Chủ Nhật, 21 tháng 10, 2007

Khai giảng lớp CEO 19 tại Công ty lương thực Đồng Thápdoanh nghiệp


Ngày 15/9/2007, Trường cán bộ quản lý nông nghiệp và PTNT II tổ chức lễ khai giảng lớp Đào tạo giám đốc doanh nghiệp khóa 19 tại Công ty lương thực Đồng Tháp. Đến dự lễ khai giảng có ông Nguyễn Hữu Thành - Giám đốc Công ty lương thực Đồng Tháp và ông Nguyễn Thắng - Hiệu trưởng trường cán bộ quản lý nông nghiệp và PTNT II.

Đường nào nông sản vào siêu thị

Thứ Sáu, 21 tháng 9, 2007

The brand of Clinton

Chính sách đất đai

MỘT SỐ GIẢI PHÁP VỀ CHÍNH SÁCH ĐẤT ĐAI NHẰM THÚC ĐẨY QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP
ThS. Bảo Trung

Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu của sản xuất nông nghiệp. Để nông nghiệp có thể phát triển được đòi hỏi nhà nước cần có chính sách đất đai phù hợp. Nông nghiệp nước ta trong thời gian qua đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể tuy nhiên do đất đai phân tán manh mún và chính sách đất đai còn nhiều bất cập nên việc phát triển còn một số hạn chế. Ví dụ như sản xuất theo hợp đồng sẽ khó thực hiện nếu mỗi nông dân chỉ có mãnh đất nhỏ. Các nhà máy chế biến sẽ khó hoạt động khi không có vùng chuyên canh sản xuất hàng hóa lớn… Chính vì vậy, để nông nghiệp phát triển, Việt nam cần phải thay đổi một số chính sách đất đai. Bài viết này đề xuất một số giải pháp về chính sách đất đai nhằm thúc đẩy nông nghiệp phát triển như sau:

1. Chính sách thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung đất đai.
Nhà nước cần xây dựng một chính sách đất đai hợp lý để đảm bảo người chủ trang trại đạt được 2 chỉ tiêu sử dụng đất là chỉ tiêu quy mô sử dụng đất đai tối ưu và chỉ tiêu quy mô đất đai có thể làm giàu được.
Đối với chỉ tiêu quy mô đất đai tối ưu, nhà nước cần có chính sách đảm bảo cho những người kinh doanh giỏi, có đủ điều kiện cơ sở vật chất sử dụng hiệu quả tài nguyên đất đai. Tuy nhiên điều này không có nghĩa quy mô càng lớn càng tốt. Theo nghiên cứu của Lau và Yotopoulos (1971), “họ đã so sánh hiệu quả sản xuất của nông trại nhỏ (dưới 10 mẫu Anh # 4 ha) với những nông trại quy mô lớn ở An Độ vào thời kỳ 1955-1957. Họ chứng minh rằng nông trại nhỏ đạt hiệu quả kinh tế hơn nông trại lớn nhưng có cùng hiệu quả phân phối như nhau. Vậy điều thuận lợi của nông trại nhỏ là hiệu quả kỹ thuật lớn hơn”[1]. Hiệu quả kỹ thuật lớn hơn có nghĩa là nông trại nhỏ sử dụng đầu vào tối ưu. Điều này cũng đúng với quan điểm quản lý hiện đại “Small is beautiful” (nhỏ thì đẹp).
Đối với chỉ tiêu quy mô đất đai có thể làm giàu của trang trại, nhà nước cần có chính sách hợp lý để các hộ nông dân với diện tích đất đai nhỏ có khả năng tích tụ ruộng đất đảm bảo đạt được quy mô tối thiểu. Nông dân Việt Nam còn nghèo chính là do đất đai quá ít. “Hiện nay, bình quân diện tích đất canh tác của một lao động nông nghiệp ở châu Au là 17 ha, châu Mỹ khoảng 45-50 ha, khu vực châu Á-Thái Bình Dương khoảng 4-4,5 ha, trong khi đó ở nước ta chỉ khoảng 0,3 ha”[2]. Với diện tích 0,3 ha/lao động, người nông dân không thể làm đủ ăn, chứ không nói đến chuyện là giàu được. Điều này đòi hỏi các nhà hoạch định chính sách đất đai nông nghiệp phải thay đổi nhận thức về vấn đề “người cày có ruộng”.
Để trang trại có thể đạt được hai chỉ tiêu nói trên, Nhà nước cần phải hoàn thiện chính sách đất đai nhằm thúc đẩy quá trình tập trung và tích tụ đất đai. Một số biện pháp cụ thể như sau:
Thứ nhất, tạo điều kiện cho thị trường đất đai được hoạt động thuận lợi. Thị trường đất đai là rất cần thiết. Nó giúp cho chủ trang trại vượt qua những khó khăn về sự phân tán đất đai và tối ưu hóa quy mô trang trại. Thực tiễn quá trình phát triển của nhiều nước trên thế giới bao giờ cũng diễn ra quá trình tập trung và tích tụ ruộng đất. Một số ý kiến cho rằng quá trình tích tụ và tập trung đất đai có thể dẫn đến tình trạng một số nông dân bị mất đất và nghèo đói, nhưng điều này không mấy thuyết phục. Theo nghiên cứu 6.000 hộ nông dân của Nicholas Minott và cộng sự năm 2003 chỉ ra rằng tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp lại có quan hệ thuận với tỷ lệ nghèo đói. Kết quả này đã chứng tỏ rằng không phải tất cả nông dân không đất là nghèo. “Khoảng 20% số nông dân không đất ở ĐBSCL đã chủ động nhượng đất cho các hộ khác để đi làm thuê hày làm ngành nghề, dịch vụ phi nông nghiệp” [3]. Nếu thị trường đất đai nông nghiệp hoạt động thuận lợi thì số người bán đất để làm thuê hoặc sinh sống bằng nghề khác gia tăng. Điều này sẽ tạo điều kiện cho một số chủ trang trại giải quyết bài toán đất đai cho mình. Lúc này giá đất sẽ phản ánh đúng giá trị đất, người chủ trang trại buộc lòng phải sử dụng đất nông nghiệp làm sao mang lại hiệu quả cao nhất.
Thứ hai, phải giải quyết bài toán nhập nhằng giữa “Giao đất không thu tiền sử dụng đất”, “Giao đất có thu tiền sử dụng đất” và “Cho thuê đất” (Điều 33, Điều 34, Điều 35, Luật Đất Đai năm 2004). Mặc dù chính sách này đã có nhiều tiến bộ hơn trước nhưng thực tế rất khó kiểm soát được sự rạch ròi giữa 3 hình thức này.

