Thứ Sáu, 21 tháng 8, 2009

SỰ CẦN THIẾT TÁI CẤU TRÚC QUÁ TRÌNH KINH DOANH Ở CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

ThS. Bảo Trung

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế hiện nay, các doanh nghiệp muốn cạnh tranh để tồn tại và phát triển đòi hỏi phải có sự thay đổi cơ bản cách thức quản lý doanh nghiệp.

Ở các nước có nền kinh tế thị trường hoàn chỉnh, hầu hết doanh nghiệp đều do tư nhân thành lập nên mục tiêu hàng đầu của họ là thu được nhiều lợi nhuận. Để thu được nhiều lợi nhuận, họ luôn luôn tìm cách hợp lý hóa hoạt động sản xuất – kinh doanh của mình và từ đó phát triển nhiều phương thức quản lý mới phù hợp hơn và hiệu quả hơn. Từ xa xưa con người đã biết tổ chức, điều khiển và phối hợp người lao động theo nhóm để hoàn thành những công trình vĩ đại như Kim tự tháp, Vạn lý trường thành. Đây chính là hoạt động quản trị mà ngày nay chúng ta nói đến. Tuy nhiên những hoạt động này chỉ dựa trên kinh nghiệm, theo kiểu thuận tiện với kỹ thuật quản trị đơn giản. Trước cuộc cách mạng công nghiệp, Adam Smith đã quan sát và ghi nhận việc phân công trong sản xuất. Tuy nhiên, ông vẫn cho rằng nhà lãnh đạo doanh nghiệp là do trời sinh ra, không thể đào tạo được. Hoạt động quản trị lúc đó phụ thuộc vào tài năng nhà lãnh đạo doanh nghiệp. Giai đoạn này người ta xem là giai đoạn quản trị theo kiểu thuận tiện. Tuy nhiên đến cuối thế kỷ 19, công nghiệp đã phát triển mạnh và có nhiều vấn đề nảy sinh ngoài tầm kiểm soát của nhà quản trị. Điều này dẫn đến sự phát triển các kỹ thuật quản trị. Năm 1911, Frederick Winslow Taylor viết cuốn "Những nguyên tắc quản trị khoa học" mở đầu cho giai đoạn quản trị theo khoa học. Từ đó có nhiều trường phái quản trị xuất hiện trên thế giới và người ta chia thành những nhóm lớn như lý thuyết cổ điển (Frederick Winslow Taylor, Henry L. Gantt, Frank và Lilian Gilbreth), lý thuyết quản lý hành chính (Max Weber, Henry Fayol), lý thuyết tâm lý xã hội (Douglas McGregor, Elton Mayo, Abraham Maslow), lý thuyết định lượng (Herbert Simon) và lý thuyết Z của Nhật (William Ouchi). Đến những năm của thập niên 1950, người ta xem quản trị theo khoa học đã hoàn chỉnh. Những lý thuyết quản trị trong giai đoạn này đã lần lượt giảng dạy tại các trường Đại học và hình thành nên chuyên ngành quản trị kinh doanh. Hoạt động quản trị trước những năm 1950 chủ yếu tập trung vào hiệu quả sản xuất nhằm nâng cao năng suất thông qua việc phân chia công việc, xây dựng sơ đồ tổ chức, xây dựng bảng mô tả công việc cho công nhân,…nhưng sau đó nó tiếp tục lan qua nhiều hoạt động khác như tài chính, tiếp thị và hình thành nên hệ thống các kiến thức và kỹ năng quản trị doanh nghiệp toàn diện. Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, các nhà quân sự của Hoa Kỳ đã nhận thức được rằng việc quản lý theo phương pháp khoa học không làm cho chất lượng sản phẩm tăng lên mà còn gây lãng phí lớn, đặc biệt đối với những sản phẩm của quốc phòng như máy bay, vũ khí không đạt chất lượng còn gây ra nhiều nguy hiểm cho xã hội. Chính vì vậy họ xây dựng các quy trình làm việc để sản xuất sản phẩm có chất lượng hơn và họ đặt tên Mil-Std 9858 (có nghĩa là tiêu chuẩn của quân đội). Đến năm 1979, Anh cũng đưa ra tiêu chuẩn quản lý áp dụng cho ngành sản xuất của quân đội là BS 5750. Tuy nhiên, mãi đến năm 1987, thì phương pháp quản lý theo kiểu "làm đúng ngay từ đầu" hoặc "phòng ngừa" mới được áp dụng cho dân sự bằng sự ra đời của tiêu chuẩn ISO 9000:1987. Giai đoạn này người ta xem là giai đoạn quản lý tiên tiến. Sau thập niên 1990, tình hình thế giới có những biến đổi sâu sắc về mặt chính trị, kinh tế, xã hội làm cho sự cạnh tranh ngày càng diễn ra gay gắt buộc các doanh nghiệp phải cắt giảm chi phí để tồn tại. Vì thế các doanh nghiệp đã tiến hành tái lập lại quá trình kinh doanh và cuốn sách "Tái lập công ty" ra đời đã được hưởng ứng rộng rãi. Cuối thập niên 1990 và đầu thế kỷ 21, sự ra đời của hai cuốn sách bán chạy của Thomas Friedman là "Chiếc Lexus và cây Ô Liu" và "Thế giới phẳng" đã minh chứng cho giai đoạn toàn cầu hóa. Lúc này có 3 yêu cầu mới phát sinh là (1) khách hàng là người quyết định; (2) cạnh tranh quyết liệt hơn; (3) phải thay đổi. Do vậy các nhà quản trị đã chuyển từ tập trung vào bên trong quá trình sản xuất sang tập trung vào khách hàng bên ngoài và làm thế nào tạo ra giá trị tăng thêm cho khách hàng. Đây chính là quản trị doanh nghiệp hiện đại.

Quá trình phát triển quản lý doanh nghiệp ở Việt Nam cũng đang tuần tự diễn ra theo xu hướng trên. Nếu xu hướng này cứ tiếp diễn thì doanh nghiệp Việt Nam sẽ thất bại trong xu hướng cạnh tranh toàn cầu ngày nay. Kể từ khi Việt Nam chuyển từ nền kinh tế kế hoạch sang nền kinh tế thị trường, phương thức quản lý ở các doanh nghiệp Việt Nam đã có sự thay đổi đáng kể tuy nhiên chưa đạt được hiệu quả. Trước khi đổi mới hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp này có các những đặc điểm cơ bản như sau:

  • Nó phục vụ những mục tiêu xã hội và chính trị nhiều hơn là kinh doanh.
  • Làm theo kế hoạch từ trên giao xuống
  • Những người quản lý được bổ nhiệm theo sự tin tưởng nhiều hơn là tài năng.
  • Cơ cấu tổ chức phát triển theo sự thuận tiện.
  • Mô phỏng cách thức của cơ quan hành chính với quyền hành không được ủy quyền cho ai mà tập trung vào tay giám đốc.

Trong các đặc điểm trên thì việc xây dựng cơ cấu tổ chức ở các doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò quyết định đến phương thức quản lý của các doanh nghiệp này. Hầu hết giám đốc doanh nghiệp nhà nước theo cơ chế cũ được bổ nhiệm vì chuyên môn hơn là vì kiến thức, kỹ năng quản lý. Kết quả của quá trình này là giám đốc doanh nghiệp nông nghiệp là kỹ sư nông nghiệp; giám đốc nhà máy hóa chất là kỹ sư hóa; giám đốc công ty thương mại là kỹ sư hoặc cử nhân kinh tế thương nghiệp,… Từ khi lên làm giám đốc, ông tiến hành thành lập các bộ phận được gọi là cơ cấu tổ chức và cơ cấu tổ chức này được hình thành theo lối thuận tiện hơn là theo khoa học. Ở các doanh nghiệp Việt Nam chúng ta thấy có phòng tổ chức - hành chính bởi theo cách hiểu thông thường vấn đề tuyển dụng con người là do giám đốc quyết định nên phòng tổ chức chỉ còn làm công tác giấy tờ nên công tác hành chính phải thuộc phòng này. Một ví dụ khác là phòng kế hoạch – kinh doanh hoặc kế hoạch – vật tư cũng tương tự. Bắt đầu là phòng kế hoạch lo tính toán các kế hoạch sản lượng, rồi tính toán các nguyên vật liệu đầu vào phục vụ cho sản xuất nên để thuận tiện giao luôn khâu mua vật tư cho phòng này là tốt nhất. Sau đó giám đốc thấy phòng kế hoạch – vật tư thường đi ra bên ngoài để mua vật tư nên việc bán hàng tốt nhất nên giao phòng này vì mua hoặc bán cũng như nhau nên hình thành phòng kế hoạch – kinh doanh chịu trách nhiệm mua nguyên liệu đầu vào và bán sản phẩm đầu ra. Việc hình thành cơ cấu tổ chức này hoàn toàn theo kiểu thuận tiện và điều đó tất nhiên là cách quản lý của các doanh nghiệp này hoàn toàn theo kiểu thuận tiện.

Từ thập niên 1990, khách hàng nước ngoài yêu cầu các doanh nghiệp Việt Nam phải có ISO 9000 thì mới mua hàng và chính yêu cầu bức bách này các doanh nghiệp bắt đầu tìm hiểu và quản lý theo kiểu ISO 9000. Tuy nhiên mô hình quản lý này không phải giúp cho các doanh nghiệp thành công mà còn rất nhiều trở ngại do chuyển từ quản lý thuận tiện sang quản lý tiên tiến theo ISO 9000 đòi hỏi thay đổi nhận thức rất lớn. Rất nhiều doanh nghiệp thuê tư vấn xây dựng hàng loạt các quy trình, chất đầy tủ nhưng chỉ thực hiện khi cần kiểm tra đánh giá để lấy chứng nhận, sau đó thì lãng quên đi vì thiếu sự cam kết của các cấp lãnh đạo. Các lãnh đạo trong doanh nghiệp hầu hết được bổ nhiệm do thuận tiện nên họ cảm thấy ISO 9000 là cái gì đó rắc rối, phức tạp, từ ngữ khó hiểu làm cho họ kém đi tính sáng tạo theo kiểu kinh nghiệm, thuận tiện.

Trước sự thay đổi nhanh chóng của nền kinh tế thế giới cuối thập niên 1990 và đầu thế kỷ 21, nhiều giám đốc nhận thấy rằng rất cần đi học những kiến thức và kỹ năng mới để có thể thành công trong cạnh tranh và thậm chí họ cũng quan tâm đến quản lý hiện đại như "tái lập công ty". Sau khi tiếp cận với nhiều lý thuyết quản lý khác nhau, giám đốc các doanh nghiệp thấy cần thiết phải thay đổi quản lý, cần phải "tái lập công ty" nhưng chủ yếu là cần thay đổi "cơ cấu tổ chức". Tuy nhiên, khi bắt đầu áp dụng thì gặp quá nhiều trở ngại từ việc không biết bắt đầu tư đâu đến sự phản ứng của các cấp lãnh đạo doanh nghiệp nên cuối cùng phải từ bỏ và chuyển về quản lý theo kiểu thuận tiện.

Vậy doanh nghiệp Việt Nam sẽ đi về đâu trong tình huống này. Điều quan trọng là doanh nghiệp cần phải đánh giá lại toàn diện hoạt động của doanh nghiệp mình và cũng không thể chỉ dừng lại ở giai đoạn quản lý theo khoa học hoặc quản lý tiên tiến mà phải áp dụng mô hình quản lý hiện đại. Vì nếu cứ theo tuần tự thì doanh nghiệp Việt Nam không thể cạnh tranh được trong môi trường toàn cầu ngày nay. Tuy nhiên, cách tiếp cận là quản lý hiện đại, nhưng tùy theo trình độ nhận thức, kiến thức và kỹ năng con người mà chúng ta phối hợp tất cả các phương thức quản lý trên thế giới cho phù hợp.

Tóm lại, để thành công trên thương trường thì việc thay đổi phương cách quản lý là điều hết sức cần thiết vì các doanh nghiệp nhà nước hiện nay sẽ không đủ sức cạnh tranh và quan trọng hơn nữa là trong thời gian tới các doanh nghiệp nhà nước phải chuyển đổi sang thành công ty cổ phần thì việc thay đổi phương thức quản lý là điều tất yếu.

Chủ Nhật, 2 tháng 8, 2009

Free Trade in Agriculture


A Bad Idea Whose Time Is Done
Sophia Murphy


Sophia Murphy is a public policy analyst and a senior advisor on trade and global governance issues at the Institute for Agriculture and Trade Policy focusing on agricultural trade rules, resilient agricultural practices, and the right to food. She has published many reports and articles, including analysis of the effects of international trade rules on development and food security, the impact of corporate concentration in the global food system, and trade and poverty-related issues in the global biofuels sector.

The push for "free trade" in agriculture first took hold in the 1980s. It was part of a package of policies and investments that moved food and agriculture systems away from government control (too often centralized and unresponsive) toward private ownership. Ironically, private ownership has led to an even more centralized and tightly controlled food system. Local communities have been left more disempowered than they were before, and, increasingly, developing country national governments have found themselves disempowered, too. This essay considers what advocates of free trade promised developing countries, what actually happened, and what some alternatives might look like.

Free trade has been a powerful mantra over the last thirty years. The pure form of the concept is perhaps best captured by the image of a bazaar: a place where people come to sell and buy wares, often stall after stall selling the same things, where haggling is common and both buyer and seller must decide what price they can settle for, based on the alternatives they see around them. Early in the day the buyer gets the best choice. Later in the day, the quality falls but so do the prices. It is up to the consumer to decide her preference for quality over price and to the seller to decide what price is profitable and still generates sales.

Free trade would make the whole world a bazaar. Only, of course, it cannot. There is no global marketplace where the Argentine and Brazilian and U.S. farmers can bring their soybeans to sell to the highest bidder. The reality for those farmers is that they must sell to the elevator near their farm. There might be a choice of two firms but there will rarely be more than that. Their crops will face quality controls, sanitary standards (protecting human, animal, and plant health), and political whim. For subsistence farmers the world over, their choices are even more constrained. Poor roads, poor storage, inequitable land distribution, poor law-enforcement (and often bad laws), grossly unequal market power, and weak local and national institutions: all shape trade in multiple ways, none of them "free." A mass of regulations and political struggles, both domestic and multilateral, stand between the free trade ideal and the real world.

