các chỉ tiêu bộ phận phản ánh HQKT của từng mô hình

- Bước 2: Chọn ra các chỉ tiêu HQKT tốt nhất từ những mô hình nói trên và mô hình lý tưởng bao gồm những chỉ tiêu này được coi là mô hình tối ưu.

- Bước 3: Tính chỉ tiêu hiệu quả thành phần bằng cách lấy trị số của các chỉ tiêu
thuận chia cho trị số của chỉ tiêu tương ứng trong mô hình tối ưu. Các chỉ tiêu nghịch thì làm ngược lại, tức là lấy trị số của chỉ tiêu nghịch trong mô hình tối ưu chia lần lượt cho trị số của chỉ tiêu tương ứng trong các mô hình cụ thể. Kết quả tính ra đều có kết quả nhỏ hơn hoặc bằng 1.

- Bước 4: Tính chỉ tiêu hiệu quả tổng hợp bằng cách cộng trị số của các chỉ tiêu hiệu quả thành phần. Mô hình nào có chỉ tiêu hiệu quả tổng hợp lớn nhất chứng tỏ HQKT của mô hình đó là cao nhất và ngược lại.

Chúng ta có thể ứng dụng cách tính chỉ tiêu hiệu quả tổng hợp vào thí dụ trên và kết quả được thể hiện trong bảng sau:


Mô hình

Công lao động

Chi phí

Vật chất

Lãi

Tỷ suất

LN/vốn

Chỉ tiêu hiệu quả tổng hợp

1. 3 vụ lúa

0,93

1,00

0,78

0,83

3.54

2. 2 lúa + 1 cá

1,00

0,90

0,79

0,93

3,62

3. 2 lúa + 1 vụ dưa

0,84

0,60

0,75

1,00

3,19

4. 2 lúa + 2 rau

0,76

0,51

1,00.

0,99

3,26

Mô hình tối ưu

1,00

1,00

1,00

1,00

4,00

Các số liệu của cột cuối cùng trong bảng trên cho thấy: Mô hình 2 có hiệu quả nhất, sau đó là mô hình 1, rồi đến mô hình 4 và cuối cùng là mô hình 3. Như vậy phương pháp này đã quy đổi được các chỉ tiêu hiệu quả bộ phận thành một chỉ tiêu chung, qua đó tạo sự dễ dàng cho việc đánh giá hiệu quả của các mô hình sản xuất nông nghiệp.


3. Đánh giá HQKTcủa các mô hình sản xuất nông nghiệp trong điều kiện các nguồn lực (đầu vào) bị hạn chế

Theo chúng tôi, sử dụng chỉ tiêu hiệu quả tổng hợp để đánh giá HQKT của các mô hình đã được trình bày trên đây chỉ có ý nghĩa trong điều kiện có đủ các nguồn lực, như: vốn, lao động , vật tư… Tuy vậy, trong sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất nông nghiệp trong các hộ nói riêng, một số yếu tố đầu vào thường bị giới hạn. Mức độ giới hạn phụ thuộc trực tiếp vào nguồn lực sẵn có trong hộ và sự gúp đỡ của các tổ chức kinh tế - xã hội, như: ngân hàng, HTX, chính quyền… Có thể nói yếu tố nguồn lực thiếu thốn nhất đối sản xuất của các hộ nông dân trước hết là vốn bằng tiền, sau đó là lao động. . .Thực ra, lao động nông nghiệp ở nước ta trước đây không thiếu, thậm chí là dư thừa. Nhưng thời gian gần đây, do quá trình đô thị hoá nhanh, nên một bộ phận lao động nông nghiệp đã chuyển hẳn sang làm công nghiệp và dịch vụ. Kết quả là lao động trong khu vực nông nghiệp, nhất là nông nghiệp ngoại thành thiếu lao động trầm trọng. Sự thiếu thốn nguồn lực dẫn đến việc là cho dù một mô hình nào đó có lãi cao, doanh thu lớn… thì người dân cũng không thể áp dụng được. Bởi vì những mô hình có lãi cao, doanh thu lớn … cũng thường là những mô hình đòi hỏi đầu tư nguồn lưc lớn. Trong điều kiện đó người dân không thể căn cứ vào chỉ tiêu hiệu quả tổng hợp hoặc chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận/vốn . . . để chọn mô hình áp dụng. Ngược lại, họ phải chọn mô hình nào mà đòi hỏi ít nguồn lực nhất (mà họ đang thiếu) để thực hiện. Nói khác đi là họ phải căn cứ vào một trong các chỉ tiêu nghịch để chọn mô hình sản xuất cho mình. Chẳng hạn theo thí dụ trên, nếu thiếu lao động trực tiếp thì nên chọn mô hình 2 (là mô hình cần ít công lao động nhất); nếu thiếu vốn thì chọn mô hình 1 (là mô hình có chi phí thấp nhất). . .


Tóm lại: Đánh giá HQKT của các mô hình sản xuất nông nghiệp trong điều kiện còn nghèo của nước ta phải xuất phát từ yếu tố nguồn lực. Nghĩa là nếu có đủ nguồn lực thì đánh giá bằng chỉ tiêu hiệu quả tổng hợp, còn nếu nguồn lực bị hạn chế thì chọn chỉ tiêu nào mà sử dụng nguồn lực hạn chế nhất để đánh giá.



HẾT

Chủ Nhật, 21 tháng 10, 2007

Khai giảng lớp CEO 19 tại Công ty lương thực Đồng Thápdoanh nghiệp


Ngày 15/9/2007, Trường cán bộ quản lý nông nghiệp và PTNT II tổ chức lễ khai giảng lớp Đào tạo giám đốc doanh nghiệp khóa 19 tại Công ty lương thực Đồng Tháp. Đến dự lễ khai giảng có ông Nguyễn Hữu Thành - Giám đốc Công ty lương thực Đồng Tháp và ông Nguyễn Thắng - Hiệu trưởng trường cán bộ quản lý nông nghiệp và PTNT II.