2. Xây dựng tiêu chuẩn tổ chức, cá nhân được giao đất, thuê đất, chuyển quyền sử dụng đất và thừa kế đất nông nghiệp
Nhà nước cần xác định tiêu chuẩn tổ chức, cá nhân đủ điều kiện được giao đất, cho thuê đất, chuyển quyền sử dụng đất và thừa kế đất đai nông nghiệp. Tiêu chuẩn này cần phải căn cứ vào năng lực của người được giao, thuê đất được nhận chuyển quyền sử dụng đất và thừa kế đất nông nghiệp. Người này phải có đủ kiến thức về kỹ thuật nông nghiệp và quản lý nông nghiệp. Trong trường hợp thừa kế đất đai nếu người được thừa kế không đủ tiêu chuẩn làm nông nghiệp thì tiến hành bán đấu giá đất nông nghiệp và sau khi nộp các khoản thuế và phí theo quy định, số tiền còn lại được giao lại cho người được thừa kế. Trong trường hợp các thành viên trong gia đình đều đủ điều kiện thừa kế đất đai nông nghiệp, nhưng do diện tích nếu chia ra sẽ thấp hơn quy mô đất đai có thể làm giàu của trang trại thì nhà nước có chính sách khuyến khích giao cho một người quản lý, còn những người khác nhà nước sẽ giao đất nơi khác để canh tác.
Nhà nước cần xây dựng chính sách khuyến khích những thanh niên trẻ có đủ năng lực nhận đất hoặc thuê đất để tổ chức sản xuất nông nghiệp. Nhà nước cần hạn chế dần việc giao đất, cho thuê đất đối với cán bộ về hưu, người lớn tuổi.
3. Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp phải xuất phát từ tín hiệu của thị trường
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp có vai trò rất quan trọng trong việc hoạch định chính sách quản lý sử dụng đất, là công cụ không thể thiếu trong công tác quản lý sử dụng đất nông nghiệp, bảo đảm cho quyền quản lý của Nhà nước không ảnh hưởng đến quyền tự chủ bố trí sản xuất của người sử dụng, tránh được tình trạng phát triển tự phát gây hậu quả xấu trong sử dụng đất, vừa khó khắc phục những thiệt hại lớn về kinh tế cho xã hội. Thời gian qua chúng ta quy hoạch rất nhiều vùng đất trồng lúa nhưng việc trồng lúa không mang lại hiệu quả cho người nông dân. Ở một số nơi HTX kiểu cũ phát triển khá mạnh trong giai đoạn trước như tỉnh Bình Định, Khánh Hòa (theo điều tra thực tế của tác giả năm 2003) việc lựa chọn cây trồng, vật nuôi thường do HTX hoặc phòng Nông nghiệp huyện quyết định để đạt được mục tiêu sản xuất do bên trên xác định. Điều này không kích thích nông dân và hạn chế nỗ lực của họ trong tối đa hóa mục tiêu của họ phù hợp với nhu cầu, khả năng kinh tế – xã hội và nhu cầu thị trường. Những lựa chọn cây trồng, vật nuôi do người ngoài quyết định sẽ có thể dẫn đến rủi ro về thị trường. Nếu nhà nước cứng nhắc trong việc quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thì việc sử dụng đất đai sẽ không mang lại hiệu quả cho người chủ trang trại. Trong mục 2 và 3, điều 21 “Nguyên tắc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất” của Luật Đất Đai năm 2004 có nêu :
“Việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải bảo đảm các nguyên tắc sau đây:
2. … , quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp dưới phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp trên; kế hoạch sử dụng đất phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, xét duyệt;
3. Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp trên phải thể hiện nhu cầu sử dụng đất của cấp dưới;”
Hai mục nêu trên khi đưa vào thực tế có thể xảy ra tình trạng quy hoạch, kế hoạch của cấp trên làm trước, sau đó buộc cấp dưới phải cho rằng nó thể hiện nhu cầu của mình.
Ngoài ra trong Luật Đất Đai năm 2004, từ Điều 21 đến Điều 30, còn nêu các vấn đề khác như căn cứ, nội dung, kỳ hạn, điều chỉnh và việc phân cấp lập, phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, nhưng vẫn chưa rõ xuất phát điểm của việc quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là từ tín hiệu thị trường. Vấn đề quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất, đặc biệt đất nông nghiệp là vấn đề khó khăn, đòi hỏi có sự tham gia của tất cả các bên liên quan, trong đó có nông dân. Việc quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp chỉ nên mang tính định hướng, mang tính chiến lược và phải được làm từ dưới lên thay vì làm từ trên xuống.
Tóm lại, chính sách đất đai cần phải điều chỉnh cho phù hợp để thúc đẩy nông nghiệp phát triển. Chính sách này cần phải thúc đẩy được quá trình tích tụ và tập trung đất đai. Đất đai cần phải giao cho những người có khả năng khai thác hiệu quả nhất và việc quy hoạch đất đai phải xuất phát từ tín hiệu thị trường.



[1] David Colman và Trevor Young, Nguyên lý kinh tế nông nghiệp, Nhà Xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, 1994, trang 67
[2] PGS.TS Hoàng Việt, Vấn đề sở hữu ruộng đất trong nền kinh tế thị trường nhiều thành phần ở Việt Nam, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia, 1999, trang 76.
[3] PGS. TS. Đỗ Kim Chung, Tài nguyên đất nông thôn và vấn đề nghèo đói ở Việt Nam, Hội thảo về Chính sách đất đai và Phát triển nông nghiệp Việt Nam, 25-26/2/2004.

Chủ Nhật, 9 tháng 9, 2007

Brand vision to action


Brand Vision to Action


From: wheresthesausage, 10 months ago





How we help teams create an inspiring vision and the action plans to turn this into growth

21st century marketing


21st Century Marketing


From: dreamforce2006, 11 months ago





What's the key to unprecedented marketing success in an on-demand world? In this Google era, your prospects and customers get information, make decisions, and communicate in an entirely new way. Which means you need new ways to catch their eyes and their business. Don't get left behind! Attend this session to learn the secrets of marketing and differentiating your company in the 21st century.

Thứ Tư, 5 tháng 9, 2007

PR Theory Basics


PR 313 - Public Relations Theory


From: Brett509, 6 months ago





This lecture focuses on various theories of persuasion used in public relations practices.

Thứ Năm, 30 tháng 8, 2007

Xu hướng kinh tế thế giới


NHẬN ĐỊNH XU HƯỚNG KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ BỀN VỮNG CHO VIỆT NAM


  1. LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời đại ngày nay có lẽ không có một quốc gia nào trên thế giới có thể phát triển độc lập, không có mối liên hệ nào với các quốc gia khác. Sự phát triển kinh tế của một quốc gia không những phụ thuộc nào chính sách kinh tế và phương thức điều hành kinh tế của chính phủ đó mà còn phụ thuộc rất lớn đến sự phát triển kinh tế của quốc gia khác. Đặc biệt là các nước đầu tàu nhập khẩu hàng hóa khắp nơi trên thế giới như Mỹ, Nhật và Châu Au. Ví dụ như mức tăng trưởng GDP của Singapore năm 2000 là 9,9 % nhưng đến tháng 4/2001 giảm còn 3,5 %; tháng 7 giảm 0,5%; và theo dự đoán của Golman Sachs thì nền kinh tế Singapore năm 2001 có thể suy thoái 0,3% (GDP = -0,3%). Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là do cơn sốt "dot.com" của thị trường Mỹ lụn tắt dẫn đến kim ngạch xuất khẩu điện tử của Singapore giảm mạnh.