The Promise of Free Trade

In 1996, the world's governments met in Rome at the headquarters of the United Nations Food and Agriculture Organization (FAO) for the World Food Summit. At that summit, industrialized countries led a push to link food security to trade. All the member states joined the final declaration, which included this statement: "We agree that trade is a key element in achieving food security. We agree to pursue food trade and overall trade policies that will encourage our producers and consumers to utilize available resources in an economically sound and sustainable manner."1

The World Food Summit declaration was a sign of the times; the 1990s proved a watershed in the history of food, agriculture, and trade. Historically, agriculture had been relatively isolated from trade negotiations, although commodity agreements were a feature of the 1970s and 1980s (and some dated back to the 1950s) and agriculture had been included in some projects, such as the Generalized System of Preferences, which allowed developing countries duty-free or low-tariff entry to a number of developed country markets. Nonetheless, both the United States and the then-European Economic Community (precursor to today's European Union) specifically exempted agriculture from the disciplines of the General Agreement on Tariffs and Trade, which they had signed in 1947.

Agriculture's isolation from the trade system ended with the Uruguay Round of trade negotiations, launched at Punta del Este, Uruguay in 1986. Agriculture complicated and stalled the negotiations at every stage of the tortuous process, until the final meeting in Marrakech, Morocco, in 1994. There, governments signed a series of agreements, including the Agreement on Agriculture and the Agreement Establishing the World Trade Organization (WTO). The Agreement on Agriculture was the first multilateral agreement to create binding rules on agricultural trade.

The argument that tied food security to unfettered trade went something like this: liberalize world agricultural markets by ending subsidies to inefficient producers, tear down tariff walls, and end the practice of holding government-controlled food stocks. World market supplies will then move to where need is greatest. In turn, world prices for agricultural commodities will rise, which will be good for the farmers who are profitable in the deregulated markets. At the same time, consumers will pay less, benefiting from the efficiencies created by sharper competition. Environmental efficiencies are gained by concentrating production of particular crops in countries that have the greatest "comparative advantage," and private companies are able to manage the business of getting food from where it is grown to where it is needed, cutting significant costs out of government budgets in those countries where the state used to play all or some of this role. Even the apparent losers—those farmers unable to compete on the supposedly level playing field of the world market—would win in the end, because wider economic development was said to depend on releasing labor from agriculture for other sectors, so the displaced farmers and farm laborers would hypothetically find work in cities or non-farm rural activities instead.

The Uruguay Round was meant to help make the vision of free trade come true. Advocates declared the agreement would provide a way to control industrialized country spending on agriculture—especially the United States, the European Union, and, to a lesser extent, Japan—and to allow developing countries to assume their comparative advantage in the global market place as purveyors of cheap agricultural commodities.

The Reality Of Free Trade

Things did not go as planned. There were serious problems with the Agreement on Agriculture (AoA). First, there was a gap between rhetoric and reality. Virtually all commentators now admit (as some critics said was likely long before the agreements were signed) that the rules did little to contain developed countries' spending on agricultural programs. These programs subsidize many farmers and agribusinesses, both directly and indirectly, and thereby distort global markets. Nor did the rules change much the prevailing level of tariffs on agricultural products, though there were some exceptions—in both directions. The conversion of non-tariff barriers to tariffs created some extraordinarily high new tariffs, for instance on dairy imports to some developed countries. The optimistic promises of enormous gains made by the World Bank, Organisation for Economic Cooperation and Development (OECD), and others were rapidly and dramatically scaled back after the agreement was signed, as the limited nature of the commitments began to be understood. Before the Uruguay Round was completed, a joint World Bank and OECD paper promised gains of $250 billion if the governments signed up; by early 1995, the World Bank was promising only about forty to sixty billion dollars. It turned out, for instance, that the United States had only committed to cut its domestic spending on agriculture over five years to a level it had already reached in 1995, the first year the agreement went into effect. The gap between rhetoric and reality was enormous.

Second, there were the implementation problems. Too few developing country members had fully understood what they were agreeing to. Many seemed to think they would largely be bystanders, with somewhat longer timeframes and gentler final obligations under the terms of the agreement. Many relied on the assumption that they had little trade-distorting behavior to correct.2 But the World Bank, the OECD, and others had completely missed—or, more likely, chose to ignore—the implications for developing countries as importers. When, during the Uruguay Round, Jamaica, supported by a number of NGOs, tried to raise the problems it anticipated as a net importer of food, those concerns were effectively dismissed. In Marrakesh, at the final signing of the WTO documents, governments added the Marrakesh Decision on Least Developed Countries (LDCs) and Net-Food Importing Developing Countries (NFIDCs). It was to have provided funding for a list of developing countries if food import bills rose too high, too fast. Yet when food prices in 1995 and 1996 spiked (in part because poor maize harvests in China created huge and unusual demand in world markets), resulting in a 40 percent rise in the food import bills of LDCs and NFIDCs, the decision was not implemented.3 The IMF claimed that the trade agreements were too new to have been the cause of the problem. The developed countries agreed and washed their hands of the problem.

Implementation was also disappointing because many developing country agricultural exports were already relatively undistorted by industrialized country policies. The industrialized countries have no domestic production to protect in tea, coffee, cocoa, or bananas, and they want these commodities for their food processing industries. Many of the products were already traded openly, although some were governed by preferential agreements that favored particular trade partners (the European Union had a number of these relationships with former colonies). Preferential agreements were grandfathered into the AoA and overall there was not much the AoA could deliver for these products, though non-favored tropical commodity exporters continue to fight to get the preferences removed.

There are exceptions, such as sugar and cotton, where both the market distortions—because of subsidized production in both the United States and the European Union—and the volume of exports from the Global South are high. Yet these are precisely the products that industrialized countries protected directly from liberalization, even as they have accepted changes in the policies governing crops that are relatively more competitive. So market liberalization, from a developing country perspective, was the wrong way around: developing countries got little new market access for their exports. In some cases, they even lost all or part of the preferential access to developed country markets they had traditionally enjoyed. Yet, developing countries were required to accept considerably greater quantities of imports, which created a vicious cycle for many, as imports depressed local prices and incentives for local production, further exacerbating the growing food deficit, which then necessitated higher imports.

Prices also failed to respond as predicted. After the first two years of relatively high commodity prices in 1995 to 1996, commodity prices began to decline. According to the FAO, the combined price index of all commodities fell by 53 percent in real terms between 1997 and 2003.4 Low prices meant cheaper imports (competing with local food production) and also poor export revenue earnings, together with low incentives to invest in improving agricultural productivity. When prices started to climb (first in 2005, and then, explosively, in mid-2007), supply was slow to respond. Several decades of neglect and letting the markets take care of business had done little to address the long-standing and often worsening situation of staple food production in developing countries.

A different kind of implementation problem had to do with the kind of policy reforms the AoA encouraged in both the United States and the European Union. Starting just before the Uruguay Round was completed, with the McSharry reforms to the Common Agricultural Policy (CAP) in 1992, and continuing through the 1996 Farm Bill in the United States and the further CAP reforms agreed in 2003, public policy in these countries moved away from some basic tenets of twentieth-century agricultural policy. Rather than trying to manage prices in the market, the new vogue is to provide income support to (some) farmers and to let the markets work with very little regulation. In the United States, although the government still has floor prices for most of the crops it has traditionally supported (some eight in total), the floor is set below current market prices (and the average farmer's cost of production). The European Union, too, with all of the differences among its members, has moved toward income support rather than market intervention.

Linked to these changes was an end to the policy of maintaining government owned agricultural commodity reserves. The United States, for instance, had operated a decentralized program, under which farmers could choose to be paid storage costs for keeping a certain amount of production on-farm. This program had allowed for greater price stability and higher overall farm gate prices by allowing good harvests to be saved against bad years. This program was abolished in 1996.

These changes in agricultural policy in the United States and Europe reflect the interests that lay behind the Agreement on Agriculture. Dan Amstutz, a former Cargill executive who was then working with the U.S. Trade Representative's office, drafted the first version of the AoA. Grain traders and food processing companies in both the United States and Europe saw the potential of multilateral rules to free trade in agriculture as a way to lower commodity prices and to facilitate their move into increasingly consolidated businesses. For all their failings, the U.S. and EU farm systems had created floor prices that counteracted the market power of commodity traders. The AoA helped usher in changes that made taxpayers responsible for supporting farm income, while allowing commodity prices to drop (and rise) as the still heavily distorted markets dictated. The result, particularly in the years of low commodity prices from 1997 to 2003, was a burgeoning cost to taxpayers for farm programs. The United States spent less on agricultural support payments at the start of the AoA's five-year implementation period in 1995 than it did at the end, in 2000.5

The AoA also affected agricultural policies in developing countries. The World Bank and IMF structural adjustment programs, reinforced by the underlying pressure from the WTO rules, pushed developing countries to eliminate their public food stocks, too. Managing public food stocks is undeniably expensive but their abolition has not had happy consequences. Markets grew less transparent as the largest holders of grain became private trading companies. The fact that commodity markets were for the most part dominated by a tiny oligopoly of firms made it difficult for anyone outside the companies to be sure the market was working correctly. With the decrease in publicly held food reserves in developed countries, food sales at subsidized prices to developing countries decreased. In 1998, the FAO estimated that the reduction in public stockholding resulted in an average 20 percent price increase for net food importing developing countries. Indeed, total food import bills for LDCs and low-income food deficit countries (LIFDCs) were expected to climb between 37 and 40 percent in 2008 over 2007, having already risen 30 percent (for LDCs) and 37 percent (for LIFDCs) between 2006 and 2007. The trend suggested food import bills for 2008 would be four times what they cost in 2000. Food import costs for developed countries have not risen at anything like this rate.6

The IMF, the World Bank, bilateral funding agencies, and some NGOs, too, promoted AoA-style agricultural trade policies, alongside their push to lessen government involvement in regulating food production, storage, and distribution. This led to decreased support for farmers, as well as the elimination of tariffs on imported food that protected local agriculture. The documentary movie Life and Debt provides a vivid picture of the destruction of Jamaica's agriculture under IMF mandated policies, with cheaper imported foods from the United States overwhelming local producers.

Implementation of WTO policies caused many problems, in part because developed countries were dishonest in their promises to reform, and the policy changes that actually were put in place reinforced the hold of transnational agribusiness over global food supply and distribution. Many countries did not have time to fully digest what they were signing and did not understand the potential consequences.

A third set of problems with the AoA had to do with trade distortions that the AoA passed over in silence. For instance, the agreement entirely ignored oligopolistic market power in the world (and many domestic) agricultural commodity markets. Yet, oligopolistic market power is a fact: for many agricultural commodities, three to five firms control 40 percent or more of the global market. Some of the firms, such as Cargill, are dominant players in multiple commodities (salt, sugar, maize, wheat, soybeans, beef, cotton, rice, and more). Free trade theory based on assumptions of open markets ignores the distortions that such concentrated market power can produce. The scale of the firms is staggering. In 2007, the food processor Nestlé posted a profit of $9.7 billion, greater than the 2007 GDP of the sixty-five poorest countries. Wal-Mart, the world's largest grocer, posted profits of $13.3 billion over the fiscal year ending January 31, 2009. That is more than the 2007 GDP of almost half the countries in the world (eighty-eight in total) in profits alone (sales revenue was in the hundreds of billions of dollars). With this market power comes the ability to both predict (and, to some extent, set) prices, the political clout to affect trade and investment policy in many of the more than one hundred countries in which the biggest firms operate, and the power to keep would-be competitors at bay.

Another distortion the AoA failed to address was dumping, an issue linked to corporate concentration. The Institute for Agriculture and Trade Policy (IATP) tracked cost of production, farm gate sale price, and export sale price for five commodities over more than a decade, documenting the gap between what the commodities cost to produce and the export price. The dumping margin (the amount by which production costs exceed market prices) reached 57 percent in one instance (for cotton in 2001); over the decade, the dumping margin for rice averaged 20 percent, for corn between 25 and 30 percent, and for wheat 40 percent. The calculations used what data was available—the cost of transporting grain from local elevators to export terminals was the hardest to track, as the companies involved treat those costs as proprietary information. Still, although the numbers are not perfect, the level of dumping is still remarkable. The higher prices of recent years reduced and even (in some cases) eliminated the dumping margin, but significantly higher input costs have to be factored in as well. In 2009, many farmers are caught with lower prices for the crops from their 2008 peaks, but they still face very high costs for inputs such as fertilizer and seed, which are sold in highly concentrated markets. Not captured in IATP's dumping calculation is the price of land, which, for a growing number of acres in the United States, is rented rather than owned. Changes in farm policy have tied government support to the land rather than the crops grown on the land.

The market price depression associated with the dumping of agricultural commodities has two major effects on developing countries whose farmers produce competing products. First, below-cost imports drive developing country farmers out of their local markets. If the farmers do not have access to a safety net, they have to abandon their land. When this happens, the farm economy shrinks, in turn shrinking the rural economy as a whole. This is happening around the world, in places as far apart as Fiji, Burkina Faso, and Honduras. Second, farmers who sell their products to exporters find their global market share undermined by the lower-cost competition.

The AoA presupposes a particular model for agriculture and reinforces that model through the rules it establishes. It is a model for wealthy countries pursuing industrial agriculture, and for developing country governments that wish to follow suit. It ignores the needs and interests of the billions of farmers who do not live in that world. Only 10 to 15 percent of food is traded internationally, yet the AoA pressures all of agriculture to be run as if it was a trade concern. While ostensibly dealing only with world markets and trade, the agreement dictates the kind of investment that countries can make in their agricultural sectors. In practice, the AoA legitimized the use of subsidies in developed countries that distort world markets and damage the local markets of developing countries—reducing the options available to developing countries that are interested in protecting rural livelihoods and domestic food security (let alone food sovereignty). The potential of agriculture to eradicate poverty and contribute to a bio-diverse, ecologically healthy, and socially just food system is dramatically curtailed.