Đường nào nông sản vào siêu thị

Thứ Sáu, 21 tháng 9, 2007

The brand of Clinton

Chính sách đất đai

MỘT SỐ GIẢI PHÁP VỀ CHÍNH SÁCH ĐẤT ĐAI NHẰM THÚC ĐẨY QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP
ThS. Bảo Trung

Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu của sản xuất nông nghiệp. Để nông nghiệp có thể phát triển được đòi hỏi nhà nước cần có chính sách đất đai phù hợp. Nông nghiệp nước ta trong thời gian qua đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể tuy nhiên do đất đai phân tán manh mún và chính sách đất đai còn nhiều bất cập nên việc phát triển còn một số hạn chế. Ví dụ như sản xuất theo hợp đồng sẽ khó thực hiện nếu mỗi nông dân chỉ có mãnh đất nhỏ. Các nhà máy chế biến sẽ khó hoạt động khi không có vùng chuyên canh sản xuất hàng hóa lớn… Chính vì vậy, để nông nghiệp phát triển, Việt nam cần phải thay đổi một số chính sách đất đai. Bài viết này đề xuất một số giải pháp về chính sách đất đai nhằm thúc đẩy nông nghiệp phát triển như sau:

1. Chính sách thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung đất đai.
Nhà nước cần xây dựng một chính sách đất đai hợp lý để đảm bảo người chủ trang trại đạt được 2 chỉ tiêu sử dụng đất là chỉ tiêu quy mô sử dụng đất đai tối ưu và chỉ tiêu quy mô đất đai có thể làm giàu được.
Đối với chỉ tiêu quy mô đất đai tối ưu, nhà nước cần có chính sách đảm bảo cho những người kinh doanh giỏi, có đủ điều kiện cơ sở vật chất sử dụng hiệu quả tài nguyên đất đai. Tuy nhiên điều này không có nghĩa quy mô càng lớn càng tốt. Theo nghiên cứu của Lau và Yotopoulos (1971), “họ đã so sánh hiệu quả sản xuất của nông trại nhỏ (dưới 10 mẫu Anh # 4 ha) với những nông trại quy mô lớn ở An Độ vào thời kỳ 1955-1957. Họ chứng minh rằng nông trại nhỏ đạt hiệu quả kinh tế hơn nông trại lớn nhưng có cùng hiệu quả phân phối như nhau. Vậy điều thuận lợi của nông trại nhỏ là hiệu quả kỹ thuật lớn hơn”[1]. Hiệu quả kỹ thuật lớn hơn có nghĩa là nông trại nhỏ sử dụng đầu vào tối ưu. Điều này cũng đúng với quan điểm quản lý hiện đại “Small is beautiful” (nhỏ thì đẹp).
Đối với chỉ tiêu quy mô đất đai có thể làm giàu của trang trại, nhà nước cần có chính sách hợp lý để các hộ nông dân với diện tích đất đai nhỏ có khả năng tích tụ ruộng đất đảm bảo đạt được quy mô tối thiểu. Nông dân Việt Nam còn nghèo chính là do đất đai quá ít. “Hiện nay, bình quân diện tích đất canh tác của một lao động nông nghiệp ở châu Au là 17 ha, châu Mỹ khoảng 45-50 ha, khu vực châu Á-Thái Bình Dương khoảng 4-4,5 ha, trong khi đó ở nước ta chỉ khoảng 0,3 ha”[2]. Với diện tích 0,3 ha/lao động, người nông dân không thể làm đủ ăn, chứ không nói đến chuyện là giàu được. Điều này đòi hỏi các nhà hoạch định chính sách đất đai nông nghiệp phải thay đổi nhận thức về vấn đề “người cày có ruộng”.
Để trang trại có thể đạt được hai chỉ tiêu nói trên, Nhà nước cần phải hoàn thiện chính sách đất đai nhằm thúc đẩy quá trình tập trung và tích tụ đất đai. Một số biện pháp cụ thể như sau:
Thứ nhất, tạo điều kiện cho thị trường đất đai được hoạt động thuận lợi. Thị trường đất đai là rất cần thiết. Nó giúp cho chủ trang trại vượt qua những khó khăn về sự phân tán đất đai và tối ưu hóa quy mô trang trại. Thực tiễn quá trình phát triển của nhiều nước trên thế giới bao giờ cũng diễn ra quá trình tập trung và tích tụ ruộng đất. Một số ý kiến cho rằng quá trình tích tụ và tập trung đất đai có thể dẫn đến tình trạng một số nông dân bị mất đất và nghèo đói, nhưng điều này không mấy thuyết phục. Theo nghiên cứu 6.000 hộ nông dân của Nicholas Minott và cộng sự năm 2003 chỉ ra rằng tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp lại có quan hệ thuận với tỷ lệ nghèo đói. Kết quả này đã chứng tỏ rằng không phải tất cả nông dân không đất là nghèo. “Khoảng 20% số nông dân không đất ở ĐBSCL đã chủ động nhượng đất cho các hộ khác để đi làm thuê hày làm ngành nghề, dịch vụ phi nông nghiệp” [3]. Nếu thị trường đất đai nông nghiệp hoạt động thuận lợi thì số người bán đất để làm thuê hoặc sinh sống bằng nghề khác gia tăng. Điều này sẽ tạo điều kiện cho một số chủ trang trại giải quyết bài toán đất đai cho mình. Lúc này giá đất sẽ phản ánh đúng giá trị đất, người chủ trang trại buộc lòng phải sử dụng đất nông nghiệp làm sao mang lại hiệu quả cao nhất.
Thứ hai, phải giải quyết bài toán nhập nhằng giữa “Giao đất không thu tiền sử dụng đất”, “Giao đất có thu tiền sử dụng đất” và “Cho thuê đất” (Điều 33, Điều 34, Điều 35, Luật Đất Đai năm 2004). Mặc dù chính sách này đã có nhiều tiến bộ hơn trước nhưng thực tế rất khó kiểm soát được sự rạch ròi giữa 3 hình thức này.