Mục tiêu của hầu hết của các chính phủ là làm sao duy trì được nền kinh tế tăng trưởng nhanh và bền vững. Đối với những quốc gia đang phát triển hay những quốc gia đang trong quá trình chuyển đổi như Việt Nam, Trung Quốc hay Đông Au, vấn đề tăng trưởng và ổn định là vấn đề sống còn của các quốc gia này. Việc tìm ra con đường để phát triển nhanh và bền vững là công việc đầy khó khăn và trắc trở đối với các nhà lãnh đạo mà những giải pháp này thường không thể thử nghiệm được. Chính vì vậy nếu không xem xét tỉ mỉ và thận trọng toàn bộ các vấn đề thì các chính sách và giải pháp đưa ra sẽ không giúp cho đất nước phát triển nhanh và bền vững mà có thể đưa quốc gia đi đến cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng.
Qua theo dõi nền kinh tế thế giới và nền kinh tế Việt Nam trong những năm cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, chúng tôi nhận định về một số xu hướng kinh tế thế giới và khu vực trong những năm sắp tới và đưa ra một số giải pháp phát triển kinh tế bền vững cho Việt Nam. Tuy nhiên những giải pháp này chỉ là suy nghĩ của cá nhân chắc chắn chưa thể đầy đủ và chính xác.
2. NHẬN ĐỊNH XU HƯỚNG KINH TẾ THẾ GIỚI
Theo đánh giá một số chuyên gia kinh tế thế giới thế kỷ 21, cục diện kinh tế thế giới sẽ thay đổi nhanh chóng và sâu sắc, khác với những gì đã diễn ra trong thế kỷ 20. Việc nhận định những xu hướng kinh tế thế giới nhằm nhận thức được viễn cảnh thách thức và cơ hội mới cho Việt Nam để có những giải pháp hữu hiệu đón đầu những thời cơ, tránh nguy cơ đưa đất nước thoát ra khỏi cảnh nghèo khó, hòa mình vào sự thịnh vượng chung của nền kinh tế toàn cầu. Sau đây, chúng tôi xin nêu nhận định một số xu hướng kinh tế như sau :
Xu hướng thứ nhất, nền kinh tế thế giới sẽ hoàn thiện việc hội nhập vào đầu thế kỷ 21.
Nhiều chuyên gia trên thế giới cho rằng xu hướng toàn cầu hoá là điều tất yếu trong thế kỷ 21. Chúng ta đang sống vào thời đại mà cục diện thế giới đã thay đổi nhanh chóng và sâu sắc theo xu hướng đa cực. Nền kinh tế thế giới hiện nay mang tính phụ thuộc, liên đới lẫn nhau rất mạnh mẽ. Ngày nay và tương lai một quốc gia không thể vận động một cách độc lập, không còn có những ốc đảo kinh tế biệt lập mà nền kinh tế mỗi quốc gia sẽ hoà nhập vào thể chế kinh tế toàn cầu, chịu ảnh hưởng và những tác động chung của nền kinh tế toàn cầu. Như chúng ta đã biết đồng Euro chính thức đi vào thị trường kể từ ngày 1-1-1999 bao trùm lên cả một khu vực kinh tế giàu có của thế giới hiện nay. Trong tương lai không xa nếu đồng tiền chung châu Au thành công sẽ cho phép chúng ta có thể nghĩ đến những đồng tiền chung như đồng tiền chung Đông Á, châu Á, châu phi, hay Mỹ La-tin, cũng có thể là đồng tiền chung toàn cầu. Dĩ nhiên tốc độ thiết lập sẽ nhanh chóng hơn và hoàn thiện hơn. Xu hướng toàn cầu hóa còn thể hiện qua sự liên kết thương mại khu vực, vùng đang hình thành khắp nơi trên thế giới như khu vực mậu dịch tự do các nước Asean (AFTA), hay khu vực Bắc Mỹ (NAFTA), diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) hay vào năm 1999, 48 nhà lãnh đạo EU và châu Mỹ La-tin đã ký hiệp ước liên kết xuyên đại Tây Dương (EU-Mercosur). Sự liên kết khu vực dần dần sẽ tiến tới loại bỏ sự hạn chế trong sự dịch chuyển hàng hoá, dịch vụ, tri thức, công nghệ....từng khu vực và lan tỏa ra phạm vi khắp toàn cầu. Toàn cầu hóa là một xu hướng tất yếu nhưng vẫn còn lắm chông gai trên con đường hoàn thiện. Liệu các vấn đề liên quan đến sắc tộc, tôn giáo hay chính trị có ngăn cản đà toàn cầu hóa không thì chưa thể xác định chắc chắn được nhưng sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và công nghệ có thể đè bẹp mọi thế lực gây cản trở xu hướng toàn cầu hóa và như vậy chúng ta có thể sống trong một môi trường kinh tế đồng nhất trên hành tinh.
Xu hướng thứ hai, sự bùng nổ kỹ thuật tin học, công nghệ thông tin, đặc biệt thương mại điện tử và Internet sẽ phá vỡ những lối kinh doanh truyền thống, giúp người tiêu dùng có thể tiếp cận dễ dàng với những sản phẩm mới, những tri thức và công nghệ mới một cách nhanh chóng với chi phí thấp nhất cho dù các công ty "dot.com" đang lâm vào tình trạng khó khăn hiện nay, nhưng xu hướng này là tất yếu.
Sự sáng tạo vĩ đại của một số nhà kỹ trị trên thế giới chính là tìm ra những sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu tiềm năng trên thị trường. Trong thập niên 50-60, có lẽ không có ai nghĩ rằng máy tính sẽ được trang bị đến từng công ty, xí nghiệp, hộ gia đình như ngày nay. Ngay cả người sáng lập ra công ty IBM, Thomas J. Watson, Sr. cũng đã từng tiên đoán rằng nhu cầu máy tính xử lý số liệu sẽ không quá 50 chiếc và sau đó máy tính cá nhân cũng bị nhiều người đả phá, nhưng thực tế như thế nào thì ai cũng biết. Trường hợp khác là hãng Sony của Nhật đã phát minh ra máy Walkman và rất thành công trên khắp thế giới mặc dù trước đó chưa ai thấy được sản phẩm như vậy trên thị trường. Ở đây chúng tôi trình bày ví dụ này để nói lên một điều rằng người tiêu dùng có nhu cầu rất lớn những sản phẩm tiềm ẩn kỹ thuật mà chưa được phát hiện. Những sản phẩm này không thể thực hiện cuộc nghiên cứu thị trường khi mà người tiêu dùng chưa hề biết nó. Tuy nhiên sự sáng tạo của các nhà kỹ thuật không phải lúc nào cũng thành công mà họ phải sản xuất thử nghiệm nhiều cái thậm chí hàng trăm và hàng ngàn cái mới có một cái thành công. Ngày nay, nhờ công cụ máy tính chúng ta có thể nghiên cứu, thiết kế, mô phỏng và giới thiệu trước công chúng trên phương tiện máy vi tính nếu được chấp nhận thì có thể đưa vào sản xuất thử và như thế có thể giảm thiểu rất nhiều rủi ro và chi phí. Như vậy kỹ thuật tin học đã giúp tìm kiếm những sản phẩm mới nhanh chóng hơn, rẻ hơn và người tiêu dùng có thể biết được những sản phẩm nào sắp sửa được tung ra trên thị trường. Đối với vấn đề thông tin, ngày nay sự trở ngại ngôn ngữ không còn là vấn đề không thể khắc phục được. Nếu chịu khó thì bất cứ ai cũng có thể thuần thục một hay vài ngoại ngữ phổ biến trên thế giới, đặc biệt là tiếng Anh. Chưa kể đến tình trạng con người đa chủng tộc, đa văn hóa đang phát triển mạnh mẽ trong xu thế hội nhập toàn cầu. Một người sinh ra tại Hà Lan, sang Pháp học tiểu học, đi Mỹ học đại học, ra trường làm việc cho một công ty Mỹ có trụ sở tại Nam Phi, lấy chồng (lấy vợ) người Trung Quốc. Chính thời đại thông tin đã đưa mọi người tiến lại gần nhau. Cách thức tiếp cận thông tin từng địa điểm cụ thể đã bị phá vỡ bằng những ngân hàng dữ liệu, con người mua bán với nhau không cần gặp mặt nhau. Ở Việt Nam có thể nghiên cứu xem xét một sản phẩm nào đó trên thế giới qua mạng Internet. Công nghệ thông tin ngày nay đã giúp người ta giao thương toàn cầu mà không gặp trở ngại nào về không gian, thời gian. Xu hướng kinh tế trên mạng Internet sẽ trở thành hiện thực đối với bất cứ ai ở trên hành tinh này.
Xu hướng thứ ba, làn sóng sáp nhập và mua lại công ty tạo nên thế lực cạnh tranh mới trên thương trường quốc tế.
Kể từ năm 1996 đến nay chúng ta đã chứng kiến nhiều vụ sáp nhập và mua lại với trị giá hàng tỉ USD tạo nên những công ty khổng lồ trên khắp thế giới. Mua bán, sáp nhập đang trở thành một xu hướng tất yếu với qui mô ngày càng gia tăng, phạm vi ngày càng lớn. Năm 1996, trên toàn thế giới có 22.729 vụ sáp nhập với mức giao dịch là 1.140 tỉ USD tăng 32 % so năm 1995. Năm 1997, vụ sáp nhập lớn nhất trong lịch sử của 6 hãng hàng không quốc gia trên thế giới thành một công ty hàng không tên gọi là Star Alliance với tổng số máy bay 1.455 chiếc, vận chuyển 185,7 triệu hành khách mỗi năm. Năm 1998, làn sóng sáp nhập và mua lại ồ ạt giữa các tập đoàn công nghiệp, tài chính, ngân hàng hàng đầu trên thế giới như vụ sáp nhập giữa BP của Anh và Amoco của Mỹ với giá trị giao dịch 48,2 tỉ, tổng tài sản 110 tỉ USD; vụ sáp nhập giữa Chrysler của Mỹ với Daimler-Benz của Đức với giá trị giao dịch là 35 tỉ USD.... Cuộc cách mạng công nghệ thông tin hiện nay phá vỡ rào cản địa lý hành chính giữa các quốc gia với nhau, mọi người có thể tiếp cận được mọi thông tin về sản xuất kinh doanh trên qui mô toàn cầu. Thêm vào đó quá trình liên kết giữa các quốc gia giữa các vùng đã xóa bỏ những hàng rào ngăn cản sự xâm nhập hàng hoá, tư bản - vốn, tri thức, công nghệ... giữa các quốc gia với nhau tạo nên một thị trường với qui mô không còn là một quốc gia mà bao trùm nhiều quốc gia. Chính quá trình hội nhập vào xu thế toàn cầu đã góp phần thúc đẩy nhanh các công ty xích lại gần nhau. Làn sóng sáp nhập mua lại không còn phạm vi từng quốc gia mà trên phạm vi nhiều quốc gia, không còn từng ngành riêng lẻ mà có xu hướng đa ngành. Sự sáp nhập đã giúp các tập đoàn kinh tế giảm bớt chi phí sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ cung cấp sản phẩm cho khách hàng. Hiện tượng sáp nhập và mua lại không còn là đơn thuần là sự thôn tính lẫn nhau mà còn mang dáng dấp của một xu hướng liên kết hợp tác với nhau để sử dụng hiệu quả các nguồn lực của xã hội trên qui mô toàn cầu. Trong xu hướng toàn cầu hóa hiện nay, làn sóng sáp nhập và mua lại ngày càng phát triển mạnh mẽ đã làm thay đổi tương quan cạnh tranh buộc các công ty khác muốn đương đầu được với các công ty này cũng phải tìm cách liên kết với công ty để nâng cao sức mạnh cạnh tranh của mình. Tình hình này khiến cho việc cạnh tranh quốc tế ngày càng khốc liệt hơn.
Xu hướng thứ tư, sự lớn mạnh của nền kinh tế Trung Quốc và sự ủng hộ mạnh mẽ của mạng lưới kinh tế và tri thức của người Hoa ở hải ngoại sẽ đưa Trung Quốc trở thành cường quốc kinh tế mạnh trên thế giới, tạo thế cân bằng mới trong tương quan kinh tế Đông Tây.
Sự kiện tốc độ phát triển kinh tế cao của Trung Quốc sau công cuộc cải cách kinh tế được khởi xướng từ cuối thập niên 70 được xem là biến cố quan trọng nhất trên thế giới hiện nay. Trong sáu tháng đầu năm 2001, tổng thương vụ giữa Nhật và Trung Quốc đã lên đến 43,7 tỉ USD, tăng 13 % so năm 2000. Trong đó cán cân đã lệch hẳn về phía Trung Quốc với con số thâm thủng về phía Nhật lên đến 12,6 tỉ USD.
Với bản sắc dân tộc và ảnh hưởng của tư tưởng Khổng tử những người Hoa xa xứ cũng không quên cội nguồn của mình. Chính vì vậy, với cộng đồng hơn 50 triệu người Hoa sống rải rác khắp nơi trên thế giới cũng được lôi kéo về Trung Quốc. Sự thành công đáng ngạc nhiên của người Hoa ở khắp nơi trên thế giới sẽ là nguồn lực đáng kể đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế Trung Quốc. Người Hoa ở hải ngoại đã kiếm soát được hầu hết các ngành công nghiệp và dịch vụ như ở Malaysia cộng đồng người Hoa chiếm 30 % dân số, kiểm soát hơn phân nửa nền kinh tế nước này; Indonesia : 4 % dân số, kiểm soát 70 % nền kinh tế; Thái Lan : 3 % dân số, kiểm soát 60 % nền kinh tế, Philippines : 3 % dân số, kiểm soát 70 % nền kinh tế. Lực lượng người Hoa ở hải ngoại trở thành tỉ phú ngày càng nhiều, chưa kể đến Đài Loan còn đang tách rời khỏi Trung Quốc và một nước giàu có Singapore cũng có lực lượng người Hoa đông đảo. Tất cả nguồn lực lớn lao này hội tụ lại sẽ tạo ra một thế và lực mới trong sự tương quan cạnh tranh quốc tế. Từ cuối thế kỷ 19 đến nay sự thống trị của nền kinh tế phương Tây là nhờ nắm được hầu hết các công nghệ kỹ thuật tiên tiến. Nhưng ngày nay và trong tương lai có thể sẽ không còn như vậy nữa vì hiện nay phần lớn con cháu người Hoa đã và đang chiếm giữ những vị trí quan trọng trong lĩnh vực công nghệ kỹ thuật cao ở những nước phương Tây, đây cũng chính là mối đe dọa của các nước này. Bên cạnh đó hàng năm Trung Quốc còn bỏ ra một khối lượng tiền khổng lồ để đưa lực lượng tài năng của đất nước ra nước ngoài học tập và bỏ tiền ra mua tri thức công nghệ khắp nơi trên thế giới với sự góp sức chuyển giao công nghệ của người Hoa hải ngoại. Với sự liên kết mạnh mẽ mang tính chất toàn cầu của người Hoa hải ngoại và Trung Quốc có khả năng chuyển dịch cán cân tri thức - công nghệ về Trung Quốc và một "siêu cường kinh tế" mới hình thành là một thách thức to lớn đối với các nước trong cạnh tranh quốc tế cũng như cạnh tranh trong vùng.
3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CHO VIỆT NAM
Trong một bối cảnh kinh tế thế giới đang có những chuyển biến sâu sắc trên mọi lĩnh vực. Sức mạnh toàn cầu hoá kinh tế sẽ tạo những dòng chảy về vốn, công nghệ, quản lý ... một cách mạnh mẽ. Nếu chúng ta tiếp thu và vận dụng tốt thì nền kinh tế sẽ phát triển tốt nếu chúng ta không biết tiếp thu và vận dụng tốt thì dòng chảy này giống như cơn lũ sẽ cuốn chúng ta đi. Tình hình kinh tế thế giới từ sau cuộc khủng hoảng tài chính một số nước Châu Á năm 1997 đến nay đã giúp chúng ta có một cơ hội xem xét lại nền kinh tế Việt Nam một cách tỉ mỉ và thận trọng. Việt Nam cần phải phát triển nhanh và bền vững thì mới mong đuổi kịp nền kinh tế của các nước trong vùng. Đây chính là thách thức to lớn đối với chúng ta. Vậy chúng ta cần làm gì để tránh những nguy cơ khủng hoảng kinh tế - tài chính trong tương lai và duy trì nền kinh tế vĩ mô cân bằng ổn định và phát triển nhanh.
Giải phát thứ nhất, phát triển kinh tế nông nghiệp - nông thôn.
Việt Nam với 75 % dân số sống ở nông thôn, 76,9 % số lao động xã hội; cung cấp sản phẩm thiết yếu (nông sản) cho xã hội; cung cấp lao động cho thành thị và công nghiệp; thị trường tiêu thụ sản phẩm thành thị và công nghiệp; chiếm tỷ trọng lớn trong GDP (24,3 % năm 2000). Chính vì vậy phát triển nông thôn nói chung và phát triển nông nghiệp nói riêng là vấn đề quan trọng giúp Việt Nam phát triển bền vững. Để phát triển nông nghiệp và nộng thôn chúng ta cần thực hiện những công việc sau :
Thứ nhất, đẩy mạnh tiến độ xây dựng mô hình phát triển nông thôn mới theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hợp tác hóa và dân chủ hóa mà Ban Kinh Tế Trung Ương và Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đề ra vào tháng 4/2001. Việc xây dựng mô hình phát triển nông thôn mới là một quá trình chuyển đổi căn bản chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam từ hướng cung sang hướng vào nhu cầu thị trường và xã hội. Đồng thời đảm bảo sự tham gia tối đa của người dân vào quá trình phát triển theo phương châm "dân biết, dân bàn, dân đóng góp, dân làm, dân kiểm tra, dân quản lý thành quả và dân hưởng lợi". Đây là cơ sở để phát huy nội lực, hướng vào xây dựng tính bền vững cho việc phát triển.
Thứ hai, xây dựng một cơ chế phối hợp giữa các viện, trường, chính quyền, doanh nghiệp và nông dân nhằm đảm bảo cho quá trình chuyển giao tri thức công nghệ mới, thông tin thị trường, chính sách phát triển…thông suốt và hiệu quả.
Thứ ba, xây dựng một trung tâm thông tin dự báo quốc gia hữu hiệu và có tác động mạnh đến xu hướng đầu tư phát triển nông nghiệp. Hiện nay, Trung tâm thông tin và xúc tiến thị trường của Bộ Nông Nghiệp – Phát triển Nông nghiệp đã góp phần vào cung cấp thông tin nhưng chưa thực sự tác động đến xu hướng đầu tư trong nông nghiệp. Nên chăng có thể phối hợp giữa 2 Trường cán bộ quản lý nông nghiệp – phát triển nông thôn, Viện Kinh tế nông nghiệp và Trung tâm thông tin và xúc tiến thị trường của Bộ để đẩy mạnh công tác thông tin và xúc tiến thị trường.