An Alternative

At the time of writing, the latest WTO trade talks (on the so-called Doha Round) are at a standstill. The March 2009 meeting of the Committee on Agriculture was reportedly a cantankerous affair, with developing country governments holding the United States and the European Union to account for their continued high levels of spending on domestic support to agriculture and their continued failure to keep notifications of spending up to date. All in all, despite some statements from the Group of 20 finance ministers, there is no sense that agreement on the Doha Round is imminent. The talks are deadlocked over issues that matter. The free trade purists are angered that the proposals are so full of exceptions and exclusions that nothing will change. The skeptics, meanwhile, want no further deal of any kind along the lines of the AoA, especially the insistence that tariffs can only come down, never rise, and the forced liberalization of agriculture. With so much of the global economy in crisis, public skepticism that free trade is the answer is growing. Indeed, government skepticism is growing too, making the likelihood of concluding the Doha Agenda any time soon look slim. It is a victory for the social movements and NGOs that have argued since before the Uruguay Round agreements were signed that free trade was not the right framework for agriculture.

For most countries, trade in agriculture is necessary to balance supply with demand. Few countries are entirely self-sufficient in all the foods their people want and almost every country imports and exports at least some food. Trade is not, however, an end in itself. It is a tool that needs to be regulated to meet the goals of individual countries. It is important not to let trade rules dictate agricultural policy—trade is not a proxy for development. Increased trade is associated with all kinds of outcomes: economic growth and zero growth; increased employment and increased unemployment; decreased poverty levels and increased poverty levels. Trade among equals can make everyone better off. But trade across the disparities that mar our world has concentrated enormous wealth in the hands of very few people, while ushering in policies that have worsened the lives of several billion people, who must now compete with a global market place even to grow food on their own half hectare or less of land.

There are the countries that can ill afford to import food, but whose domestic capacity to grow food is so disrupted that they must buy food abroad to stave off hunger at home. These low-income food deficit countries could and should grow a lot more food than they do. Much of what they import is inferior in quality and culturally inappropriate. It also depresses the necessary spur to domestic production, which could generate jobs, capital, and a basis from which to eradicate poverty. Many of these countries have been impoverished by a vision for economic development that promised wealth through exports. It turns out that for them trade is a problem, not a solution.

Everyone has to eat. A functioning just food system cannot simply let prices fall as supply and demand dictate. Policy choices determine whose demand is effective in the market, and if we price those who live in poverty out of the market, then we need to find other ways to protect their right to food. In effect, the path of globalization adopted and implemented over the past several decades in almost every corner of the world has priced hundreds of millions of people out of their local food markets.

Under international law, governments have three kinds of obligations to their people in relation to economic, social, and cultural rights: to respect, protect, and fulfill. These obligations derive from the U.N. Charter (which every member has signed), as well as the Universal Declaration of Human Rights. Any international treaty, including a trade agreement, that conflicts with a government's human rights obligations must either be voided or amended to ensure that human rights obligations prevail. That is the law.7 Respect means governments may not adopt any policy, law, or course of action that interferes with people's enjoyment of human rights. Protect means governments must devise and enforce laws that protect individuals' access to human rights. Fulfill means governments must show progress toward making sure that the right to food is universally recognized and acted upon. The human right to food is not just about putting food in people's mouths, necessary though that sometimes is. It is about ensuring that people have meaningful choices on how to live their lives, both as individuals and in community with one other.

A number of principles should guide the establishment of a stronger framework for trade as part of a fairer and more sustainable food system. The following are informed by an international project of the Heinrich Böll Foundation, Misereor (a development NGO), and the Wuppertal Institute (a German environmental think tank) called EcoFair Trade.8 They echo many of the points made by the four hundred experts who met as the International Assessment of Agricultural Knowledge, Science and Technology for Development in their final report:

  1. Protect, promote, and fulfill the universal human right to food.
  2. Respect and promote agriculture's non-monetary roles. Agriculture plays a vital role not only in meeting material but also social, cultural, and environmental objectives. Food policies should respect goods that have no market price, such as air and water quality. They should also reflect the spiritual and cultural values associated with specific foods such as maize in Mexico, or rice in much of Asia. Agriculture and an understanding of the land (including the gathering of uncultivated plants) is essential for biological diversity, human health (medicinal knowledge of plants), resilience (knowing which seeds do best in what growing conditions), natural resource management, and so much more.
  3. Build local food systems. Local food systems do not imply a prohibition on trade. This approach builds food security by starting at the local level, respecting environmental constraints, and paying attention to the overall demands made on the world's resources (something ignored in a trade-dominated food system).
  4. Privilege local knowledge and technologies. Not only will this promote biological and cultural diversity, it will also better ensure that humanity has the resources it needs to confront the uncertainty that climate change and the scarcity of energy and water will bring.
  5. Create agricultural systems with lower carbon emissions. Agricultural production, land use, packaging, and transportation of food make industrialized agriculture and the associated food systems significant contributors to greenhouse gas emissions.
  6. Cut waste. The Stockholm International Water Institute recently estimated that the world wastes about half the food it grows. With close to one billion living in hunger and the planet's natural resources stretched as thin as they are, this is a problem that can and must be addressed with urgency.
  7. Integrate trade policy into wider development planning. The WTO should not be apart from the rest of the multilateral system.

Principles and objectives matter: governments need to know what it is that their policies and laws are meant to build. But we have more than principles. There are also hundreds if not thousands of examples of how to build a fairer more resilient food system.

In 1988, floods affected an area northwest of Dhaka in Bangladesh called Tangail. A Bangladeshi NGO called UBINIG, which had been working with weavers in the district, came to offer help and started to work with villages in the area. They met women who were complaining that the pesticides that were used in agriculture were damaging their health and that of their children, and killing the uncultivated leafy greens and fish that they relied on for food. The villagers started to work on a project to develop an ecological agriculture that did not depend on chemical inputs. The result is called "Nayakrishi Andolon," which means New Agriculture Movement in Bengali. The movement now involves more than 170,000 farm households in fifteen districts across the country. Some local governments have now joined the movement, declaring their areas pesticide free.9

There is a growing understanding in developed countries (and a still well-rooted understanding in many parts of the developing world) that food and ecology and diet and health are intimately related. There is an understanding that how we grow what we eat and what we do to food between the field and the plate matter to the healthfulness of the food. How much we eat matters, too, of course, but not only that.

The Slow Food movement and the values it encapsulates capture another part of the already changing food culture worldwide. The founder of Slow Food was Carlo Petrini, a dissident food and wine journalist from Italy. Petrini founded the movement in 1989 in reaction to the spread of fast food restaurants, and, in particular, the opening of a McDonald's at the foot of the Spanish Steps in Rome. Today, twenty-three years later, the movement has over 100,000 members in more than 132 countries. The movement is dedicated to the enjoyment of food. Petrini believed pleasure was key to political change. The movement's Web site says, "Slow Food is good, clean and fair food. We believe that the food we eat should taste good; that it should be produced in a clean way that does not harm the environment, animal welfare or our health; and that food producers should receive fair compensation for their work."10

The Cuban experience after the demise of the Soviet Union offers an example of how a country forced to abandon industrial agricultural inputs was able to change. Cuba lost 80 percent of its import capacity when the Soviet Union collapsed: petrol, fertilizer, tractor parts, pesticides—all kinds of inputs for industrial agricultural production were simply not available. As Peter Rosset, Miguel Altieri, Minor Sinclair, and others have described, the people's and government's response to the crisis was remarkable. The government began to allow producers to sell at farmer's markets, not just to the government, and created tiered prices to encourage better quality.11 Large, government-run collective farms were broken up and given over to much smaller private cooperatives; while the land continued to be state owned, the co-operatives controlled production choices. Finally, a nationwide experiment with organic agriculture began, including biological pest control, new crop rotation patterns, mixed cropping, and a shift to animal traction (horse and ox-drawn ploughs). Urban gardens emerged that provide all the vegetables for half of Havana's two million people. Cuba's experience is an illustration that productivity increases can come from agroecology. Imported fossil fuel derived inputs are not essential.

Parts of the private sector, too, are making changes. One of the world's biggest confectionary firms, Cadbury, announced on March 4, 2009, that its flagship Dairy Milk brand will be Fairtrade certified beginning in September 2009. The decision will triple exports of fairly traded chocolate from Ghana, one of the world's three largest cocoa exporters. According to the Financial Times, total sales of all Fairtrade products in the United Kingdom in 2008 totaled £700 million ($987 million). Annual sales of Cadbury's Dairy Milk in the United Kingdom and Ireland are worth £200 million.12 Cadbury is using a third-party certified system, showing its willingness to be judged by independent assessors. The Fairtrade logo is in large part a marketing and educational tool. It has perhaps had its greatest success in changing attitudes among consumers in wealthy countries. Yet although it is to a tiny (if growing) share of the total market, it has also transformed the lives of some farmers in the Global South, supporting community empowerment and improving material conditions for participating farmers and their households.

It is possible to eradicate hunger in our lifetimes and governments have an obligation to do just that, both under international law, and to give meaning to rule "by, of and for the people." The discourse on free trade highlighted many real problems in food and agriculture, not least of which were overly centralized, inefficient, and too often corrupt central governments. Appropriately regulated, markets can be a wonderful way to give voice and power to local communities. But the rhetoric that surrounded the free trade and globalization policies of the last thirty years was a chimera. They have destroyed much that is precious, indeed much that is vital for the survival of humanity. The tide is turning and bringing the importance of food, ecology, and culture as the purpose of agriculture back into focus.

Notes

  1. FAO, Rome Declaration on World Food Security, World Food Summit, 13-17 November 1996, FAO, Rome. Go back
  2. Not to overlook a few big exceptions, especially India and, once it joined the WTO in 2001, China. Go back
  3. UNCTAD, background paper by the secretariat for an Expert Meeting on the Impact of the Reform Process in Agriculture on LDCs and NFIDCs and Ways to Address their Concerns in the Multilateral Trade Negotiations, July 2000, Geneva. Go back
  4. FAOSTAT 2004 data cited in "Productivity Growth for Poverty Reduction: An Approach to Agriculture," (draft paper for comment) Department of International Development, United Kingdom (July 2005), paragraph 31. Go back
  5. D. Blandford, and D. Orden, "United States: Shadow WTO Agricultural Domestic Support Notifications," IFPRI Discussion Paper 00821 (Washington, D.C., 2008). Go back
  6. FAO, Food Outlook, June 2008. FAO, Rome. Go back
  7. O. De Schutter, "A Human Rights Approach to Trade and Investment Policies," Background paper for conference: Confronting the Global Food Challenge, Geneva, November 2008. Go back
  8. More information on the project and a series of background papers are available at www.ecofair-trade.org. Go back
  9. The account of Nayakrishi Andolon is based on F. Mazhar, et al., Food Sovereignty and Uncultivated Biodiversity in South Asia (New Delhi: Academic Foundation, 2007), 3-4. Go back
  10. www.slowfood.com. Go back
  11. This and following summary points are based on M. Sinclair, "Cuba: Going Against the Grain," Research Paper, Oxfam America, June 2001. Go back
  12. M. Skapinker "Fairtrade and a new ingredient for business," Financial Times, March 10, 2009. Go back

Chủ Nhật, 5 tháng 7, 2009


THÔNG TIN LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐƯA LÊN MẠNG

Đề tài luận án: PHÁT TRIỂN THỂ CHẾ GIAO DỊCH NÔNG SẢN Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh Mã số: 62.34.05.01

Họ và tên nghiên cứu sinh: BẢO TRUNG

Họ và tên cán bộ hướng dẫn: 1. PGS.TS.Vũ Trọng Khải
2. TS.Phạm Xuân Lan
Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
Tóm tắt những kết luận mới của luận án:
  • Luận án khẳng định thể chế giao dịch nông sản là khung pháp lý hay tập quán và thông lệ quy định về cấu trúc tổ chức và cơ chế vận hành của các hoạt động giao dịch nông sản giữa 2 hay nhiều chủ thể tham gia phù hợp với điều kiện vật chất nhất định.
  • Dựa trên bản chất kinh tế - xã hội của các hình thức giao dịch, luận án khẳng định có 3 loại hình thể chế giao dịch nông sản: thể chế giao dịch giao ngay, thể chế giao dịch sản xuất theo hợp đồng và thể chế giao dịch giao sau.
  • Luận án khẳng định giao dịch giao ngay có hai hình thức: giao dịch phân tán và giao dịch tập trung. Để phát triển thể chế giao dịch giao ngay, luận án đề xuất hoàn thiện cấu trúc, cơ chế và điều kiện vật chất của giao dịch phân tán theo hướng hình thành chuỗi giá trị gia tăng. Đối với giao dịch tập trung, luận án đề xuất hoàn thiện các loại hình dịch vụ bán buôn theo hướng hiện đại và chuyên nghiệp hóa. Một số giải pháp hỗ trợ phát triển thể chế giao dịch giao ngay: thứ nhất, sửa đổi, bổ sung một số điều trong Bộ Luật dân sự năm 2005, Luật thương mại 2005, một số Nghị định và Quyết định; thứ hai, đào tạo kiến thức, kỹ năng cho nông dân, doanh nghiệp, HTX, người mua gom; thứ ba, quản lý hoạt động kinh doanh của người mua gom trong tiêu thụ nông sản; thứ tư, điều tiết cung cầu nông sản và tổ chức lưu thông hàng hóa; và thứ năm, thu hút các nguồn vốn để đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông và thương mại.
  • Luận án khẳng định sản xuất theo hợp đồng là phương thức kinh doanh nông sản tiên tiến phù hợp với đặc điểm sản xuất nông nghiệp. Bản chất của giao dịch sản xuất theo hợp đồng là giá cả được thỏa thuận giữa người mua và người bán tại thời điểm ký kết hợp đồng dựa trên cơ sở phân bổ 3 yếu tố: lợi ích, rủi ro và quyền quyết định. Để phát triển thể chế giao dịch sản xuất theo hợp đồng, luận án đề xuất hướng hoàn thiện cấu trúc, cơ chế và điều kiện vật chất cho các hình thức sản xuất theo hợp đồng như mô hình tập trung, trang trại hạt nhân, đa chủ thể và trung gian. Luận án đưa ra một số giải pháp: thứ nhất, hoàn thiện pháp luật liên quan đến hợp đồng trong lĩnh vực nông nghiệp; thứ hai, tiêu chuẩn hóa chất lượng nông sản; thứ ba, hoàn thiện chính sách tích tụ đất đai cho sản xuất nông nghiệp; thứ tư, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động tổ hợp tác và HTX.
  • Luận án khẳng định các hình thức mua bán nông sản ở Việt Nam như "mua mão", "mua lúa non", "hợp đồng bao tiêu nông sản", "hợp đồng trừ lùi chốt giá sau" là hình thức giao dịch triển hạn của loại hình giao dịch giao sau, nhưng chưa có công cụ bảo hiểm rủi ro; còn giao dịch kỳ hạn mới phát triển trong kinh doanh cà phê; giao dịch quyền chọn chưa phát triển đối với hàng nông sản. Để phát triển thể chế giao dịch giao sau, Việt Nam cần xây dựng Sở giao dịch hàng hóa nông sản. Luận án đề xuất một số giải pháp hỗ trợ phát triển thể chế giao sau: thứ nhất, hoàn thiện pháp luật liên quan đến giao dịch giao sau nông sản; thứ hai, xây dựng và thực hiện chương trình đào tạo cấp chứng chỉ hành nghề giao dịch hàng hóa nông sản.