2. Xây dựng tiêu chuẩn tổ chức, cá nhân được giao đất, thuê đất, chuyển quyền sử dụng đất và thừa kế đất nông nghiệp
Nhà nước cần xác định tiêu chuẩn tổ chức, cá nhân đủ điều kiện được giao đất, cho thuê đất, chuyển quyền sử dụng đất và thừa kế đất đai nông nghiệp. Tiêu chuẩn này cần phải căn cứ vào năng lực của người được giao, thuê đất được nhận chuyển quyền sử dụng đất và thừa kế đất nông nghiệp. Người này phải có đủ kiến thức về kỹ thuật nông nghiệp và quản lý nông nghiệp. Trong trường hợp thừa kế đất đai nếu người được thừa kế không đủ tiêu chuẩn làm nông nghiệp thì tiến hành bán đấu giá đất nông nghiệp và sau khi nộp các khoản thuế và phí theo quy định, số tiền còn lại được giao lại cho người được thừa kế. Trong trường hợp các thành viên trong gia đình đều đủ điều kiện thừa kế đất đai nông nghiệp, nhưng do diện tích nếu chia ra sẽ thấp hơn quy mô đất đai có thể làm giàu của trang trại thì nhà nước có chính sách khuyến khích giao cho một người quản lý, còn những người khác nhà nước sẽ giao đất nơi khác để canh tác.
Nhà nước cần xây dựng chính sách khuyến khích những thanh niên trẻ có đủ năng lực nhận đất hoặc thuê đất để tổ chức sản xuất nông nghiệp. Nhà nước cần hạn chế dần việc giao đất, cho thuê đất đối với cán bộ về hưu, người lớn tuổi.
3. Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp phải xuất phát từ tín hiệu của thị trường
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp có vai trò rất quan trọng trong việc hoạch định chính sách quản lý sử dụng đất, là công cụ không thể thiếu trong công tác quản lý sử dụng đất nông nghiệp, bảo đảm cho quyền quản lý của Nhà nước không ảnh hưởng đến quyền tự chủ bố trí sản xuất của người sử dụng, tránh được tình trạng phát triển tự phát gây hậu quả xấu trong sử dụng đất, vừa khó khắc phục những thiệt hại lớn về kinh tế cho xã hội. Thời gian qua chúng ta quy hoạch rất nhiều vùng đất trồng lúa nhưng việc trồng lúa không mang lại hiệu quả cho người nông dân. Ở một số nơi HTX kiểu cũ phát triển khá mạnh trong giai đoạn trước như tỉnh Bình Định, Khánh Hòa (theo điều tra thực tế của tác giả năm 2003) việc lựa chọn cây trồng, vật nuôi thường do HTX hoặc phòng Nông nghiệp huyện quyết định để đạt được mục tiêu sản xuất do bên trên xác định. Điều này không kích thích nông dân và hạn chế nỗ lực của họ trong tối đa hóa mục tiêu của họ phù hợp với nhu cầu, khả năng kinh tế – xã hội và nhu cầu thị trường. Những lựa chọn cây trồng, vật nuôi do người ngoài quyết định sẽ có thể dẫn đến rủi ro về thị trường. Nếu nhà nước cứng nhắc trong việc quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thì việc sử dụng đất đai sẽ không mang lại hiệu quả cho người chủ trang trại. Trong mục 2 và 3, điều 21 “Nguyên tắc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất” của Luật Đất Đai năm 2004 có nêu :
“Việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải bảo đảm các nguyên tắc sau đây:
2. … , quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp dưới phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp trên; kế hoạch sử dụng đất phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, xét duyệt;
3. Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp trên phải thể hiện nhu cầu sử dụng đất của cấp dưới;”
Hai mục nêu trên khi đưa vào thực tế có thể xảy ra tình trạng quy hoạch, kế hoạch của cấp trên làm trước, sau đó buộc cấp dưới phải cho rằng nó thể hiện nhu cầu của mình.
Ngoài ra trong Luật Đất Đai năm 2004, từ Điều 21 đến Điều 30, còn nêu các vấn đề khác như căn cứ, nội dung, kỳ hạn, điều chỉnh và việc phân cấp lập, phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, nhưng vẫn chưa rõ xuất phát điểm của việc quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là từ tín hiệu thị trường. Vấn đề quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất, đặc biệt đất nông nghiệp là vấn đề khó khăn, đòi hỏi có sự tham gia của tất cả các bên liên quan, trong đó có nông dân. Việc quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp chỉ nên mang tính định hướng, mang tính chiến lược và phải được làm từ dưới lên thay vì làm từ trên xuống.
Tóm lại, chính sách đất đai cần phải điều chỉnh cho phù hợp để thúc đẩy nông nghiệp phát triển. Chính sách này cần phải thúc đẩy được quá trình tích tụ và tập trung đất đai. Đất đai cần phải giao cho những người có khả năng khai thác hiệu quả nhất và việc quy hoạch đất đai phải xuất phát từ tín hiệu thị trường.



[1] David Colman và Trevor Young, Nguyên lý kinh tế nông nghiệp, Nhà Xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, 1994, trang 67
[2] PGS.TS Hoàng Việt, Vấn đề sở hữu ruộng đất trong nền kinh tế thị trường nhiều thành phần ở Việt Nam, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia, 1999, trang 76.
[3] PGS. TS. Đỗ Kim Chung, Tài nguyên đất nông thôn và vấn đề nghèo đói ở Việt Nam, Hội thảo về Chính sách đất đai và Phát triển nông nghiệp Việt Nam, 25-26/2/2004.

Chủ Nhật, 9 tháng 9, 2007

Brand vision to action


Brand Vision to Action


From: wheresthesausage, 10 months ago





How we help teams create an inspiring vision and the action plans to turn this into growth

21st century marketing


21st Century Marketing


From: dreamforce2006, 11 months ago





What's the key to unprecedented marketing success in an on-demand world? In this Google era, your prospects and customers get information, make decisions, and communicate in an entirely new way. Which means you need new ways to catch their eyes and their business. Don't get left behind! Attend this session to learn the secrets of marketing and differentiating your company in the 21st century.