Giải pháp thứ hai, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp có hoạt động hiệu quả thì nền kinh tế mới vững mạnh được. Nếu trong nền kinh tế toàn những công ty yếu kém sản xuất ra sản phẩm không tiêu thụ được, không đủ sức cạnh tranh thì trước sau gì cũng dẫn đến tình trạng khủng hoảng kinh tế do phá sản tăng, thất nghiệp tăng, tổng cầu giảm. Để nâng cao hiệu quả hoạt động doanh nghiệp Việt Nam cần phải thực hiện những biện pháp sau :
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện công cuộc cải cách doanh nghiệp nhà nước thông qua hình thức cổ phần hóa hay giao, bán, khoán cho thuê. Theo số liệu của Ban Chỉ đạo đổi mới doanh nghiệp Trung ương, từ năm 1991 đến nay qua ba đợt đổi mới và sắp xếp doanh nghiệp nhà nước số DNNN từ hơn 12.000 năm 1990 giảm còn 5.280 doanh nghiệp vào năm 2000. Tuy lượng thì giảm nhưng chất chưa tăng. Đặc biệt mô hình tổng công ty vẫn còn mang dáng dấp một liên hiệp xí nghiệp và làm ăn kém hiệu quả nhưng chiếm tỷ trọng khá lớn trong nền kinh tế (24 % tổng doanh nghiệp cả nước, 66% vốn và 61% về lao động). Chỉ tính riêng tổng công ty 91, trong 6 tháng đầu năm 2001, 12/17 tổng công ty 91 thua lỗ, trong đó TCT Cà phê 44/61 thành viên thua lỗ; TCT Lương thực Miền Nam 8 thua lỗ, 15 hòa vốn; TCT Lương thực Miền Bắc 5 thua lỗ, 7 hòa vốn….Chính vì vậy việc đa dạng hóa sở hữu và xây dựng cơ chế phù hợp gắn liền lợi ích của giám đốc vào hiệu quả hoạt động doanh nghiệp có thể là con đường tạo nên sức mạnh cho doanh nghiệp Việt Nam.
Thứ hai, nhanh chóng xây dựng Luật về chống độc quyền, chống thỏa thuận…nhằm tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh. Hiện nay Việt Nam đang cố gắng hình thành những công ty lớn để đủ sức cạnh tranh với các công ty nước ngoài. Mục tiêu rất đúng đắn nhưng cần phải xác định được hiệu quả của các tổng công ty và tránh độc quyền. Hiện nay tình trạng độc quyền của tổng công ty ở Việt Nam là biểu hiện có thực. Ngoài vấn đề độc quyền còn phải giải quyết nhiều vấn đề cạnh tranh không lành mạnh khác như đầu thầu xây dựng, mua máy móc thiết bị... Việc tạo ra môi trường pháp lý để cạnh tranh lành mạnh là điều hết sức cần thiết để Việt Nam có một nền kinh tế thị trường đích thực.
Thứ ba, tiếp tục phát huy vai trò và tác động của "Luật Doanh Nghiệp" nhằm khai thác tối đa nguồn lực của xã hội vào phát triển kinh tế đất nước, đừng vì lý do không quản lý được hay vì lý do nào khác mà đặt ra những rào cản mới làm chậm đi tiến trình phát triển xã hội.