Chủ Nhật, 7 tháng 6, 2009

Tranh chấp giữa nông dân và doanh nghiệp chế biến: Thử
nhìn từ lý thuyết mặc cả

VNECONOMY cập nhật: 30/09/2006

Tác giả: Trương Trí Vĩnh (TMTS - VASEP)


 

Đóng góp ngày càng lớn cho tăng trưởng xuất khẩu thủy sản, nhưng quá trình phát triển của ngành cá basa, cá tra đã nảy sinh những vấn đề nội tại, đặc biệt là quan niệm khác nhau giữa người nuôi và các doanh nghiệp chế biến trong việc thực hiện hợp đồng thu mua.


 

Phía doanh nghiệp than phiền rằng khi giá lên nông dân "kìm cá" không bán, hoặc "bẻ kèo" bán cho người khác, không chịu thực hiện hợp đồng. Phía người nuôi kêu ca doanh nghiệp ép giá, gây khó khăn khi giá xuống. Những lý giải một chiều hoặc tuân theo những định kiến sẽ không mang lại lợi

ích cho bất kỳ bên nào cũng như lợi ích chung, mà chỉ làm rạn nứt thêm mối liên kết vốn hàm chứa cả hai mặt hợp tác và cạnh tranh giữa hai khâu sản xuất nguyên liệu và chế biến.


 

Bài viết này muốn thử đưa ra một cách nhìn khách quan từ quan điểm của kinh tế học hiện đại nhằm phân tích bản chất sự tranh chấp này.


 

Mối quan hệ giữa người nuôi và nhà chế biến

Quan hệ giữa người nuôi và nhà chế biến mang sẵn trong nó hai mặt hợp tác và cạnh tranh. Đó là hai mắt xích chính trong "chuỗi giá trị" của thủy sản Việt Nam.

Một mặt, hai phía cùng tham gia vào quá trình sản xuất ra sản phẩm để bán ra thị trường (trong và ngoài nước), mối quan hệ này mang tính cộng sinh. Cả hai bên đều cần sự tồn tại của nhau và hiển nhiên sự tồn tại này chỉ có thể có khi cả hai bên đều có lãi. Mặt khác, đó là hai đối thủ cùng chia sẻ miếng bánh lợi nhuận thu được từ thị trường, và hoạt động theo nguyên tắc của thị trường là tối đa hoá lợi nhuận cho mình.

Để đơn giản, chúng ta xét mô hình sản xuất tối giản chỉ có người nuôi và nhà chế biến. Chẳng hạn, giả
thiết toàn bộ chi phí từ khi nuôi cho đến khi chế biến, đóng gói xong để có thể xuất khẩu một kg cá là
20.000 đồng, giá bán ra thị trường là 30.000 đồng. Vậy tổng lãi thu được của quá trình sản xuất là 30.000 - 20.000 = 10.000 đồng. Vấn đề là 10.000 đồng lãi này sẽ phân bổ cho người nuôi và nhà chế biến theo tỉ lệ nào. Lời giải cho bài toán này thuộc phạm vi nghiên cứu của lý thuyết mặc cả.

Theo lý thuyết mặc cả, không có một tỉ lệ phân phối lợi nhuận nào được coi là "hợp lý" hay "tự nhiên"

hơn cả cho tất cả các trường hợp. Tỉ lệ này hoàn toàn phụ thuộc vào lợi thế của mỗi bên trong quá trình mặc cả.


 

Trên thực tế, xung đột này không phải là riêng biệt ở Việt Nam và cũng không riêng trong ngành thủy sản. Đây là mâu thuẫn tương đối phổ biến giữa hai lực lượng sản xuất chia sẻ lợi nhuận trên cùng một chuỗi giá trị. Có thể so sánh với cuộc tranh cãi từng xảy ra những năm 80 giữa các nông dân ở miền Tây nước Úc và các nhà chế biến hoa quả đóng hộp. Cũng tương tự là những lời phàn nàn đôi khi xuất hiện từ các chủ trang trại cá da trơn với các nhà chế biến ở Mỹ. Cái khác là môi trường kinh doanh và cách ứng xử của các bên.


 

Lợi thế thuộc về ai?

Nói chung, cá tra có kích thước thương phẩm tốt nhất (loại 1) khoảng 1,0 - 1,1kg. Trong thời gian nuôi
cho cá lớn dần đến ngưỡng này người nuôi có ưu thế khi mà doanh nghiệp cần nguyên liệu để thực hiện đơn hàng, trong khi người nuôi có thể giữ lại tiếp tục nuôi hoặc bán cho doanh nghiệp khác.

Do vậy, trong giai đoạn này, người nuôi có thể mặc cả để đẩy giá lên cao. Tuy nhiên điều khó khăn là phải biết đâu là điểm nên dừng lại trong cuộc mặc cả. Đó là mức giá mà tại đó, doanh nghiệp chế biến vẫn còn có thể có lãi. Nếu vượt quá ngưỡng này, thì việc mua bán khó có thể diễn ra.

Tương quan này không được giữ nguyên trong quá trình mặc cả. Càng kéo dài thời gian, ưu thế của người nuôi cá càng mất đi, mà chuyển dần về phía doanh nghiệp chế biến. Người nông dân phải tiếp tục bỏ thêm chi phí nuôi cá trong khi giá bán lại không hơn. Không những thế, những con cá lớn thêm lên vượt quá kích cỡ của loại 1 lại còn bị giảm giá.

Ngoài ra, trên thực tế, vào thời điểm trong vụ thu hoạch trong các tháng hè, lượng cung cá nguyên liệu
cũng sẽ tăng, trong khi tại một số thị trường chính, lượng hàng xuất khẩu lại giảm xuống do trùng vào dịp nghỉ hè. Sự thay đổi tương quan cung-cầu cũng làm giảm ưu thế của người nông dân, góp phần làm giá giảm.

Cũng xin lưu ý rằng, chỉ cần cung tăng hay cầu giảm là có thể làm giá giảm mà không cần điều kiện cung vượt quá cầu. Cung vượt quá cầu là điều kiện làm cho giá thị trường thấp hơn giá thành sản xuất. Lúc này doanh nghiệp có nhiều lợi thế hơn trong việc mặc cả. Đây chính là thời điểm xảy ra tình trạng mà người nuôi gọi là "doanh nghiệp ép giá nông dân".

Một chiến lược hợp lý với người nuôi là khi đang có ưu thế, hãy cố gắng bán cá ra ngay khi có thể với
mức giá cao, khi mà doanh nghiệp còn có thể chấp nhận được nhằm thu lại lợi nhuận tối đa, chấp nhận
mức lợi nhuận thấp đi vào những thời điểm không còn ưu thế trong năm.


 

Ai thỏa mãn hơn?

Nếu đã không có một tỉ lệ chia lợi nhuận nào được coi là "hợp lý" thì điều gì quyết định sự thỏa mãn của mỗi bên?

Thực ra mức độ thỏa mãn khác nhau của hai phía quyết định từ mức độ bất đối xứng về thông tin. Giống như việc một người, sau khi mặc cả, mua một quả bưởi với giá 10.000 đồng. Người mua sẽ hài lòng nếu bằng một cách nào đó, anh ta biết rằng các hàng khác cũng bán với giá xấp xỉ vậy, mà không cần biết lợi nhuận của người bán bưởi là bao nhiêu.

Trên thực tế, người ta thường có xu hướng nhìn sang những hoạt động mua bán xung quanh mình để tìm kiếm sự hài lòng. Do vậy, nếu anh ta mua quả bưởi đó khi không có bất cứ thông tin nào để so sánh, anh ta sẽ luôn có cảm giác mình bị mua đắt. Cuộc mặc cả trong trường hợp này thường kéo dài và không mang lại sự thỏa mãn.

Điều này phần nào giải thích cho việc tại sao chúng ta thường ít thấy những lời than phiền từ phía doanh nghiệp như từ phía người nuôi trong cuộc tranh cãi này. So với người nông dân, nói chung doanh nghiệp có điều kiện tiếp cận thông tin nhanh chóng và dễ dàng hơn nên cảm nhận về mặt bằng giá tốt hơn.


 

Trong trường hợp cá basa, cá tra tại vùng ĐBSCL, một lý do nữa gia tăng sự không thỏa mãn của người nông dân là do họ đã so sánh với mặt bằng giá cũ. Do thấy các hộ nuôi cá thu được siêu lợi nhuận với tỉ lệ lãi rất cao, một lượng lớn người đã tập trung vào nuôi dẫn đến lượng cung tăng vọt.

Hơn nữa thời điễm diễn ra cuộc tranh cãi là thời điểm vào vụ thu hoạch, khối lượng cung tăng vọt so với các tháng trước. Thiếu vắng thông tin dự báo, người nuôi có xu hướng so sánh với lợi nhuận thu được tại các thời điểm trước đó của mình và của các hộ nuôi khác. Điều này cũng làm nặng thêm tâm lý "thua thiệt" từ phía người nông dân.


 

Có hay không, thỏa thuận mua cá giá thấp giữa các doanh nghiệp chế biến?

Liệu việc các doanh nghiệp thỏa thuận để mua cá của nông dân với giá thấp có khả thi?

Trước hết, xin lưu ý rằng thị trường nguyên liệu thủy sản là thị trường có nhiều người mua và nhiều người bán, một yếu tố quan trọng để một thị trường được coi là "thị trường cạnh tranh", ở đó giá được quyết định theo các quy luật cung cầu. Trên thực tế bản thân các doanh nghiệp chế biến cũng có sự cạnh tranh rất gay gắt với nhau.

Nhắc lại ví dụ nổi tiếng của Nash về tình thế "tiến thoái lưỡng nan" của 2 nghi phạm (xin xem bên dưới).

Một tình huống tương tự như vậy với 2 doanh nghiệp - được giả thiết là có sự thỏa thuận để mua cá với giá thấp - cùng chia sẻ thị trường thu mua nguyên liệu. Khả năng rất lớn là cả 2 sẽ chọn phương án cân bằng là phá bỏ thỏa thuận - cho dù để ý rằng tổng lợi nhuận trong trường hợp này là thấp nhất theo nghĩa nếu duy trì sự thỏa thuận, có thể mua cá của nông dân với giá thấp hơn.

Mô hình trên đây thường được dùng để giải thích cho xu hướng phá vỡ liên kết giữa các doanh nghiệp.

Nói chung, mỗi doanh nghiệp, cho dù có thỏa thuận đi nữa, sẽ luôn có xu hướng phá bỏ cam kết và hưởng toàn bộ lợi nhuận có được từ sự chậm chân của các doanh nghiệp khác. Xu hướng này đặc biệt càng được thúc đẩy trong trường hợp số doanh nghiệp tham gia vào thị trường càng lớn.

Các nghiên cứu của kinh tế học hiện đại cũng đã chỉ ra rằng việc liên kết gần như không thể tồn tại được trong một thị trường cạnh tranh hoàn hảo, nơi có nhiều người bán và nhiều người mua cùng tham gia.


 

Vai trò của cơ quan quản lý nhà nước

Khoảng 10 năm trở lại đây, ngành công nghiệp cá tra, basa nói riêng và thủy sản nói chung của vùng
Đồng bằng sông Cửu Long đã mang lại một phần đáng kể cho xuất khẩu thủy sản của Việt Nam. Tuy
nhiên sự phát triển quá nhanh không đi đôi với việc xây dựng môi trường kinh doanh tương xứng đã đặt ra những thách thức lớn.

Có thể thấy rằng mối quan hệ căng thẳng giữa người nuôi và nhà chế biến, hai lực lượng sản xuất luôn tồn tại cộng sinh, có nguyên nhân trực tiếp từ sự mở rộng quá nhanh của quy mô sản xuất không đồng bộ với việc trang bị hệ thống hỗ trợ tương ứng về kiến thức pháp luật hay các quy luật sản xuất và kinh doanh.

Trên thực tế, như đã phân tích ở trên, về bản chất, quan hệ giữa người nuôi cá và doanh nghiệp chế biến thuần tuý là quan hệ kinh doanh. Vai trò của các cơ quan quản lý, do vậy, không có tác động trực tiếp cũng như không mang vai trò làm "quan tòa" phân xử.

Những ý kiến chỉ đạo hay can thiệp trực tiếp vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và người nuôi từ phía cơ quan chức năng do vậy rất cần thận trọng, nếu không muốn gây phản tác dụng. Điều này cần đặc biệt chú ý khi chúng ta đã gia nhập vào WTO, nếu không muốn bị coi là vi phạm các nguyên tắc của tổ chức này.

Tuy nhiên, đứng trên phương diện cơ quan Nhà nước mang chức năng điều tiết, có một vài việc có thể làm để cải thiện tình thế này.

Thứ nhất là mặc dù vấn đề giá nguyên liệu cá tra, basa xuất hiện không phải lần đầu tiên mà đã lặp lại từ một vài năm nay, nhưng trước khi xảy ra tranh chấp, chúng tôi không thấy sự có mặt, hoặc có nhưng không đủ mạnh, của những dự báo, khuyến cáo cần thiết đến người nuôi.

Thứ hai, việc cung cấp những thông tin tham khảo cần thiết, như đã nói ở trên, sẽ đóng vai trò rất lớn
trong việc giải quyết tâm lý bức xúc của người nuôi. Một dự báo về mặt bằng giá tại những thời điểm
nhạy cảm sẽ tạo cho cả hai phía mặc cả những "ngưỡng hợp lý" cho mình.