Thứ Tư, 5 tháng 9, 2007

PR Theory Basics


PR 313 - Public Relations Theory


From: Brett509, 6 months ago





This lecture focuses on various theories of persuasion used in public relations practices.

Thứ Năm, 30 tháng 8, 2007

Xu hướng kinh tế thế giới


NHẬN ĐỊNH XU HƯỚNG KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ BỀN VỮNG CHO VIỆT NAM


  1. LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời đại ngày nay có lẽ không có một quốc gia nào trên thế giới có thể phát triển độc lập, không có mối liên hệ nào với các quốc gia khác. Sự phát triển kinh tế của một quốc gia không những phụ thuộc nào chính sách kinh tế và phương thức điều hành kinh tế của chính phủ đó mà còn phụ thuộc rất lớn đến sự phát triển kinh tế của quốc gia khác. Đặc biệt là các nước đầu tàu nhập khẩu hàng hóa khắp nơi trên thế giới như Mỹ, Nhật và Châu Au. Ví dụ như mức tăng trưởng GDP của Singapore năm 2000 là 9,9 % nhưng đến tháng 4/2001 giảm còn 3,5 %; tháng 7 giảm 0,5%; và theo dự đoán của Golman Sachs thì nền kinh tế Singapore năm 2001 có thể suy thoái 0,3% (GDP = -0,3%). Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là do cơn sốt "dot.com" của thị trường Mỹ lụn tắt dẫn đến kim ngạch xuất khẩu điện tử của Singapore giảm mạnh.