Giải pháp thứ ba, tiếp tục đẩy mạnh cải thiện môi trường đầu tư và nâng cao hiệu quả đầu tư.
Môi trường đầu tư thông thoáng và hiệu quả đầu tư cao sẽ khuyến khích mọi người đẩy mạnh đầu tư giúp cho kinh tế đất nước tăng trưởng. Môi trường đầu tư thông thoáng không chỉ là những quyết định những luật lệ mà chính phủ ban hành mà vấn đề là phải thực thi chính sách đó như thế nào đặc biệt là cấp chính quyền địa phương. Các cơ quan nhà nước phải trở thành cơ quan cung cấp dịch vụ hỗ trợ cho các doanh nghiệp chứ không phải là cơ quan "hành" doanh nghiệp. Tâm lý của một số công chức nhà nước hiện nay là vấn đề đang quan tâm. Nếu cơ quan thuế cứ nghĩ rằng đã là doanh nghiệp thì phải trốn thuế và tìm cách xiết chặt hoạt động của họ thì chắc chắn chẳng ai dám làm ăn cả. Ngoài việc xây dựng cơ chế chính sách thông thoáng thì phải có một đội ngũ công chức nhà nước làm tròn trách nhiệm của mình thì mới tạo cho môi trường đầu tư tốt được. Ngày 25/7/2001, tại thành phố Hồ Chí Minh đã diễn ra cuộc họp sơ kết 6 tháng thực thi Luật Doanh Nghiệp, một vấn đề nổi cộm được đặt ra, đó là sự bất cập về tư duy quản lý. Luật doanh nghiệp tạo ra một bước ngoặt lịch sử trong thể chế kinh tế thế nhưng việc thi hành Luật đòi hỏi sự chuyển biến đồng bộ của toàn bộ bộ máy quản lý, từ cơ chế, chính sách đến con người công chức, thủ tục hành chính và nhất là kỷ luật, kỷ cương trong chấp hành nhiệm vụ.
Hiệu quả đầu tư thể hiện tổng hợp bằng hệ số ICOR, nếu năm 1995, 1996 là 3,1 lần thì năm 1998 lên đến 4,7 lần, năm 1999 lến đến 5,5 lần. Năm 2000 giảm xuống còn 4 lần nhưng vẫn cao hơn thời kỳ 1995-1997. Giá thành cao, năng suất lao động thấp, chất lượng kém, mẫu mã chậm thay đổi nên sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam kém là vấn đề tồn tại lớn hiện nay. Chúng ta chưa thực sự đầu tư phát triển hướng vào thị trường nên hiện tượng đầu tư tràn lan vượt quá nhu cầu thị trường, bất chấp hiệu quả như xi măng, đường ….Chính vì vậy cần phải thiết lập một cơ quan tập hợp và liên kết với các chuyên gia nhiều ngành nghề khác nhau và đủ sức thẩm định và loại bỏ những dự án xấu, tránh tình trạng vì mục tiêu phi kinh tế đã đưa những dự án xấu vào xây dựng gây lãng phí lớn cho xã hội. Ngoài ra, cần phải gắn hiệu quả đầu tư với trách nhiệm của từng con người cụ thể từ chủ đầu tư đến cơ quan thẩm định đầu tư, hạn chế tối đa phát sinh tiêu cực.