Thứ ba, việc phát triển quy mô sản xuất rất cần đi đôi với việc phát triển các yếu tố của một môi trường kinh doanh bền vững, các công cụ kiểm soát rủi ro, xử lý tranh chấp,... Việc này cần sự nỗ lực từ rất nhiều phía, trong đó các cơ quan quản lý chắc chắn sẽ đóng vai trò quan trọng.
Việc tìm kiếm một giải pháp triệt để cho những vấn đề nêu ra trong bài viết chắc chắn cần các nghiên cứu nghiêm túc và kỹ lưỡng hơn nữa "chuỗi giá trị" của sản phẩm cá basa, cá tra từ nhiều góc độ khác
nhau. Đây là điều cần thiết để những tranh chấp như thế không lặp lại và tạo thành nguy cơ phá vỡ quan hệ giữa người nuôi và nhà chế biến, không chỉ với cá basa, cá tra mà với cả những mặt hàng thủy sản khác.
Để giải quyết xung đột giữa người nuôi và nhà chế biến, cốt yếu là cần đặt nó vào đúng trong mối quan hệ kinh doanh, chứ không nên tìm đến những lý do mang tính xã hội hay khía cạnh đạo đức.


 

Tình thế nan giải của 2 nghi phạm

Bài toán dưới đây là ví dụ nổi tiếng của John Nash về trò chơi bất hợp tác trong lý thuyết trò chơi. Mỗi
người chơi sáng suốt đều chọn phương án hợp lý nhất, nhưng tổng lợi ích thu được thấp nhất.

Có 2 nghi phạm bị bắt. Viên cảnh sát cho 2 người biết nếu cả 2 cùng im lặng, không tố cáo thì mỗi người bị giam một tháng. Nếu chỉ một trong 2 người tố cáo người còn lại thì người tố cáo được tha bổng, còn
người không tố cáo bị 9 tháng tù. Trường hợp cả 2 tố giác lẫn nhau thì mỗi người bị 6 tháng tù.

Bài toán có thể được biểu diễn bằng một song ma trận như dưới đây. Cặp số trong mỗi ô biểu thị số
tháng tù tương ứng cho tù nhân 1 và tù nhân 2 trong từng trường hợp tố giác hoặc không tố giác.

  

Nghi phạm 2

 
  

Không nói 

Tố giác

Nghi phạm 1

Không nói 

-1, -1 

9, 0 

 

Tố giác

0, -9

-6, -6


 


 

Các đấu thủ sẽ có xu hướng chọn phương án tố giác, để loại trừ rủi ro do quyết định của đối phương.


Trạng thái này đuợc gọi là một cân bằng Nash. Để ý rằng, trong trường hợp này, thiệt hại chung của cả 2 sẽ là lớn nhất ( 6+6 =12 tháng tù).


 

Trương Trí Vĩnh (TMTS - VASEP)

Thứ Bảy, 14 tháng 3, 2009

Contract Farming: Game Theoretical Approach

Sản xuất theo hợp đồng trong tiêu thụ nông sản nhìn từ lý thuyết trò chơi

ThS. Bảo Trung

Sản xuất nông nghiệp gắn với tiêu thụ sản phẩm làm ra luôn là thách thức và là mối quan tâm, lo lắng của chính phủ các quốc gia trên thế giới. Bởi lẽ sản phẩm nông nghiệp do các hộ nông dân, phần lớn thuộc đối tượng nghèo trong xã hội làm ra, nếu không được tiêu thụ tốt và có lợi cho họ, thì thu nhập và đời sống của họ sẽ bị ảnh hưởng xấu, trách nhiệm sẽ có phần thuộc về Chính phủ.

Ở Việt Nam, trong tiêu thụ nông sản của mình, người nông dân cũng thường rơi vào tình trạng "được mùa thì mất giá và mất mùa thì được giá". Hiện tượng người nông dân "lúc trồng, lúc chặt" diễn ra khắp nơi gây nên tình trạng bất ổn về đời sống của chính họ và tạo ra khó khăn cho Chính phủ trong điều hành sản xuất nông nghiệp. Để giải quyết những mẫu thuẫn hiện nay trong tiêu thụ nông sản, ngày 24/6/2002 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 80/2002/QĐ-TTg về khuyến khích tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng. Kể từ đó đã dấy lên phong trào gọi là "sản xuất theo hợp đồng và liên kết 4 nhà". Tuy nhiên, sau gần 7 năm áp dụng sản xuất theo hợp đồng trong tiêu thụ nông sản, phần lớn các doanh nghiệp thất bại trong trong quan hệ hợp đồng với nông dân, không mua được nông sản do nông dân làm ra, hoặc không thu hồi được vốn đã ứng trước cho nông dân, tình trạng vi phạm hợp đồng xảy ra khắp nơi. Nông dân đổ lỗi cho doanh nghiệp và ngược lại.

Vậy, tại sao sản xuất theo hợp đồng trong tiêu thụ nông sản lại khó hoặc không thành công trong thực tiễn, bài viết này sẽ phân tích sản xuất theo hợp đồng trong tiêu thụ nông sản dưới góc nhìn của lý thuyết trò chơi.

Eaton và Shepherd (2001) định nghĩa sản xuất theo hợp đồng là "thoả thuận giữa những người nông dân với các doanh nghiệp chế biến hoặc doanh nghiệp kinh doanh trong việc sản xuất và cung cấp các sản phẩm nông nghiệp dựa trên thỏa thuận giao hàng trong tương lai, giá cả đã được định trước". Theo Sykuta và Parcell (2003), sản xuất theo hợp đồng trong nông nghiệp đưa ra những luật lệ cho việc phân bổ ba yếu tố chính: lợi ích, rủi ro, và quyền quyết định. Điều này có nghĩa là kết quả mùa màng thu hoạch được sẽ được phân chia giữa nông dân và doanh nghiệp theo một tỷ lệ nhất định theo 3 yếu tố trên. Việc ký hợp đồng phân chia như vậy được xem là giải pháp tối ưu cho cả hai bên. Tuy nhiên, ở Việt Nam thì quan hệ hợp đồng này sẽ không thành công vì cả hai đều có động cơ "ăn gian". Vấn đề này có thể lý giải dưới góc độ lý thuyết trò chơi.

Lý thuyết trò chơi là một nhánh của toán học ứng dụng, nghiên cứu các tình huống chiến thuật trong đó các đối thủ lựa chọn các hành động khác nhau để cố gắng làm tối đa kết quả nhận được.

Nếu xét hình thức sản xuất theo hợp đồng là một trò chơi thì trò chơi này không giống các trò chơi khác ở chỗ, nó cho phép cả hai cùng thắng hoặc cả hai cùng thua. Ngoài ra, sản xuất theo hợp đồng còn có điểm khác biệt cơ bản là trò chơi này không bao giờ đứng yên. Các yếu tố trong trò chơi bị thay đổi theo thời gian do đặc điểm sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào điều kiện thời tiết – khí hậu. Vì vậy, kết quả phân chia lợi ích giữa các người chơi bị thay đổi và tất yếu người chơi tìm cách thay đổi trò chơi sao cho có lợi nhất cho mình.

Để hiểu trò chơi thay đổi như thế nào, chúng ta giả sử có 2 người nông dân A và B đều ký hợp đồng bán lúa cho một doanh nghiệp C với giá cố định là 5.000 đồng/kg và 3 tháng sau thu hoạch sẽ giao hàng cho doanh nghiệp. Điều gì sẽ xảy ra sau 3 tháng?

Sau 3 tháng lúc thu hoạch, giả sử giá thị trường tăng lên 6.000 đồng/kg, nông dân A và B sẽ hành xử như thế nào? Họ sẽ đứng trước một sự lựa chọn là vi phạm hợp đồng hoặc không vi phạm hợp đồng? Do hai người này cùng ký hợp đồng với doanh nghiệp C nên lựa chọn của người này sẽ ảnh hưởng đến người kia và mỗi người sẽ xem xét hành động của đối phương để chọn phương án tốt nhất cho mình. Kết quả hai người nhận được tương ứng với các lựa chọn của mình và người kia. (Điều này có thể lý giải được vì sao trong thực tiễn một số hợp tác xã thực hiện tốt việc ký hợp đồng một số không). Theo lý thuyết trò chơi chúng ta có thể thiết lập bài toán như sau: (trong mỗi ô: bên trái là kết quả của người B, bên phải là kết quả của người A):


 


 

Hợp đồng bán lúa cho doanh nghiệp C

Nông dân B

Vi phạm hợp đồng

Không vi phạm hợp đồng

Nông dân A

Vi phạm hợp đồng

-1; -1

2; -2

Không vi phạm hợp đồng

-2; 2

1; 1

Kết quả này sẽ không xảy ra khi hệ thống pháp lý vững chắc, lúc đó cả 2 nông dân không có lựa chọn nào khác là phải thực thi hợp đồng. Tuy nhiên, ở Việt Nam mọi người đều biết rằng kiện nhau ra tòa sẽ không hiệu quả nên họ sẽ chọn cách hành xử khác.

Nếu cả hai đều không vi phạm hợp đồng thì lợi ích của hai người đều như nhau và thấp (1; 1) (vì bán giá thấp hơn giá thị trường). Cả hai nông dân A và B đều cố gắng tìm hiểu lẫn nhau là người kia có vi phạm hợp đồng không? Nếu nông dân A không vi phạm hợp đồng và nông dân B vi phạm thì nông dân A sẽ thu được lợi ích ít hơn nông dân B (do giá bán thấp hơn) và ngược lại nếu nông dân B không vi phạm và nông dân A vi phạm thì A sẽ thu được lợi ích nhiều hơn B. Như vậy, theo những kết cục đã biết trước, đứng ở góc độ người A: nếu người B vi phạm anh ta sẽ chọn vi phạm vì thiệt hại thấp hơn, nếu người B không vi phạm anh ta sẽ vi phạm vì lợi ích lớn hơn, tóm lại là đường nào cũng vi phạm. Nếu cả hai cùng vi phạm thì lợi ích của hai người đều giảm như nhau (-1; -1) vì cả hai đều phải bỏ chi phí tìm kiếm, thương lượng với đối tác khác, uy tín giảm và cạnh tranh lẫn nhau. Trong điều kiện sản xuất nông sản hàng hóa lớn, người nông dân sẽ không chọn lựa tình huống này giống như trường hợp hệ thống pháp luật hiệu quả và hiệu lực. Tuy nhiên, ở Việt Nam sản xuất nông nghiệp phân tán, manh mún, nhỏ lẻ nên sẽ dẫn đến lợi ích của hai người nông dân A và B sẽ lớn hơn chi phí mà họ bỏ ra. Trong điều kiện hệ thống pháp lý kém hiệu quả và sản xuất nông nghiệp phân tán, manh mún, nhỏ lẻ như Việt Nam thì các giao dịch giữa nông dân và doanh nghiệp trở thành kiểu trò chơi một lần (one-shot game). Trong trò chơi này, không bên nào dự định giao dịch lần thứ hai nên tất cả các bên đều có động cơ để "ăn gian". Nông dân có động cơ không giao hàng khi giá lên; doanh nghiệp sẽ có động cơ là không nhận hàng khi giá xuống. Theo lý thuyết về sản xuất theo hợp đồng, doanh nghiệp phải đầu tư và hướng dẫn kỹ thuật cho nông dân thì lúc này doanh nghiệp có thêm một trò chơi mới là nhìn vào cách hành xử của doanh nghiệp khác để quyết định đầu tư hay không đầu tư.

Dưới góc độ của lý thuyết trò chơi, sản xuất theo hợp đồng trong tiêu thụ nông sản chỉ có thể phát triển được nếu cả nông dân và doanh nghiệp đều không có hành vi cơ hội, tức là không có lựa chọn nào khác. Để hạn chế hành vi cơ hội thì Việt Nam cần phải:

  • Thứ nhất, xây dựng hệ thống pháp luật hiệu lực và hiệu quả. Hệ thống pháp luật hiệu lực và hiệu quả có nghĩa là mọi người chơi đều biết và hành xử theo pháp luật như có thể kiện ra tòa và những hành vi gây thiệt hại được bồi thường thỏa đáng. Tuy nhiên điều này chưa có ở Việt Nam. Theo nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới, để giải quyết một tranh chấp hợp đồng đơn giản cần toà án mất trung bình là 295 ngày. Chi phí để giải quyết tranh chấp tương đương với 31% giá trị hợp đồng, đây là nguyên nhân để các tòa án hoạt động thiếu hiệu quả. Thậm chí nếu như đã có giải pháp của tòa án thì mức độ tin tưởng vào kết quả cũng không cao. Theo một khảo sát của UNDP, chỉ có 20% số người trả lời phỏng vấn ở các vùng nông thôn cho rằng phán quyết của toà án là đúng và công bằng (UNDP 2004). Quan điểm chung và rõ ràng ở đây là hệ thống pháp lý chính thức có nhiều tham nhũng và không đáng tin cậy; 74% số người trả lời cho rằng sự trung thực của quan tòa là điều quan trọng đối với các thủ tục quy trình tố tụng, nhưng chỉ có 65% cho rằng luật pháp và cơ sở lập luận của một bên là quan trọng. Theo kết quả khảo sát của tác giả, hầu hết nông dân, thậm chí cán bộ quản lý doanh nghiệp khi được hỏi, đều không biết đến Bộ Luật dân sự và Luật Thương mại; một số cho rằng có biết nhưng chưa đọc bao giờ? Khi người dân không biết luật pháp có tồn tại thì hệ thống pháp lý này hoàn toàn vô hiệu lực. Luật pháp không có hiệu lực thì không thể có hiệu quả được. Như vậy, cải cách hệ thống pháp luật, cải cách tư pháp và giáo dục pháp luật cho người dân là điều cần phải làm trước khi có thể phát triển hình thức sản xuất theo hợp đồng trong tiêu thụ nông sản.
  • Thứ hai, xây dựng chính sách thúc đẩy sản xuất nông sản hàng hóa quy mô lớn. Nông dân có những trang trại sản xuất nông sản hàng hóa lớn sẽ hạn chế hành vi cơ hội vì nguy cơ chấm dứt hoạt động kinh doanh trong tương lai là khá lớn. Trong trường hợp này người nông dân có động cơ mạnh mẽ là chuyển giao dịch một lần thành giao dịch nhiều lần với doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ. Điều này sẽ hình thành hợp đồng sản xuất dài hạn giữa nông dân và doanh nghiệp. Trong điều kiện hệ thống pháp lý còn kém hiệu lực và hiệu quả thì uy tín là cơ sở để các bên chế tài lẫn nhau. Uy tín tốt là dấu hiệu cho các đối tác tiềm năng biết được sự sẵn sàng và khả năng thực hiện tốt hợp đồng, đồng thời cho biết khả năng đối tác xấu có thể tác động không tốt đến uy tín đó và đến khả năng tạo thu nhập trong tương lai. Để giải quyết bài toán này thì Việt Nam phải xây dựng được chính sách thúc đẩy hình thành những trang trại sản xuất hàng hóa lớn.