Mục tiêu của hầu hết của các chính phủ là làm sao duy trì được nền kinh tế tăng trưởng nhanh và bền vững. Đối với những quốc gia đang phát triển hay những quốc gia đang trong quá trình chuyển đổi như Việt Nam, Trung Quốc hay Đông Au, vấn đề tăng trưởng và ổn định là vấn đề sống còn của các quốc gia này. Việc tìm ra con đường để phát triển nhanh và bền vững là công việc đầy khó khăn và trắc trở đối với các nhà lãnh đạo mà những giải pháp này thường không thể thử nghiệm được. Chính vì vậy nếu không xem xét tỉ mỉ và thận trọng toàn bộ các vấn đề thì các chính sách và giải pháp đưa ra sẽ không giúp cho đất nước phát triển nhanh và bền vững mà có thể đưa quốc gia đi đến cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng.
Qua theo dõi nền kinh tế thế giới và nền kinh tế Việt Nam trong những năm cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, chúng tôi nhận định về một số xu hướng kinh tế thế giới và khu vực trong những năm sắp tới và đưa ra một số giải pháp phát triển kinh tế bền vững cho Việt Nam. Tuy nhiên những giải pháp này chỉ là suy nghĩ của cá nhân chắc chắn chưa thể đầy đủ và chính xác.
2. NHẬN ĐỊNH XU HƯỚNG KINH TẾ THẾ GIỚI
Theo đánh giá một số chuyên gia kinh tế thế giới thế kỷ 21, cục diện kinh tế thế giới sẽ thay đổi nhanh chóng và sâu sắc, khác với những gì đã diễn ra trong thế kỷ 20. Việc nhận định những xu hướng kinh tế thế giới nhằm nhận thức được viễn cảnh thách thức và cơ hội mới cho Việt Nam để có những giải pháp hữu hiệu đón đầu những thời cơ, tránh nguy cơ đưa đất nước thoát ra khỏi cảnh nghèo khó, hòa mình vào sự thịnh vượng chung của nền kinh tế toàn cầu. Sau đây, chúng tôi xin nêu nhận định một số xu hướng kinh tế như sau :
Xu hướng thứ nhất, nền kinh tế thế giới sẽ hoàn thiện việc hội nhập vào đầu thế kỷ 21.
Nhiều chuyên gia trên thế giới cho rằng xu hướng toàn cầu hoá là điều tất yếu trong thế kỷ 21. Chúng ta đang sống vào thời đại mà cục diện thế giới đã thay đổi nhanh chóng và sâu sắc theo xu hướng đa cực. Nền kinh tế thế giới hiện nay mang tính phụ thuộc, liên đới lẫn nhau rất mạnh mẽ. Ngày nay và tương lai một quốc gia không thể vận động một cách độc lập, không còn có những ốc đảo kinh tế biệt lập mà nền kinh tế mỗi quốc gia sẽ hoà nhập vào thể chế kinh tế toàn cầu, chịu ảnh hưởng và những tác động chung của nền kinh tế toàn cầu. Như chúng ta đã biết đồng Euro chính thức đi vào thị trường kể từ ngày 1-1-1999 bao trùm lên cả một khu vực kinh tế giàu có của thế giới hiện nay. Trong tương lai không xa nếu đồng tiền chung châu Au thành công sẽ cho phép chúng ta có thể nghĩ đến những đồng tiền chung như đồng tiền chung Đông Á, châu Á, châu phi, hay Mỹ La-tin, cũng có thể là đồng tiền chung toàn cầu. Dĩ nhiên tốc độ thiết lập sẽ nhanh chóng hơn và hoàn thiện hơn. Xu hướng toàn cầu hóa còn thể hiện qua sự liên kết thương mại khu vực, vùng đang hình thành khắp nơi trên thế giới như khu vực mậu dịch tự do các nước Asean (AFTA), hay khu vực Bắc Mỹ (NAFTA), diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) hay vào năm 1999, 48 nhà lãnh đạo EU và châu Mỹ La-tin đã ký hiệp ước liên kết xuyên đại Tây Dương (EU-Mercosur). Sự liên kết khu vực dần dần sẽ tiến tới loại bỏ sự hạn chế trong sự dịch chuyển hàng hoá, dịch vụ, tri thức, công nghệ....từng khu vực và lan tỏa ra phạm vi khắp toàn cầu. Toàn cầu hóa là một xu hướng tất yếu nhưng vẫn còn lắm chông gai trên con đường hoàn thiện. Liệu các vấn đề liên quan đến sắc tộc, tôn giáo hay chính trị có ngăn cản đà toàn cầu hóa không thì chưa thể xác định chắc chắn được nhưng sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và công nghệ có thể đè bẹp mọi thế lực gây cản trở xu hướng toàn cầu hóa và như vậy chúng ta có thể sống trong một môi trường kinh tế đồng nhất trên hành tinh.
Xu hướng thứ hai, sự bùng nổ kỹ thuật tin học, công nghệ thông tin, đặc biệt thương mại điện tử và Internet sẽ phá vỡ những lối kinh doanh truyền thống, giúp người tiêu dùng có thể tiếp cận dễ dàng với những sản phẩm mới, những tri thức và công nghệ mới một cách nhanh chóng với chi phí thấp nhất cho dù các công ty "dot.com" đang lâm vào tình trạng khó khăn hiện nay, nhưng xu hướng này là tất yếu.
Sự sáng tạo vĩ đại của một số nhà kỹ trị trên thế giới chính là tìm ra những sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu tiềm năng trên thị trường. Trong thập niên 50-60, có lẽ không có ai nghĩ rằng máy tính sẽ được trang bị đến từng công ty, xí nghiệp, hộ gia đình như ngày nay. Ngay cả người sáng lập ra công ty IBM, Thomas J. Watson, Sr. cũng đã từng tiên đoán rằng nhu cầu máy tính xử lý số liệu sẽ không quá 50 chiếc và sau đó máy tính cá nhân cũng bị nhiều người đả phá, nhưng thực tế như thế nào thì ai cũng biết. Trường hợp khác là hãng Sony của Nhật đã phát minh ra máy Walkman và rất thành công trên khắp thế giới mặc dù trước đó chưa ai thấy được sản phẩm như vậy trên thị trường. Ở đây chúng tôi trình bày ví dụ này để nói lên một điều rằng người tiêu dùng có nhu cầu rất lớn những sản phẩm tiềm ẩn kỹ thuật mà chưa được phát hiện. Những sản phẩm này không thể thực hiện cuộc nghiên cứu thị trường khi mà người tiêu dùng chưa hề biết nó. Tuy nhiên sự sáng tạo của các nhà kỹ thuật không phải lúc nào cũng thành công mà họ phải sản xuất thử nghiệm nhiều cái thậm chí hàng trăm và hàng ngàn cái mới có một cái thành công. Ngày nay, nhờ công cụ máy tính chúng ta có thể nghiên cứu, thiết kế, mô phỏng và giới thiệu trước công chúng trên phương tiện máy vi tính nếu được chấp nhận thì có thể đưa vào sản xuất thử và như thế có thể giảm thiểu rất nhiều rủi ro và chi phí. Như vậy kỹ thuật tin học đã giúp tìm kiếm những sản phẩm mới nhanh chóng hơn, rẻ hơn và người tiêu dùng có thể biết được những sản phẩm nào sắp sửa được tung ra trên thị trường. Đối với vấn đề thông tin, ngày nay sự trở ngại ngôn ngữ không còn là vấn đề không thể khắc phục được. Nếu chịu khó thì bất cứ ai cũng có thể thuần thục một hay vài ngoại ngữ phổ biến trên thế giới, đặc biệt là tiếng Anh. Chưa kể đến tình trạng con người đa chủng tộc, đa văn hóa đang phát triển mạnh mẽ trong xu thế hội nhập toàn cầu. Một người sinh ra tại Hà Lan, sang Pháp học tiểu học, đi Mỹ học đại học, ra trường làm việc cho một công ty Mỹ có trụ sở tại Nam Phi, lấy chồng (lấy vợ) người Trung Quốc. Chính thời đại thông tin đã đưa mọi người tiến lại gần nhau. Cách thức tiếp cận thông tin từng địa điểm cụ thể đã bị phá vỡ bằng những ngân hàng dữ liệu, con người mua bán với nhau không cần gặp mặt nhau. Ở Việt Nam có thể nghiên cứu xem xét một sản phẩm nào đó trên thế giới qua mạng Internet. Công nghệ thông tin ngày nay đã giúp người ta giao thương toàn cầu mà không gặp trở ngại nào về không gian, thời gian. Xu hướng kinh tế trên mạng Internet sẽ trở thành hiện thực đối với bất cứ ai ở trên hành tinh này.
Xu hướng thứ ba, làn sóng sáp nhập và mua lại công ty tạo nên thế lực cạnh tranh mới trên thương trường quốc tế.
Kể từ năm 1996 đến nay chúng ta đã chứng kiến nhiều vụ sáp nhập và mua lại với trị giá hàng tỉ USD tạo nên những công ty khổng lồ trên khắp thế giới. Mua bán, sáp nhập đang trở thành một xu hướng tất yếu với qui mô ngày càng gia tăng, phạm vi ngày càng lớn. Năm 1996, trên toàn thế giới có 22.729 vụ sáp nhập với mức giao dịch là 1.140 tỉ USD tăng 32 % so năm 1995. Năm 1997, vụ sáp nhập lớn nhất trong lịch sử của 6 hãng hàng không quốc gia trên thế giới thành một công ty hàng không tên gọi là Star Alliance với tổng số máy bay 1.455 chiếc, vận chuyển 185,7 triệu hành khách mỗi năm. Năm 1998, làn sóng sáp nhập và mua lại ồ ạt giữa các tập đoàn công nghiệp, tài chính, ngân hàng hàng đầu trên thế giới như vụ sáp nhập giữa BP của Anh và Amoco của Mỹ với giá trị giao dịch 48,2 tỉ, tổng tài sản 110 tỉ USD; vụ sáp nhập giữa Chrysler của Mỹ với Daimler-Benz của Đức với giá trị giao dịch là 35 tỉ USD.... Cuộc cách mạng công nghệ thông tin hiện nay phá vỡ rào cản địa lý hành chính giữa các quốc gia với nhau, mọi người có thể tiếp cận được mọi thông tin về sản xuất kinh doanh trên qui mô toàn cầu. Thêm vào đó quá trình liên kết giữa các quốc gia giữa các vùng đã xóa bỏ những hàng rào ngăn cản sự xâm nhập hàng hoá, tư bản - vốn, tri thức, công nghệ... giữa các quốc gia với nhau tạo nên một thị trường với qui mô không còn là một quốc gia mà bao trùm nhiều quốc gia. Chính quá trình hội nhập vào xu thế toàn cầu đã góp phần thúc đẩy nhanh các công ty xích lại gần nhau. Làn sóng sáp nhập mua lại không còn phạm vi từng quốc gia mà trên phạm vi nhiều quốc gia, không còn từng ngành riêng lẻ mà có xu hướng đa ngành. Sự sáp nhập đã giúp các tập đoàn kinh tế giảm bớt chi phí sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ cung cấp sản phẩm cho khách hàng. Hiện tượng sáp nhập và mua lại không còn là đơn thuần là sự thôn tính lẫn nhau mà còn mang dáng dấp của một xu hướng liên kết hợp tác với nhau để sử dụng hiệu quả các nguồn lực của xã hội trên qui mô toàn cầu. Trong xu hướng toàn cầu hóa hiện nay, làn sóng sáp nhập và mua lại ngày càng phát triển mạnh mẽ đã làm thay đổi tương quan cạnh tranh buộc các công ty khác muốn đương đầu được với các công ty này cũng phải tìm cách liên kết với công ty để nâng cao sức mạnh cạnh tranh của mình. Tình hình này khiến cho việc cạnh tranh quốc tế ngày càng khốc liệt hơn.
Xu hướng thứ tư, sự lớn mạnh của nền kinh tế Trung Quốc và sự ủng hộ mạnh mẽ của mạng lưới kinh tế và tri thức của người Hoa ở hải ngoại sẽ đưa Trung Quốc trở thành cường quốc kinh tế mạnh trên thế giới, tạo thế cân bằng mới trong tương quan kinh tế Đông Tây.
Sự kiện tốc độ phát triển kinh tế cao của Trung Quốc sau công cuộc cải cách kinh tế được khởi xướng từ cuối thập niên 70 được xem là biến cố quan trọng nhất trên thế giới hiện nay. Trong sáu tháng đầu năm 2001, tổng thương vụ giữa Nhật và Trung Quốc đã lên đến 43,7 tỉ USD, tăng 13 % so năm 2000. Trong đó cán cân đã lệch hẳn về phía Trung Quốc với con số thâm thủng về phía Nhật lên đến 12,6 tỉ USD.
Với bản sắc dân tộc và ảnh hưởng của tư tưởng Khổng tử những người Hoa xa xứ cũng không quên cội nguồn của mình. Chính vì vậy, với cộng đồng hơn 50 triệu người Hoa sống rải rác khắp nơi trên thế giới cũng được lôi kéo về Trung Quốc. Sự thành công đáng ngạc nhiên của người Hoa ở khắp nơi trên thế giới sẽ là nguồn lực đáng kể đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế Trung Quốc. Người Hoa ở hải ngoại đã kiếm soát được hầu hết các ngành công nghiệp và dịch vụ như ở Malaysia cộng đồng người Hoa chiếm 30 % dân số, kiểm soát hơn phân nửa nền kinh tế nước này; Indonesia : 4 % dân số, kiểm soát 70 % nền kinh tế; Thái Lan : 3 % dân số, kiểm soát 60 % nền kinh tế, Philippines : 3 % dân số, kiểm soát 70 % nền kinh tế. Lực lượng người Hoa ở hải ngoại trở thành tỉ phú ngày càng nhiều, chưa kể đến Đài Loan còn đang tách rời khỏi Trung Quốc và một nước giàu có Singapore cũng có lực lượng người Hoa đông đảo. Tất cả nguồn lực lớn lao này hội tụ lại sẽ tạo ra một thế và lực mới trong sự tương quan cạnh tranh quốc tế. Từ cuối thế kỷ 19 đến nay sự thống trị của nền kinh tế phương Tây là nhờ nắm được hầu hết các công nghệ kỹ thuật tiên tiến. Nhưng ngày nay và trong tương lai có thể sẽ không còn như vậy nữa vì hiện nay phần lớn con cháu người Hoa đã và đang chiếm giữ những vị trí quan trọng trong lĩnh vực công nghệ kỹ thuật cao ở những nước phương Tây, đây cũng chính là mối đe dọa của các nước này. Bên cạnh đó hàng năm Trung Quốc còn bỏ ra một khối lượng tiền khổng lồ để đưa lực lượng tài năng của đất nước ra nước ngoài học tập và bỏ tiền ra mua tri thức công nghệ khắp nơi trên thế giới với sự góp sức chuyển giao công nghệ của người Hoa hải ngoại. Với sự liên kết mạnh mẽ mang tính chất toàn cầu của người Hoa hải ngoại và Trung Quốc có khả năng chuyển dịch cán cân tri thức - công nghệ về Trung Quốc và một "siêu cường kinh tế" mới hình thành là một thách thức to lớn đối với các nước trong cạnh tranh quốc tế cũng như cạnh tranh trong vùng.
3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CHO VIỆT NAM
Trong một bối cảnh kinh tế thế giới đang có những chuyển biến sâu sắc trên mọi lĩnh vực. Sức mạnh toàn cầu hoá kinh tế sẽ tạo những dòng chảy về vốn, công nghệ, quản lý ... một cách mạnh mẽ. Nếu chúng ta tiếp thu và vận dụng tốt thì nền kinh tế sẽ phát triển tốt nếu chúng ta không biết tiếp thu và vận dụng tốt thì dòng chảy này giống như cơn lũ sẽ cuốn chúng ta đi. Tình hình kinh tế thế giới từ sau cuộc khủng hoảng tài chính một số nước Châu Á năm 1997 đến nay đã giúp chúng ta có một cơ hội xem xét lại nền kinh tế Việt Nam một cách tỉ mỉ và thận trọng. Việt Nam cần phải phát triển nhanh và bền vững thì mới mong đuổi kịp nền kinh tế của các nước trong vùng. Đây chính là thách thức to lớn đối với chúng ta. Vậy chúng ta cần làm gì để tránh những nguy cơ khủng hoảng kinh tế - tài chính trong tương lai và duy trì nền kinh tế vĩ mô cân bằng ổn định và phát triển nhanh.
Giải phát thứ nhất, phát triển kinh tế nông nghiệp - nông thôn.
Việt Nam với 75 % dân số sống ở nông thôn, 76,9 % số lao động xã hội; cung cấp sản phẩm thiết yếu (nông sản) cho xã hội; cung cấp lao động cho thành thị và công nghiệp; thị trường tiêu thụ sản phẩm thành thị và công nghiệp; chiếm tỷ trọng lớn trong GDP (24,3 % năm 2000). Chính vì vậy phát triển nông thôn nói chung và phát triển nông nghiệp nói riêng là vấn đề quan trọng giúp Việt Nam phát triển bền vững. Để phát triển nông nghiệp và nộng thôn chúng ta cần thực hiện những công việc sau :
Thứ nhất, đẩy mạnh tiến độ xây dựng mô hình phát triển nông thôn mới theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hợp tác hóa và dân chủ hóa mà Ban Kinh Tế Trung Ương và Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đề ra vào tháng 4/2001. Việc xây dựng mô hình phát triển nông thôn mới là một quá trình chuyển đổi căn bản chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam từ hướng cung sang hướng vào nhu cầu thị trường và xã hội. Đồng thời đảm bảo sự tham gia tối đa của người dân vào quá trình phát triển theo phương châm "dân biết, dân bàn, dân đóng góp, dân làm, dân kiểm tra, dân quản lý thành quả và dân hưởng lợi". Đây là cơ sở để phát huy nội lực, hướng vào xây dựng tính bền vững cho việc phát triển.
Thứ hai, xây dựng một cơ chế phối hợp giữa các viện, trường, chính quyền, doanh nghiệp và nông dân nhằm đảm bảo cho quá trình chuyển giao tri thức công nghệ mới, thông tin thị trường, chính sách phát triển…thông suốt và hiệu quả.
Thứ ba, xây dựng một trung tâm thông tin dự báo quốc gia hữu hiệu và có tác động mạnh đến xu hướng đầu tư phát triển nông nghiệp. Hiện nay, Trung tâm thông tin và xúc tiến thị trường của Bộ Nông Nghiệp – Phát triển Nông nghiệp đã góp phần vào cung cấp thông tin nhưng chưa thực sự tác động đến xu hướng đầu tư trong nông nghiệp. Nên chăng có thể phối hợp giữa 2 Trường cán bộ quản lý nông nghiệp – phát triển nông thôn, Viện Kinh tế nông nghiệp và Trung tâm thông tin và xúc tiến thị trường của Bộ để đẩy mạnh công tác thông tin và xúc tiến thị trường.