Giải pháp thứ tư, phát huy nội lực tiếp tục tăng tích lũy và tiết kiệm tiêu dùng.
Thời gian qua Việt Nam đã có nhiều nỗ lực tăng tích lũy và giảm tiêu dùng. Nếu năm 1990, tỷ lệ tích lũy trong nước chỉ có 2,9 % thì năm 1995 lến đến 18,2 % và năm 1999 lên đến 24,6%. Đồng thời tỷ lệ tiêu dùng giảm liên tục : năm 1997 là 79,9 %, năm 1998 là 78,5 % và năm 1999 chỉ còn 75,4 %. Năm 2000, tỷ lệ tích lũy có tăng lên và tỷ lệ tiêu dùng có giảm xuống, tuy nhiên tỷ lệ tích lũy trong nước của Việt Nam vẫn chưa vượt qua mức 30 %. Với hệ số ICOR như năm 2000 là 4,0 lần thì nếu tổng tỷ lệ tích lũy nói chung và tỷ lệ tích lũy trong nước nói riêng chưa đạt mức 30% thì mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2001 là 7,5% khó đạt được. Muốn vậy thì đòi hỏi sự nỗ lực rất nhiều từ nhiều phía như ngân hàng thu hút tiền tiết kiệm, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp ngoài quốc doanh làm ăn hiệu quả dành vốn tích lũy cho đầu tư và cơ chế chính sách của nhà nước tạo cho nguồn vốn trong dân được khơi thông.
Tóm lại, phát triển nhanh và bền vững trong xu hướng kinh tế hiện nay là vấn đề sống còn của bất cứ quốc gia nào trên thế giới. Trong bài viết này, chúng tôi chỉ mạn phép nhận định 4 xu hướng kinh tế đang diễn ra trên thế giới và đưa ra 4 giải pháp chủ yếu để phát triển kinh tế bền vững cho Việt Nam. Tuy nhiên do trình độ còn hạn chế cho nên có thể việc nhận định xu hướng kinh tế và giải pháp còn bất cập, thiếu chính xác.