    Tóm lại, dưới góc độ của lý thuyết trò chơi, muốn phát triển hình thức sản xuất nông sản theo hợp đồng giữa nông dân và doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ thì Việt Nam cần phải xây dựng hệ thống pháp luật có hiệu lực và hiệu quả và có chính sách thúc đẩy sản xuất nông sản hàng hóa lớn.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO:

  1. Akerlof, George A. (1970), "The market for "lemons": Quality uncertainty and the market mechanism", Quarterly Journal of Economics, 84 (3).
  2. Brandenburger, A.M. và B.J. Nalebuff (2006), Lý thuyết trò chơi trong kinh doanh, Nhà xuất bản Tri thức, Hà Nội.
  3. Eaton, Charles and Andrew W. Shepherd (2001), Contract Farming Parnership for Growth, FAO Agricultural Services Bullentin 145.
  4. Quinn, Brian JM., P. Eli Mazur và Vũ Thành Tự Anh (2006), Structuring Transactions Around Opportunism: Fruit Markets in the Mekong Delta, http://www.law.columbia.edu.


 

Thứ Bảy, 10 tháng 1, 2009

Họp Hội đồng (Bộ môn) đánh giá luận án tiến sỹ của NCS.Bảo Trung


Luận án tiến sỹ của NCS. Bảo Trung với đề tài:
"Cơ sở khoa học của việc hình thành và phát triển thể chế giao dịch nông sản ở Việt Nam"Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 62.34.05.01
Người hướng dẫn khoa học:
- PGS.TS. Vũ Trọng Khải
- TS. Phạm Xuân Lan

Ngày bảo vệ: 14 giờ ngày 16/01/2009
Địa điểm: P.A105 - 59C Nguyễn Đình Chiểu, Q.1, Tp.HCM

Thành viên Hội đồng:
1. PGS.TS. Nguyễn Đông Phong - Chủ tịch Hội đồng
2. GS.TS. Hoàng Thị Chỉnh - Người giới thiệu 1
3. PGS.TS. Đinh Phi Hổ - Người giới thiệu 2
4. TS. Nguyễn Văn Dũng - Thư ký Hội đồng
5. TS. Tạ Thị Kiều An - Ủy viên
6. PGS.TS. Nguyễn Đình Thọ - Ủy viên
7. PGS.TS. Vũ Trọng Khải - Ủy viên

PHÂN TÍCH CÁC MÔ HÌNH TIÊU THỤ TRÁI CÂY THEO HỢP ĐỒNG TRONG NÔNG THÔN Ở VIỆT NAM


 

  1. Các mô hình tiêu thụ trái cây theo hợp đồng trong nông thôn hiện nay

  2. Kết quả khảo sát việc thực hiện tiêu thụ trái cây theo hợp đồng của 95 trang trại sản xuất trái cây ở tỉnh Đồng Nai

Đồng Nai là tỉnh thuộc miền đông Nam bộ, có diện tích 5.903,940 km2, chiếm 1,76% diện tích tự nhiên cả nước và chiếm 25,5% diện tích tự nhiên của vùng Đông Nam Bộ. Diện tích đất nông nghiệp của tỉnh hiện nay là 302.845 ha. Đồng Nai có quỹ đất phong phú và phì nhiêu phù hợp với nhiều loại cây ăn trái. Đồng Nai hiện có khoảng 50.000 ha cây ăn trái các loại như chôm chôm, sầu riêng, măng cụt, xoài, nhãn, bưởi, cam, quýt..., là vùng có diện tích cây ăn trái lớn nhất khu vực miền đông Nam bộ với sản lượng khoảng hơn 300.000 tấn/năm, mang lại giá trị gần 1.000 tỷ đồng, chiếm gần 20% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp của tỉnh. Việc phát triển cây ăn trái ở Đồng Nai vẫn còn manh mún, tự phát, chạy theo phong trào nên hiệu quả chưa cao. Mặt khác, do đầu ra không ổn định đang là nỗi ám ảnh của các nhà vườn ở Đồng Nai từ nhiều năm nay. Sản xuất manh mún và đầu ra không ổn định bắt nguồn từ việc thiếu liên kết giữa các trang trại với nhau và hầu hết các trang trại chưa ký được hợp đồng tiêu thụ trái cây.

Qua khảo sát 95 trang trại sản xuất cây ăn trái ở tỉnh Đồng Nai năm 2008, với tổng diện tích cây ăn trái 152,6 ha; bình quân 1,6 ha/trang trại (Diện tích này không bao gồm các diện tích sử dụng cho các cây trồng khác). Trong đó, trang trại có diện tích trái cây lớn nhất là 9 ha (Trang trại của Nguyễn Thị Kim Mai, ấp 1, xã Phú Ngọc, Định Quán, Đồng Nai). Các cây trồng chính của các trang trại khảo sát là sầu riêng, chôm chôm, bưởi và xoài. Hình thức tiêu thụ trái cây chủ yếu của các trang trại là bán qua thương lái. Theo kết quả khảo sát, trên 80% trang trại đều có hợp đồng miệng với thương lái. Thương lái thường thỏa thuận với trang trại thu mua cả vườn và đến ngày thu hoạch thương lái sẽ trực tiếp thu hoạch và thanh toán nhà vườn theo giá cả thị trường tại thời điểm thu hoạch. Một số thương lái đặt cọc trước cho các trang trại. Trong trường hợp này nếu thương lái không mua hàng sẽ bị mất cọc. Tuy nhiên, hình thức này chỉ áp dụng đối với sản phẩm có xu hướng khan hiếm hàng như trường hợp bưởi phục vụ cho nhu cầu tết nguyên đán hoặc chỉ áp dụng với thương lái mới mua lần đầu.

Qua kết quả phỏng vấn sâu các trang trại trái cây ở tỉnh Đồng Nai, hầu hết các trang trại đều cho không biết có Quyết định 80/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ về chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng. Điều này chứng tỏ việc triển khai quyết định 80 của tỉnh Đồng Nai chưa đến được với người sản xuất. Các trang trại này cũng cho rằng hiện nay chưa thấy có doanh nghiệp nào đề cập đến việc ký hợp đồng tiêu thụ trái cây.

Qua khảo sát thì có 14/95 trang trại (chiếm 14,7%) có hiểu biết và đang thực hiện việc ký hợp đồng trong tiêu thụ nông sản. Tuy nhiên, các trang trại này chủ yếu đang ký hợp đồng nuôi gà cho công ty CP.

Tóm lại, phần lớn các trang trại sản xuất trái cây ở tỉnh Đồng Nai chưa thực hiện tiêu thụ trái cây theo hợp đồng. Mặc dù Quyết định 80/2002/QĐ-TTg ra đời từ năm 2002 nhưng đến nay quyết định này còn rất xa lạ với các trang trại. Các doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ trái cây trong vùng chưa thiết lập mối quan hệ hợp đồng tiêu thụ trái cây với các trang trại. Đây là hạn chế cần phải khắc phục.


 

  1. Trường hợp tiêu thụ trái cây theo hợp đồng của trang trại Thanh Thủy, Bình Dương

Trang trại Thanh Thủy nằm ở số 74 ấp 7, xã Long Nguyên, Bến Cát, Bình Dương. Trang trại do bà Nguyễn Thanh Thủy ở TP.HCM thành lập năm 1999. Hiện nay, qui mô diện tích của trang trại 13 ha. Trang trại chuyên trồng các loại cây ăn trái như bưởi da xanh, măng cụt, sầu riêng và chanh không hạt. Lao động thường xuyên của trang trại là 32 người trong đó 7 lao động gia đình. Ngoài ra trang trại còn thuê 1 kỹ sư nông nghiệp chuyên về cây ăn quả để theo dõi dịch bệnh. Tổng vốn đầu tư 2,7 tỷ đồng. Lợi nhuận bình quân hiện nay hơn 1 tỷ đồng/năm (năm 2007).

Từ năm 2006, trang trại Thanh Thủy trở thành nhà cung cấp chính thức cho Metro. Trang trại và công ty Metro ký hợp đồng nguyên tắc thỏa thuận các điều khoản chung về chất lượng, phương thức thanh toán, phương thức giao nhận hàng. Ngoài ra, Metro còn hỗ trợ cho trang trại về mặt kỹ thuật trồng, chăm sóc, đóng gói và bảo quản trái cây. Từ hợp đồng nguyên tắc, cứ 6 tháng 1 lần hai bên thỏa thuận hợp đồng mua bán. Nội dung hợp đồng mua bán chủ yếu xác định giá cả, thời gian giao hàng. Giá cả trên hợp đồng là giá cố định dựa vào thị trường hiện tại và dự báo trong thời gian 6 tháng tới. Ví dụ tại thời điểm ký kết hợp đồng tháng 6/2007, giá bưởi da xanh của thương lái mua tại vườn chỉ khoảng 13.000-14.000 đồng/kg loại 1 (trên 1,4kg/trái). Tại chợ đầu mối TP.HCM khoảng 20.000 đồng/kg. Tuy nhiên tháng 6 chưa đến thời điểm thu hoạch nên 2 bên đã thống nhất giá 16.000 đồng/kg đối với loại 1 và hợp đồng có giá trị đến tháng 12/2007. Đến thời điểm cuối tháng 12/2007 giá tại chợ đầu mối TP.HCM chỉ còn 12.000 đồng đối với loại đặc biệt và 10.000 đồng đối với loại 1. Tuy nhiên Metro vẫn mua của trang trại với giá 16.000 đồng/kg. Theo thỏa thuận này thì thời gian đầu, trang trại bị thiệt do giá thấp hơn giá thị trường nhưng về sau thì giá cao hơn thị trường và với mức giá 16.000 đồng/kg đã đảm bảo cho trang trại có mức lợi nhuận hợp lý. Chính vì mối quan hệ cùng chia sẻ nhau trong rủi ro giá cả này mà giữa trang trại và Metro đã tạo nên sự liên kết bền vững.

Đây là một dạng gần giống hình thức sản xuất theo hợp đồng mô hình tập trung. Chủ thể tham gia hợp đồng chỉ bao gồm doanh nghiệp và trang trại. Doanh nghiệp đặt hàng trang trại cung cấp trái cây theo lịch trình định sẵn, giá cả cố định, phương thức thanh toán, chất lượng…Ở đây, đất đai thuộc quyền quản lý của trang trại và mức độ can thiệp của doanh nghiệp vào trang trại ở mức thấp. Sở dĩ trang trại chấp nhận ký hợp đồng ở mức giá thấp hơn thì trường vì diện tích trang trại tương đối lớn, sản phẩm nhiều nên trang trại muốn có đầu ra ổn định. Về phía doanh nghiệp, Metro là doanh nghiệp có tiềm lực kinh tế mạnh, có thị trường tiêu thụ nên họ chấp nhận mua hàng và thời điểm giá thị trường xuống thấp vì họ muốn duy trì sản phẩm có số lượng và chất lượng ổn định. Hợp đồng tiêu thụ trái cây giữa trang trại Thanh Thủy và Metro là hoàn toàn tự nguyện, xuất phát từ nhu cầu của hai bên.


 

  1. Trường hợp tiêu thụ trái cây theo hợp đồng của trang trại Anh Mỹ, Bình Dương

Trang trại Anh Mỹ của anh Phạm Thế Hoàng được thành lập từ năm 1999, nằm ở ấp Chánh Hưng, xã Hiếu Liêm, Tân Uyên, Bình Dương. Năm 1999, anh Hoàng thuê 10 ha để trồng bưởi năm roi, quýt và cam sành. Năm 2001, trang trại phát triển thêm 15 ha và đến năm 2005 tiếp tục phát triển 27 ha. Đến nay anh Hoàng đã phát triển hoàn chỉnh trang trại chuyên canh cây có múi với diện tích 52 ha. Lao động thường xuyên của trang trại 35 người, lao động thời vụ khoảng 80 người.

Trang trại Anh Mỹ được xem là một trong những trang trại lớn ở miền Đông Nam Bộ. Để tiêu thụ sản phẩm của trang trại, anh Hoàng đã thỏa thuận hợp đồng với các chủ vựa chợ đầu mối trái cây ở TP.HCM và các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu. Hợp đồng được ký hàng năm với giá cố định trọn gói. Năm 2007, trang trại ký bán đối với cam sành 300-350 triệu đồng/ha/năm và bưởi năm roi + quýt đường 300 triệu đồng/ha/năm.

Cũng giống như trang trại Thanh Thủy, hợp đồng tiêu thụ trái cây giữa trang trại Anh Mỹ với người mua là hình thức sản xuất theo hợp đồng mô hình tập trung. Tuy nhiên, ở đây người mua hoàn toàn không can thiệp vào quá trình sản xuất của trang trại. Việc thực hiện hợp đồng chủ yếu dựa trên chữ "tín". Mô hình này còn tồn tại khá nhiều rủi ro vì giữa trang trại và người mua không có cam kết chắc chắn như trang trại Thanh Thủy vừa nêu trên. Bản chất của hợp đồng này là hình thức hợp đồng bao tiêu sản phẩm chứ chưa thật sự là sản xuất theo hợp đồng. Hợp đồng bao tiêu sản phẩm chỉ có thể phát triển được khi có sự đảm bảo của bên thứ ba hoặc pháp luật hợp đồng chặt chẽ, việc xử phạt vi phạm hợp đồng được thực hiện nghiêm minh.