Giải pháp thứ hai, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp có hoạt động hiệu quả thì nền kinh tế mới vững mạnh được. Nếu trong nền kinh tế toàn những công ty yếu kém sản xuất ra sản phẩm không tiêu thụ được, không đủ sức cạnh tranh thì trước sau gì cũng dẫn đến tình trạng khủng hoảng kinh tế do phá sản tăng, thất nghiệp tăng, tổng cầu giảm. Để nâng cao hiệu quả hoạt động doanh nghiệp Việt Nam cần phải thực hiện những biện pháp sau :
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện công cuộc cải cách doanh nghiệp nhà nước thông qua hình thức cổ phần hóa hay giao, bán, khoán cho thuê. Theo số liệu của Ban Chỉ đạo đổi mới doanh nghiệp Trung ương, từ năm 1991 đến nay qua ba đợt đổi mới và sắp xếp doanh nghiệp nhà nước số DNNN từ hơn 12.000 năm 1990 giảm còn 5.280 doanh nghiệp vào năm 2000. Tuy lượng thì giảm nhưng chất chưa tăng. Đặc biệt mô hình tổng công ty vẫn còn mang dáng dấp một liên hiệp xí nghiệp và làm ăn kém hiệu quả nhưng chiếm tỷ trọng khá lớn trong nền kinh tế (24 % tổng doanh nghiệp cả nước, 66% vốn và 61% về lao động). Chỉ tính riêng tổng công ty 91, trong 6 tháng đầu năm 2001, 12/17 tổng công ty 91 thua lỗ, trong đó TCT Cà phê 44/61 thành viên thua lỗ; TCT Lương thực Miền Nam 8 thua lỗ, 15 hòa vốn; TCT Lương thực Miền Bắc 5 thua lỗ, 7 hòa vốn….Chính vì vậy việc đa dạng hóa sở hữu và xây dựng cơ chế phù hợp gắn liền lợi ích của giám đốc vào hiệu quả hoạt động doanh nghiệp có thể là con đường tạo nên sức mạnh cho doanh nghiệp Việt Nam.
Thứ hai, nhanh chóng xây dựng Luật về chống độc quyền, chống thỏa thuận…nhằm tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh. Hiện nay Việt Nam đang cố gắng hình thành những công ty lớn để đủ sức cạnh tranh với các công ty nước ngoài. Mục tiêu rất đúng đắn nhưng cần phải xác định được hiệu quả của các tổng công ty và tránh độc quyền. Hiện nay tình trạng độc quyền của tổng công ty ở Việt Nam là biểu hiện có thực. Ngoài vấn đề độc quyền còn phải giải quyết nhiều vấn đề cạnh tranh không lành mạnh khác như đầu thầu xây dựng, mua máy móc thiết bị... Việc tạo ra môi trường pháp lý để cạnh tranh lành mạnh là điều hết sức cần thiết để Việt Nam có một nền kinh tế thị trường đích thực.
Thứ ba, tiếp tục phát huy vai trò và tác động của "Luật Doanh Nghiệp" nhằm khai thác tối đa nguồn lực của xã hội vào phát triển kinh tế đất nước, đừng vì lý do không quản lý được hay vì lý do nào khác mà đặt ra những rào cản mới làm chậm đi tiến trình phát triển xã hội.