Thứ Ba, 28 tháng 8, 2007

Cà phê Việt Nam lên sàn Chicago

Nguyên tắc hoạt động chợ nông sản

BÀN VỀ NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG CHỢ TRUNG TÂM NÔNG SẢN Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG


Thủ tướng chính phủ đã ban hành quyết định 223/QĐ-TTg ngày 6/3/2001 về việc tiêu thụ lúa gạo ở đồng bằng sông Cửu Long, Thủ tướng đã giao nhiệm vụ: “Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ đạo Tổng Công ty Lương thực miền Nam với UBND các tỉnh xây dựng thí điểm các chợ trung tâm nông sản, trước mắt ở các tỉnh có sản lượng lúa hàng hóa lớn, để giúp nông dân tiêu thụ lúa, gạo và thực hiện các dịch vụ khác cho sản xuất nông nghiệp như cung ứng giống, phân bón, vật tư nông nghiệp, dịch vụ tưới tiêu, tư vấn sản xuất...”. Căn cứ vào quyết định này, Tổng công ty Lương thực Miền Nam đã thí điểm xây dựng 3 chợ trung tâm nông sản ở Đồng Bằng Sông Cửu Long: thứ nhất, chợ trung tâm nông sản Hậu Thạnh Đông ở tỉnh Long An, có mức đầu tư 14,9 tỷ đồng, rộng 3,8 ha, lượng lúa hàng hóa qua chợ 60.000 tấn/năm, thứ hai, chợ trung tâm nông sản Phú Cường ở tỉnh Tiền Giang, vốn đầu tư 17,5 tỷ đồng, rộng 5,9 ha, lúa hàng hóa qua chợ 75.000 tấn/năm và thứ ba, chợ trung tâm nông sản Thanh Bình ở tỉnh Đồng Tháp, với diện tích 7,6 ha, tổng mức đầu tư 31,6 tỷ đồng, lúa hàng hóa qua chợ 114.000 tấn/năm. Cho đến nay cả 3 chợ trung tâm nông sản này đã khai trương đưa vào hoạt động phục vụ vụ lúa đông xuân 2004-2005.
Chợ trung tâm nông sản là một cụm dịch vụ tổng hợp với chức năng làm dịch vụ cho người mua và người bán. Chợ sẽ cung cấp dịch vụ phơi, xay xát, chế biến và bảo quản nông sản cho nông dân, thương lái hoặc các tổ chức có nhu cầu. Cá nhân và tổ chức có nhu cầu mua bán lúa gạo có thể đăng ký nhu cầu về chủng loại, chất lượng, số lượng lúa gạo cần mua bán tại chợ. Ngoài ra, chợ còn cung cấp dịch vụ thông tin giá cả và dịch vụ thanh toán giữa người mua và người bán. Nhiệm vụ của chợ là hợp tác với nhà nước giữ và ổn định giá cả, tổ chức mua bán công khai bằng đấu giá hay thỏa thuận và thông báo giá mua, giá bán trong ngày.

Với chức năng và nhiệm vụ được nêu trên, 3 chợ trung tâm nông sản ở Đồng bằng sông cửu long có thể được xem là sàn giao dịch hàng hóa tập trung mặc dù còn rất sơ khai. Để chợ trung tâm nông sản vận hành một cách có hiệu quả và sôi động đòi hỏi phải có đầy đủ thành tố cấu tạo nên thị trường – đó là hàng hóa, cung, cầu, giá cả và phương thức giao dịch. Một trong 5 yếu tố này không đúng và đủ điều kiện thì mô hình chợ trung tâm nông sản sẽ thất bại mà điển hình là chợ trung tâm giao dịch thủy sản Cần giờ đã đóng cửa sau 3 năm hoạt động vì lý do “chợ vắng người đến họp”.