 

  1. Trường hợp tiêu thụ trái cây theo hợp đồng của Câu lạc bộ dịch vụ sản xuất trái cây thuộc Nông trường Sông Hậu

Thực hiện chủ trương tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng, ngày 18 tháng 04 năm 2005, Nông trường Sông Hậu ban hành Quyết định số 201/2005/QĐ-NTSH thành lập Câu lạc bộ dịch vụ sản xuất trái cây. Mục tiêu của Câu lạc bộ (CLB) là liên kết các thương lái và nông dân trong vùng tạo ra lượng hàng hóa lớn, đáp ứng nhu cầu của các chợ đầu mối và đủ sức thương lượng với các chủ vựa. CLB qui tụ 100 nông trường viên sản xuất giỏi tham gia. CLB thực hiện hỗ trợ kỹ thuật sản xuất xoài hàng hóa, ứng dụng công nghệ sau thu hoạch tạo ra trái xoài theo qui cách to, đẹp, giữ tươi được lâu trong thời gian bảo quản. Nông trường sông Hậu đã cấp cho CLB 200 triệu đồng dùng để hỗ trợ tín dụng cho các thành viên nâng cao năng lực chăm bón xoài theo phương pháp khoa học. Tại nông trường hiện có 1.875 hộ trồng khoảng 150.000 cây xoài cát Hòa Lộc, trong đó có 80.000 cây đang cho trái với sản lượng 10.000 tấn/năm. Một phần trong số này đã được nông trường bao tiêu, chế biến đóng hộp với thương hiệu Sohafarm để xuất khẩu. Ngoài ra CLB cũng tiến hành xây dựng thương hiệu "Xoài cát Hòa Lộc Sông Hậu" phục vụ cho xuất khẩu. Bên cạnh đó, nông trường thực hiện dự án nâng cao chất lượng trái xoài cát Hòa Lộc với sự hỗ trợ của nhiều nhà khoa học thuộc Sở Khoa học - Công nghệ Cần Thơ, Khoa Nông nghiệp (Trường Đại học Cần Thơ), Viện Nghiên cứu cây ăn quả miền Nam. Các nhà khoa học đã thí nghiệm, ứng dụng từng khâu kỹ thuật tiền thu hoạch như: bơm tưới, tỉa cành, tạo tán, áp dụng chế độ dinh dưỡng mới cho cây… Hàng loạt thí nghiệm về ảnh hưởng hoá chất kháng sâu bệnh, bảo quản trong nhiệt độ thấp để ức chế quá trình chín… được thực hiện theo qui trình khép kín. Kết quả cho thấy, thời gian tươi của trái sau khi rời cây kéo dài đến bốn tuần lễ.

Hình thức mua bán:

CLB làm trung gian kết nối giữa nông dân sản xuất trái cây hoặc thương lái với các chủ vựa ở chợ đầu mối ở TP.HCM hoặc các doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ. Sản phẩm kinh doanh của CLB chủ yếu là xoài. CLB trực tiếp ký hợp đồng làm đại lý mua xoài cho các chủ vựa hoặc các doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ. Người mua trả hoa hồng cho CLB 3% doanh số bán của khách hàng. CLB trực tiếp ký hợp đồng với nông dân hoặc thương lái để tập trung hàng hóa giao cho khách hàng. CLB trích lại 1 % tiền hoa hồng cho nông dân và thương lái ký hợp đồng qua CLB. CLB đã tiêu thụ bình quân 3000 tấn/vụ thu hoạch. CLB cho nông dân và thương lái có ký hợp đồng tiêu thụ mượn vốn kinh doanh và CLB thực hiện dịch vụ thanh toán cho người mua và người bán.

Trách nhiệm của câu lạc bộ:

  • Chịu trách nhiệm tiếp nhận sản phẩm xoài do bên B mang về CLB để đi bán ở các điểm đầu mối.
  • Có trách nhiệm nhận và chi trả số tiền hàng bán được cho Bên B từ chợ đầu mối.
  • Có trách nhiệm trích thưởng cho bên B 1% giá trị hàng hóa tính trên doanh số bán được ở chợ.
  • Có trách nhiệm tạo mọi điều kiện thuận lợi cho Bên B trong quá trình thu gom, phân loại đóng hàng, vận chuyển, cho ứng trước tiền mua hàng, giúp Bên B kiểm tra giải quyết các sự cố hao hụt thất thoát trong quá trình vận chuyển mua bán.

    Trách nhiệm của nông dân và thương lái

  • Có trách nhiệm đăng ký trước các yêu cầu cần được CLB hỗ trợ như: nhu cầu mượn tiền, bến bãi, xe vận chuyển, phương tiện thu hoạch, bao bì, nhãn hiệu để phục vụ công việc thu gom xoài.
  • Có trách nhiệm cung cấp cho CLB các thông tin hàng hóa giao nhận rõ ràng chính xác.
  • Có trách nhiệm hoàn trả cho CLB số tiền đã ứng, mượn trước khi nhận được tiền bán hàng.
  • Có trách nhiệm tuân thủ các qui định và chi trả các dịch vụ mà CLB tổ chức theo yêu cầu của nông dân và thương lái.
  1. Đây là mô hình trung gian sản xuất theo hợp đồng trong tiêu thụ nông sản. CLB đứng ra làm vai trò trung gian giữa người mua và người bán để nhận hoa hồng. Qua nghiên cứu mô hình tiêu thụ trái cây theo hợp đồng của CLB dịch vụ sản xuất trái cây thuộc Nông trường Sông Hậu, chúng ta có nhận xét sau:
  • CLB đã gắn kết giữa nông dân và thương lái với các đầu mối tiêu thụ. Điều này giúp cho người bán bán được giá cao hơn nhờ vào khả năng thương lượng của CLB.
  • CLB đã giúp cho người mua tiếp cận được nơi sản xuất trái cây với số lượng lớn.
  • Người mua và người bán đều có lợi nhờ vào dịch vụ mà CLB cung cấp.


     

  1. Trường hợp tiêu thụ dứa Cayene theo hợp đồng ở TP.HCM

Thực hiện chủ trương chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp, TP.HCM lựa chọn cây dứa Cayene để phát triển trong chương trình 2 cây và 2 con. Theo đánh giá của nhiều nhà khoa học thì đất đai ngoại thành TP.HCM rất phù hợp với trồng dứa.

Tính đến tháng 10/2004, Tp.HCM có 375,05 ha trồng dứa, trong đó có 73,7 ha chuyên sản xuất giống và 144 ha dứa Cayene thương phẩm. Diện tích này chủ yếu ở Nông trường Lê Minh Xuân và Phạm Văn Hai thuộc huyện Bình Chánh. Hộ nông dân trồng dứa không nhiều.

Để phát triển cây dứa trên địa bàn TP.HCM và thực hiện quyết định 80/2002/QĐ-TTg, UBND huyện Bình Chánh tổ chức triển khai mô hình liên kết giữa các đơn vị cung cấp giống, đơn vị bao tiêu sản phẩm và nông dân trồng dứa. Công ty cây trồng Thành phố (nay là công ty TNHH một thành viên cây trồng Thành phố) là đơn vị chủ lực được giao sản xuất chồi giống dứa Cayene và nhân giống bán cho nông dân. Trung tâm khuyến nông của Thành phố phối hợp với Trạm khuyến nông của huyện chịu trách nhiệm xây dựng mô hình trình diễn, hướng dẫn kỹ thuật trồng và chăm sóc dứa cho nông dân. Công ty Tân Hoàng Phát, Công ty xuất nhập khẩu ngũ cốc (Grainco), Công ty cổ phần thực phẩm xuất khẩu Tân Bình chịu trách nhiệm tiêu thụ dứa cho nông dân. Cty cổ phần thực phẩm xuất khẩu Tân Bình đã kí hợp đồng bao tiêu sản phẩm với 2 nông trường trong thời hạn 3-5 năm. Công ty Tân Hoàng Phát tổ chức kí hợp đồng bao tiêu sản phẩm cho người trồng theo phương thức trả trước 30% trị giá hom giống dứa được cung cấp từ Công ty giống cây Thành phố. Ngoài ra công ty cây trồng Thành phố cũng tham gia tiêu thụ dứa cho nông dân với vai trò trung gian.

Để thực hiện chương trình 2 cây và 2 con, Thành phố ban hành Công văn 419/CV-CNN ngày 5/2/2002 về việc hỗ trợ lãi suất cho nông dân vay vốn trồng dứa. Theo quyết định của UBND TP.HCM số 3186/QĐ-UB ngày 30/6/2004 về việc phê duyệt đề án hỗ trợ cho vay trồng dứa. Theo đề án Thành phố sẽ hỗ trợ 607.000 chồi dứa cho 18 hộ với tổng vốn vay là 516 triệu đồng. Tuy nhiên, thực tế chỉ có 8 hộ vay với tổng mức vay 128 triệu đồng, thời hạn vay 42 tháng. TP.HCM hỗ trợ suất cho người trồng dứa bằng cách TP.HCM trích ngân sách trả lãi suất cho người vay, người vay chỉ phải trả tiền vốn.

Đây là mô hình đa chủ thể sản xuất theo hợp đồng, chủ thể tham gia bao gồm doanh nghiệp, người sản xuất, nhà khoa học, ngân hàng và nhà nước. Tuy nhiên, trách nhiệm của các chủ thể tham gia vào hợp đồng tiêu thụ dứa không rõ ràng. Mối quan hệ giữa các bên không chặt chẽ. Các chủ thể tham gia trong hợp đồng không cùng nhau phân bổ lợi ích, rủi ro và quyền quyết định. Công ty cây trồng Thành phố chủ yếu tập trung bán cây giống, còn hướng dẫn kỹ thuật do ngành khuyến nông thực hiện. Doanh nghiệp chế biến tiêu thụ chỉ thu mua sản phẩm đạt chất lượng theo yêu cầu. Mô hình này không có người "nhạc trưởng" chịu trách nhiệm phân bổ lợi ích, rủi ro và quyền quyết định. Mọi rủi ro trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đều do nông dân gánh chịu. Chính vì vậy, sau 2 năm triển khai mô hình này hoàn toàn thất bại.


 

  1. Trường hợp tiêu thụ trái cây theo hợp đồng của doanh nghiệp tư nhân chế biến và xuất khẩu trái cây Hoàng Gia

Doanh nghiệp tư nhân chế biến và xuất khẩu trái cây Hoàng Gia thành lập năm 2002, nằm ở số 2A/1, thị trấn Cái Vồn, huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long. Đây là vùng chuyên canh bưởi năm roi lớn nhất cả nước. Hiện nay, diện tích bưởi năm roi ở huyện Bình Minh trên 4000 ha trong đó 3000 ha đã thu hoạch. Doanh nghiệp hiện có gần 40 nhân viên, trong đó có 17 người ký hợp đồng lao động dài hạn, còn lại là hợp đồng thời vụ.

Khách hàng của doanh nghiệp là các nhà phân phối bán lẻ như Saigon Coopmart, Metro và các doanh nghiệp xuất khẩu, doanh nghiệp nước ngoài. Doanh nghiệp Hoàng Gia ký hợp đồng trực tiếp với nhà phân phối, các doanh nghiệp xuất khẩu, nước ngoài cam kết về số lượng, chủng loại sản phẩm theo yêu cầu của khách hàng.

Để đáp ứng yêu cầu khắt khe của khách hàng, doanh nghiệp đã thực hiện tiêu thụ trái cây theo hợp đồng với chủ nhà vườn. Doanh nghiệp thực hiện thỏa thuận với chủ vườn bằng hợp đồng văn bản hoặc bằng miệng. Doanh nghiệp thực hiện 2 hình thức thu mua: thứ nhất, mua nguyên vườn (mua xô); thứ hai, mua theo phân loại với giá định sẵn. Doanh nghiệp đảm bảo mua cao hơn giá thị trường 300-500 đồng/kg.

Theo thỏa thuận, doanh nghiệp cam kết hỗ trợ vốn và kỹ thuật cho các chủ vườn. Doanh nghiệp không cho nông dân liên kết sản xuất bưởi với mình vay vốn bằng tiền mặt. Vốn đầu tư cho các hộ trồng bưởi được doanh nghiệp đầu tư vào kỹ thuật khuyến nông, vào khâu giống đảm bảo vườn bưởi cho trái đồng đều, sản lượng cao, không sâu bệnh. Để giám sát và hướng dẫn kỹ thuật cho các hộ tham gia ký kết hợp đồng, doanh nghiệp đã hợp đồng với Trung tâm khuyến nông của tỉnh. Trung tâm khuyến nông chịu trách nhiệm cùng với nhân viên của doanh nghiệp thường xuyên theo dõi vườn bưởi, hướng dẫn kỹ thuật chăm sóc, hướng dẫn sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu, hướng dẫn thu hái, bảo quản. Doanh nghiệp còn cấp các túi bao trái để đảm bảo trái bưởi đạt chuẩn về mẫu mã hình dáng. Doanh nghiệp cũng quy định chặt chẽ các hộ ký hợp đồng với doanh nghiệp bắt buộc phải thực hiện đúng quy trình sản xuất.

Doanh nghiệp cũng ký hợp đồng với các nhà khoa học đầu ngành về cây có múi để xây dựng vườn ươm giống đầu dòng cung cấp cho các nhà vườn nhằm đảm bảo chất lượng bưởi đồng đều.

Về hình thức giao nhận hàng, doanh nghiệp áp dụng 2 hình thức: thứ nhất doanh nghiệp trực tiếp tổ chức thu hoạch và vận chuyển sản phẩm về kho; thứ hai, doanh nghiệp nhận sản phẩm tại kho của doanh nghiệp. Tuy nhiên việc phân loại hoàn toàn do doanh nghiệp đảm nhận. Hiện nay, các chủ vườn chủ yếu bán cho doanh nghiệp dưới hình thức bán nguyên vườn, doanh nghiệp tự thu hoạch và vận chuyển về kho. Với hình thức này, doanh nghiệp đã giải quyết được bài toán mà lâu nay các chủ vườn thường gặp phải khi mua bán với thương lái. Đó là trước đây thương lái chủ yếu lựa loại ngon (loại 1, loại 2), còn loại xấu (loại 3, loại 4) nhà vườn không biết bán cho ai.

Mặc dù vậy, nhiều nông dân vẫn không muốn ký hợp đồng bằng văn bản với doanh nghiệp. Do đó, doanh nghiệp áp dụng hình thức thỏa thuận miệng dựa trên sự tin cậy lẫn nhau. Đây là hình thức được xem là phù hợp với tập quán buôn bán ở địa phương.