Giải pháp thứ ba, tiếp tục đẩy mạnh cải thiện môi trường đầu tư và nâng cao hiệu quả đầu tư.
Môi trường đầu tư thông thoáng và hiệu quả đầu tư cao sẽ khuyến khích mọi người đẩy mạnh đầu tư giúp cho kinh tế đất nước tăng trưởng. Môi trường đầu tư thông thoáng không chỉ là những quyết định những luật lệ mà chính phủ ban hành mà vấn đề là phải thực thi chính sách đó như thế nào đặc biệt là cấp chính quyền địa phương. Các cơ quan nhà nước phải trở thành cơ quan cung cấp dịch vụ hỗ trợ cho các doanh nghiệp chứ không phải là cơ quan "hành" doanh nghiệp. Tâm lý của một số công chức nhà nước hiện nay là vấn đề đang quan tâm. Nếu cơ quan thuế cứ nghĩ rằng đã là doanh nghiệp thì phải trốn thuế và tìm cách xiết chặt hoạt động của họ thì chắc chắn chẳng ai dám làm ăn cả. Ngoài việc xây dựng cơ chế chính sách thông thoáng thì phải có một đội ngũ công chức nhà nước làm tròn trách nhiệm của mình thì mới tạo cho môi trường đầu tư tốt được. Ngày 25/7/2001, tại thành phố Hồ Chí Minh đã diễn ra cuộc họp sơ kết 6 tháng thực thi Luật Doanh Nghiệp, một vấn đề nổi cộm được đặt ra, đó là sự bất cập về tư duy quản lý. Luật doanh nghiệp tạo ra một bước ngoặt lịch sử trong thể chế kinh tế thế nhưng việc thi hành Luật đòi hỏi sự chuyển biến đồng bộ của toàn bộ bộ máy quản lý, từ cơ chế, chính sách đến con người công chức, thủ tục hành chính và nhất là kỷ luật, kỷ cương trong chấp hành nhiệm vụ.
Hiệu quả đầu tư thể hiện tổng hợp bằng hệ số ICOR, nếu năm 1995, 1996 là 3,1 lần thì năm 1998 lên đến 4,7 lần, năm 1999 lến đến 5,5 lần. Năm 2000 giảm xuống còn 4 lần nhưng vẫn cao hơn thời kỳ 1995-1997. Giá thành cao, năng suất lao động thấp, chất lượng kém, mẫu mã chậm thay đổi nên sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam kém là vấn đề tồn tại lớn hiện nay. Chúng ta chưa thực sự đầu tư phát triển hướng vào thị trường nên hiện tượng đầu tư tràn lan vượt quá nhu cầu thị trường, bất chấp hiệu quả như xi măng, đường ….Chính vì vậy cần phải thiết lập một cơ quan tập hợp và liên kết với các chuyên gia nhiều ngành nghề khác nhau và đủ sức thẩm định và loại bỏ những dự án xấu, tránh tình trạng vì mục tiêu phi kinh tế đã đưa những dự án xấu vào xây dựng gây lãng phí lớn cho xã hội. Ngoài ra, cần phải gắn hiệu quả đầu tư với trách nhiệm của từng con người cụ thể từ chủ đầu tư đến cơ quan thẩm định đầu tư, hạn chế tối đa phát sinh tiêu cực.