Chính vì vậy, để cho các thành phần tham gia vào thị trường đúng và đủ điều kiện thì hoạt động của chợ phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
1. Nguyên tắc trung gian: việc mua bán hàng hóa phải thông qua trung gian nhà môi giới. Theo kinh nghiệm quốc tế, kể từ khi sàn giao dịch hàng hóa Chicago (CBOT) ra đời vào năm 1848 đến nay, các sàn giao dịch hàng hóa chỉ hoạt động sôi nổi và hiệu quả khi có sự tham gia tích cực của thành phần môi giới. Điều này đã thể hiện rất rõ khi người ta vận dụng vào hoạt động của thị trường chứng khoán.
2. Nguyên tắc công khai hóa thông tin: việc mua bán tại chợ đòi hỏi phải được công khai hóa. Chợ có nghĩa vụ công khai số cung, số cầu từng loại hàng hóa; công khai về giá đặt mua, giá chào bán; công khai cuộc đấu giá hình thành giá cả trong từng phiên giao dịch; trang bị các thiết bị thông tin và tổ chức công bố thông tin rộng rãi.
3. Nguyên tắc đấu giá: giá cả hàng hóa tại chợ phải được hình thành thông qua đấu giá công khai, hoàn toàn tùy thuộc vào cung cầu, không ai quyết định giá hay can thiệp vào việc hình thành giá.
Các nguyên tắc trên là nguyên tắc căn bản phải được thể hiện bằng văn bản pháp luật từ cấp cao như luật thương mại, nghị định, thông tư đến cấp thấp như điều lệ, quy chế, quy tắc hoạt động của chợ.
Bên cạnh những nguyên tắc chung cho hoạt động của chợ, chúng ta cũng cần có nguyên tắc riêng cho hoạt động giao dịch như:
1. Đăng ký hàng hóa: hàng hóa để có thể mua bán tại chợ cần phải có đăng ký tại bộ phận đăng ký hàng hóa. Các chỉ tiêu cần kê khai như số lượng, chất lượng, chủng loại, nguồn gốc, thời gian giao hàng, phương thức thanh toán, giao nhận….
2. Giám định hàng hóa: cần phải có cơ quan giám định độc lập nằm ngoài chợ, nhưng có đăng ký thành lập văn phòng tại chợ. Họ là người chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước người mua, người bán hàng hóa do họ giám định.
3. Đăng ký bán - đấu giá bán và đăng ký mua - đấu giá mua: chợ trung tâm nông sản phải là chợ sỉ, hàng hóa phải được bán theo lô với số lượng lớn. Người mua và người bán sẽ phải đăng ký và tham dự các phiên đấu giá để quyết định có mua hay không.
4. Giao kết hợp đồng: Khi các thỏa thuận mua bán đã được thu xếp xong sau phiên giao dịch, thì bước tiếp theo là những giao kết này phải thể hiện trên hợp đồng. Những hợp đồng này có thể là hợp đồng giao ngay (Spot contract), hợp đồng tương lai (future contract) hay hợp đồng quyền chọn (option contract).
5. Thanh toán và giám sát thực hiện hợp đồng: Những hợp đồng trên sau khi ký kết sẽ được thực hiện theo đúng như hợp đồng. Tuy nhiên, đối với hợp đồng giao sau (hợp đồng tương lai, kỳ hạn và quyền chọn) thì đòi hỏi phải được giám sát từ khâu ký kết hợp đồng cho đến khi thực hiện hợp đồng. Hợp đồng giao sau là phương thức giao dịch kỳ hạn rất phổ biến trên thế giới. Tuy nhiên, việc phát triển và ứng dụng thành công giao dịch kỳ hạn như là công cụ bảo hiểm giá, phòng ngừa rủi ro là quá trình phức tạp. Khi người mua và người bán thỏa thuận trao đổi hàng hóa trong tương lai với giá nhất định, sẽ có nhiều rủi ro. Người mua và người bán có thể hối tiếc, có gắng từ chối thực hiện hợp đồng, hoặc họ không có khả năng tài chính để thực hiện hợp đồng. Để tránh tình trạng trên, việc mua bán các hợp đồng giao sau phải thực hiện qua cơ quan thanh toán bù trừ và người mua và người bán phải ký quỹ ban đầu.
Qua nghiên cứu thực tế hoạt động tại Chợ trung tâm nông sản Phú Cường và Chợ trung tâm nông sản Thanh Bình, và tham khảo điều lệ, quy chế hoạt động tạm thời của chợ, chúng tôi có một số nhận xét và đề xuất như sau:
1. Theo quy chế tạm thời hoạt động Chợ trung tâm nông sản Phú Cường đã phản ánh được 2 nguyên tắc chung của hoạt động chợ là công khai thông tin và đấu giá. Để 2 nguyên tắc này được thực hiện trong thực tế, Ban quản lý chợ cần phải trang bị thiết bị thông tin điện tử để giúp người mua và người bán có thể theo dõi được tình hình thị trường. Riêng nguyên tắc trung gian chưa được phản ánh trong quy chế hoạt động. Đặc điểm quan trọng của sàn giao dịch hàng hóa là vai trò của người môi giới. Vấn đề đưa ra vai trò người môi giới kề cận nhà sản xuất và thương nhân nhằm phối hợp đáp ứng những cung - cầu theo trật tự nhất định trên nguyên tắc bình đẳng, đôi bên cùng có lợi, giảm thiểu đến thấp nhất rủi ro trong kinh doanh. Chính vì vậy, Ban quản lý chợ cần nghiên cứu xây dựng quy chế hoạt động của nhà môi giới trung gian.
2. Đối với hoạt động giao dịch, trong quy chế tạm thời hoạt động của chợ đã đề cập đến các vấn đề như đăng ký hàng hóa, nộp tiền ký quỹ, đăng ký đấu giá bán, giá mua và kiểm tra chất lượng lúa gạo. Tuy nhiên, các quy định này chưa phản ánh được đầy đủ 5 nguyên tắc riêng của hoạt động giao dịch được nêu trên, đặc biệt là nguyên tắc “giao kết hợp đồng” và nguyên tắc “thanh toán và giám sát thực hiện hợp đồng”. Để hoạt động của chợ trung tâm nông sản hoạt động đúng theo các nguyên tắc giao dịch của sàn giao dịch hàng hóa tập trung, chúng ta cần phải bổ sung và điều chỉnh một số nội dung sau:
- Thứ nhất, bộ phận giám định hàng hóa phải là một tổ chức giám định bên ngoài như SGS, FCC, Vinacontrol…, ban quản lý chợ cần thu hút các tổ chức giám định này đến lập văn phòng tại chợ.
- Thứ hai, ban quản lý chợ cần xây dựng quy chế về giao kết hợp đồng, đặc biệt là các hợp đồng giao sau. Hiện nay, trong quy chế mới đề cập đến giao dịch giao ngay: người mua và người bán tham gia đấu giá, thực hiện giao hàng và thanh toán tiền ngay. Điều này chưa tạo sự hấp dẫn cho các nhà đầu tư.
- Thứ ba, xây dựng quy chế cụ thể để giám sát việc thực hiện hợp đồng và thanh toán. Mặc dù trong quy chế có đề cập đến vấn đề ký quỹ nhưng chưa đủ cho việc đảm bảo cho hợp đồng.
3. Để cho 3 chợ trung tâm nông sản Hậu Thạnh Đông, Phú Cường và Thanh Bình hoạt động sôi động và có hiệu quả. Ngoài việc hoàn thiện quy chế để đảm bảo đúng các nguyên tắc đã nêu, chúng ta cần có một số giải pháp khác như sau:
- Thứ nhất, Nhà nước cần hoàn thiện khung pháp lý về hợp đồng và sàn giao dịch hàng hóa.
- Thứ hai, cần đào tạo một đội ngũ nhà quản lý, nhà chuyên môn đủ hiểu biết về hoạt động của sàn giao dịch hàng hóa.
- Thứ ba, nâng cao nhận thức cho mọi tầng lớp trong xã hội về hoạt động của sàn giao dịch hàng hóa tập trung.
Tóm lại, sự ra đời của 3 chợ trung tâm nông sản tại Đồng bằng sông cửu long giống như sàn giao dịch hàng hóa trên thế giới là bước đi đúng đắn trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Hiện nay, chúng ta chưa thể đánh giá được sự thành công hay thất bại của 3 chợ này vì mới bắt đầu hoạt động mang tính chất thí điểm. Điều lệ và quy chế hoạt động của chợ đang trong quá trình hoàn thiện. Để cho chợ hoạt động bền vững, góp phần ổn định thị trường nông sản, điều quan trọng là hoạt động của chợ phải tuân thủ các nguyên tắc theo thông lệ quốc tế. Chợ trung tâm nông sản được hình thành không chỉ vì mục tiêu đưa người nông dân tham gia vào thị trường, xóa bỏ bớt đầu mối trung gian mà hoạt động của chợ còn phải vì mục tiêu của những thành phần khác tham gia vào thị trường. Đây là mấu chốt quan trọng đảm bảo cho chợ trung tâm nông sản hoạt động. Cuối cùng, chợ trung tâm nông sản không phải được hình thành nhằm tăng năng lực thu mua chế biến xuất khẩu và tiêu thụ nội địa của 3 công ty đang quản lý chợ, vì nếu như vậy thì có lẻ chúng ta đang lãng phí một số tiền lớn của nhà nước thay vì xây dựng chợ trung tâm nông sản giống như sàn giao dịch hàng hóa trở thành đầu tư xây dựng kho, cửa hàng và máy móc thiết bị cho 3 công ty đang quản lý chợ. Điều này, mất ý nghĩa của một chợ trung tâm nông sản – sàn giao dịch hàng hóa.

Tập trung vốn đầu tư chợ đầu mối phía Nam

Tập trung vốn đầu tư chợ đầu mối phía Nam

Digital Marketing – Chìa khóa mở cửa kỷ nguyên tiếp thị hiện đại

  Trong thời đại số hóa, khi mọi tương tác, giao tiếp và quyết định mua hàng dần chuyển dịch lên môi trường trực tuyến, Digital Marketing ( ...