Giải pháp thứ tư, phát huy nội lực tiếp tục tăng tích lũy và tiết kiệm tiêu dùng.
Thời gian qua Việt Nam đã có nhiều nỗ lực tăng tích lũy và giảm tiêu dùng. Nếu năm 1990, tỷ lệ tích lũy trong nước chỉ có 2,9 % thì năm 1995 lến đến 18,2 % và năm 1999 lên đến 24,6%. Đồng thời tỷ lệ tiêu dùng giảm liên tục : năm 1997 là 79,9 %, năm 1998 là 78,5 % và năm 1999 chỉ còn 75,4 %. Năm 2000, tỷ lệ tích lũy có tăng lên và tỷ lệ tiêu dùng có giảm xuống, tuy nhiên tỷ lệ tích lũy trong nước của Việt Nam vẫn chưa vượt qua mức 30 %. Với hệ số ICOR như năm 2000 là 4,0 lần thì nếu tổng tỷ lệ tích lũy nói chung và tỷ lệ tích lũy trong nước nói riêng chưa đạt mức 30% thì mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2001 là 7,5% khó đạt được. Muốn vậy thì đòi hỏi sự nỗ lực rất nhiều từ nhiều phía như ngân hàng thu hút tiền tiết kiệm, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp ngoài quốc doanh làm ăn hiệu quả dành vốn tích lũy cho đầu tư và cơ chế chính sách của nhà nước tạo cho nguồn vốn trong dân được khơi thông.
Tóm lại, phát triển nhanh và bền vững trong xu hướng kinh tế hiện nay là vấn đề sống còn của bất cứ quốc gia nào trên thế giới. Trong bài viết này, chúng tôi chỉ mạn phép nhận định 4 xu hướng kinh tế đang diễn ra trên thế giới và đưa ra 4 giải pháp chủ yếu để phát triển kinh tế bền vững cho Việt Nam. Tuy nhiên do trình độ còn hạn chế cho nên có thể việc nhận định xu hướng kinh tế và giải pháp còn bất cập, thiếu chính xác.

Digital Marketing – Chìa khóa mở cửa kỷ nguyên tiếp thị hiện đại

  Trong thời đại số hóa, khi mọi tương tác, giao tiếp và quyết định mua hàng dần chuyển dịch lên môi trường trực tuyến, Digital Marketing ( ...