Hình thức liên kết tiêu thụ trái cây ở doanh nghiệp Hoàng Gia dù có bằng văn bản hay không bằng văn bản thì thỏa thuận này chứa đựng đầy đủ các yêu tố của sản xuất theo hợp đồng. Hình thức này chính là sản xuất theo hợp đồng mô hình tập trung và mô hình phi chính thức. Hợp đồng tiêu thụ trái cây được hình thành xuất phát từ nhu cầu của doanh nghiệp. Ở đây doanh nghiệp đóng vai trò hạt nhân trong tiêu thụ nông sản. Doanh nghiệp Hoàng Gia có đủ tiềm lực kinh tế mạnh và thị trường tiêu thụ. Xét về mặt phân bổ 3 yếu tố lợi ích, rủi ro và quyền quyết định thì cả doanh nghiệp và nông dân đều cùng chia sẻ. Nông dân bán được sản phẩm với giá cả hợp lý, chất lượng ngày càng tốt hơn; doanh nghiệp mua được sản phẩm với số lượng nhiều hơn, chất lượng ổn định, đồng đều.

Khó khăn hiện nay là trình độ nhận thức, kiến thức về thị trường, về pháp luật của các chủ vườn còn thấp. Nông dân xem hợp đồng bằng văn bản là không đáng tin cậy, là không tin tưởng nhau. Do đó, mối liên kết của doanh nghiệp với nông dân chủ yếu dựa trên chữ tín. Đây là khó khăn đối doanh nghiệp khi xử lý vi phạm hợp đồng. Điều này cũng thể hiện tính thiếu chuyên nghiệp trong kinh doanh đối với khách hàng nước ngoài. Ngày nay giao dịch buôn bán trái cây với các khách hàng nước ngoài họ thường yêu cầu về việc truy xét nguồn gốc. Nếu không có hợp đồng với nông dân thì việc truy xét nguồn gốc gặp nhiều khó khăn do không đủ tài liệu chứng minh. Điều này làm cho khách hàng không tin tưởng vào doanh nghiệp.

Khó khăn thứ hai do sản xuất của nông dân manh mún, phân tán nhưng HTX chưa phát triển. Do đó, doanh nghiệp phải thỏa thuận hợp đồng với từng chủ vườn. Hàng tháng doanh nghiệp phải chi một khoản tiền khá lớn để thuê người tới tận các vườn bưởi, cùng giúp họ thu hoạch, phân loại, bao gói. Điều này đã làm tăng chi phí giao dịch cho doanh nghiệp.

Tóm lại, sự thành công mô hình tiêu thụ trái cây theo hợp đồng của doanh nghiệp Hoàng Gia một lần nữa khẳng định không phải bất kỳ doanh nghiệp nào, sản phẩm nào và nông dân nơi đâu cũng có thể liên kết tiêu thụ nông sản bền vững. Chỉ có những doanh nghiệp có năng lực tổ chức, có tiềm lực kinh tế mạnh và hợp đồng phải khiến cả 2 bên cùng hài lòng, cùng có lợi mới có thể đem đến thành công cho một sản xuất theo hợp đồng.


 

  1. Trường hợp tiêu thụ trái cây theo hợp đồng của Công ty cổ phần thương mại Vinamit

Công ty cổ phần thương mại Vinamit, tiền thân là công ty TNHH Đức Thành được thành lập năm 1991. Năm 1994 đổi tên thành Công ty Delta Food; năm 2004 đổi tên thành công ty TNHH Vinamit; và năm 2007 chuyển đổi loại hình doanh nghiệp từ công ty TNHH thành Công ty cổ phần.

Sản phẩm của Vinamit bao gồm các loại rau quả sấy khô như mít, chuối, khoai lang, dứa, khoai môn, bí, …. Hiện nay công ty có một nhà máy đang hoạt động với trên 500 công nhân thường xuyên và trên 3.000 công nhân vào những lúc thời vụ và hai nhà máy đang xây dựng ở Bình Phước và Đăk Lăk. Công ty còn có 200 ha đất nhân giống mít đại trà cung cấp cho khoảng 4.000 hộ trồng trọt bao tiêu theo hợp đồng 8 năm.

Vinamit đã xây dựng các vùng nguyên liệu rộng trên 40.000 hecta được phân bổ tại các tỉnh Bình Dương, Bình Phước, Lâm Đồng, Đắk-lắk, Tây Ninh Đồng Nai, Cà Mau Vĩnh Long Kiên Giang... Vinamit có thể tự chủ trên 50% nguồn nguyên liệu.

Công ty áp dụng hình thức hợp đồng tiêu thụ trái cây như sau: Công ty cung cấp giống và theo dõi suốt quá trình trồng trọt của người được bao tiêu hợp đồng và cuối cùng là thu mua thành phẩm theo giá thị trường. Công ty cũng đồng ý cho người trồng bán mít tươi ra bên ngoài, khi không bán được thì nhà máy sẽ bao hết với giá tối thiểu là 2.000 đồng/kg múi mít. Trên 1ha đất trồng được trên 200 cây mít. Sau thời gian từ 3 đến 5 năm tuổi, mỗi cây mít sẽ cho thu hoạch 80 - 100 trái/năm, với trọng lượng khoảng 10 kg/quả. Như vậy, 1ha trồng mít thu hoạch 140 tấn quả/năm. Với giá tối thiểu công ty mua đã đảm bảo cho người trồng mít thu gần 300 triệu đồng/ha/năm. Hiện nay công ty có khả năng tiêu thụ bình quân khoảng 40 tấn mít múi (200 tấn mít trái)/ngày.

Bên cạnh việc xây dựng nguồn nguyên liệu tập trung, Công ty Vinamit phối hợp với các viện, trường tuyển chọn các giống mít nghệ, mít dừa của Việt Nam thành các bộ sưu tập. Ngoài ra công ty cũng đầu tư vào nghiên cứu khoa học tạo ra giống mới và hướng dẫn kỹ thuật chăm sóc cho nông dân. Công ty xem đây là khâu then chốt tạo ra năng suất và chất lượng sản phẩm.

Sự thành công của trong mô hình tiêu thụ trái cây theo hợp đồng của công ty Vinamit được đánh giá ở 3 khía cạnh:

  • Thứ nhất là doanh nghiệp bắt tay với nhà khoa học, viện nghiên cứu và trường đại học nhằm đưa ra những loại giống cây trồng có năng suất cao và kiểm soát được chất lượng giống.
  • Thứ hai là doanh nghiệp thuê mướn toàn bộ đất của nông dân với mức giá có lợi cho dân, quy hoạch lại, thậm chí thuê mướn nông dân canh tác trên chính mảnh đất đó. Cách làm này sẽ giải quyết được bài toán chuyên canh cho nông dân.
  • Thứ ba là có sự can thiệp của Nhà nước. Nhà nước quy hoạch những khu đất, rừng nghèo, kiệt và khoán hẳn cho các công ty tổ chức canh tác,

    Vinamit đã thực hiện sản xuất theo hợp đồng mô hình tập trung và mô hình đa chủ thể. Vinamit đóng vai trò hạt nhân trong liên kết tiêu thụ trái cây theo hợp đồng. Thành công của Vinamit trong việc thực hiện liên kết 4 nhà là doanh nghiệp đã đặt hàng với nông dân sản xuất nguyên liệu cho mình. Doanh nghiệp làm cầu nối dẫn dắt nhà khoa học và nông dân đến với nhau. Nhà nước đóng vai trò hỗ trợ cho doanh nghiệp phát triển.

    Tóm lại, giống như trường hợp doanh nghiệp tư nhân chế biến và xuất khẩu trái cây Hoàng Gia, hình thức tiêu thụ trái cây theo hợp đồng của Vinamit xuất phát từ nhu cầu của doanh nghiệp. Vinamit đóng vai trò đặt hàng cho nông dân sản xuất, đặt hàng cho các nhà khoa học để họ giải quyết các vấn đề khoa học và kỹ thuật nảy sinh. Ngoài ra nhà nước đã thực hiện được quy hoạch vùng chuyên canh để doanh nghiệp tổ chức sản xuất. Đây là một mô hình phát triển bền vững.


     

  1. Trường hợp tiêu thụ trái cây theo hợp đồng của Công ty cổ phần rau quả Tiền Giang

Công ty cổ phần rau quả Tiền Giang tiền thân là xí nghiệp rau quả Long Định và nông trường Tân Lập được thành lập từ năm 1977. Năm 1986, xí nghiệp rau quả Long Định và nông trường Tân Lập được sáp nhập trở thành Xí nghiệp liên hiệp rau quả Tiền Giang và đến năm 1999 đổi tên thành Công ty rau quả Tiền Giang. Năm 2005, công ty rau quả Tiền Giang thực hiện cổ phần hóa và đổi tên thành công ty cổ phần rau quả Tiền Giang. Sản phẩm chính của công ty là dứa hộp và dứa cô đặc xuất khẩu. Sản lượng của công ty 10.000 tấn/năm với doanh thu ước đạt 100 tỷ đồng. Hiện nay công ty có dây chuyền đông lạnh IQF với công suất 1.500 tấn/năm và dây chuyền nước quả cô đặc với công suất 5.000 tấn/năm.

Trước năm 2003, do công ty quản lý Nông trường Tân Lập nên công ty đã hình thành vùng nguyên liệu với diện tích 3500 ha. Thực hiện chủ trương khoán trong nông lâm, trường quốc doanh theo nghị định 01/CP ngày 04/01/1995, công ty ký kết hợp đồng với các hộ nhận khoán thông qua nông trường làm đại diện. Nội dung cơ bản của hợp đồng trong giai đoạn này là: nông trường cung cấp cho các hộ nhận khoán các vật tư, tiền vốn, hướng dẫn qui trình kỹ thuật, tổ chức quản lý sản xuất và thu mua dứa. Các hộ nhận khoán sản xuất dứa trên diện tích đất nhận khoán và giao nộp sản phẩm dứa cho nông trường theo định mức giao khoán đã được nông trường tính toán (trong thời gian này đất đai hoàn toàn thuộc quyền quản lý của nông trường). Theo hợp đồng, các hộ nhận khoán không được bán sản phẩm ra ngoài nông trường. Giá cả dứa dùng để hạch toán hoàn toàn do công ty quyết định. Hàng năm, công ty cân đối giữa giá trị sản phẩm dứa hộ cung cấp với các khoản hộ đã ứng trước và các khoản nghĩa vụ giao nộp, phần còn lại (nếu có) hộ được nhận thêm, phần thâm hụt (nếu có) bị trừ vào vụ tiếp theo.

Hình thức khoán ở công ty rau quả Tiền Giang phản ánh đúng bản chất hình thức sản xuất theo hợp đồng mô hình trang trại hạt nhân. Trách nhiệm của doanh nghiệp trong trường hợp này là đảm bảo toàn bộ các yếu tố đầu vào và đầu ra cho các hộ nhận khoán. Các hộ nhận khoán của công ty chỉ đóng vai trò người làm công ăn lương. Tuy nhiên qua nhiều năm hợp đồng với nông trường, các hộ nhận khoán nhận thấy rằng việc tính toán của nông trường không được công khai rõ ràng, giá cả dứa nông trường tính toán thấp hơn giá thị trường làm cho các hộ nhận khoán bị thiệt. Do mâu thuẫn lợi ích giữa người nhận khoán và công ty nên dần dần hợp đồng giao khoán bị phá vỡ và công ty mất quyền quản lý đất đai.

Sau năm 2003, đất đai của Nông trường Tân Lập đã chuyển giao quyền sử dụng cho các hộ nhận khoán. Công ty không còn quyền sử dụng diện tích đất này. Do đó, các hộ nhận khoán trước đây không tiếp tục ký kết hợp đồng với doanh nghiệp. Công ty cổ phần rau quả Tiền Giang chuyển sang ký hợp đồng trực tiếp với các thương lái, hoặc hợp tác xã trồng dứa. Như vậy từ chỗ công ty ký hợp đồng với hàng trăm nông hộ trồng dứa (thông qua đại diện là nông trường) thì hiện chỉ còn khoảng 70-80 hợp đồng được ký giữa công ty và thương lái, sản lượng dứa tươi nguyên liệu cung ứng đạt 25.000-35.000 tấn/năm. Theo nội dung hợp đồng, Công ty cổ phần rau quả Tiền Giang (gọi tắt là bên A) ký hợp đồng mua bán dứa với thương lái (gọi tắt là bên B), trong đó bên B bán dứa cho bên A theo số lượng, qui cách, giá cả và tiến độ sản lượng bán theo thời gian được qui định trong hợp đồng. Bên A có trách nhiệm thanh toán tiền bán dứa cho bên B theo số lượng, giá cả và cách thức thanh toán đã thoả thuận trong hợp đồng và theo thực tế. Bên A không đầu tư về vật tư tiền vốn cho bên B, bên A có trách nhiệm kiểm tra giám sát và nhắc nhở bên B thực hiện đúng hợp đồng và kiểm tra chất lượng sản phẩm bên B giao. Trước khi ký hợp đồng giữa công ty và thương lái đều có bàn bạc thảo luận về giá cả, tiêu chuẩn dứa, sản lượng dứa theo loại và thời gian giao nhận sản phẩm cũng như cách thức thanh toán. Việc định giá trong hợp đồng (6 tháng tới) căn cứ vào giá thực tế 6 tháng qua và qui luật biến động giá cả hàng năm, có sự thoả thuận và thống nhất giữa Bên A và Bên B. Mặc dù, giữa hai bên có ràng buộc nhau bằng văn bản, giá cả đã được xác định trước, cố định nhưng công ty hoàn toàn không đóng vai trò gì trong khâu sản xuất. Bản chất của hợp đồng này không phải là hình thức sản xuất theo hợp đồng mà là hợp đồng mua bán thông thường.

Mô hình liên kết tiêu thụ trái cây giữa thương lái và nông dân là hình thức sản xuất theo hợp đồng mô hình phi chính thức. Giữa thương lái và nông dân chủ yếu dựa trên thỏa thuận miệng.

Ngoài cây dứa, năm 2005, công ty cổ phần rau quả Tiền Giang còn triển khai hợp đồng bao tiêu cây nha đam. Vào tháng 8/2005, Công ty cổ phần rau quả Tiền Giang đã ký hợp đồng với 13 hộ dân thuộc huyện Châu Thành trồng cây nha đam trên diện tích hơn 5 ha. Theo hợp đồng, Công ty cổ phần rau quả Tiền Giang sẽ đầu tư giống (600 đồng/cây giống, 25.000 cây giống/ha) và chi phí trồng (5 triệu đồng/ha). Phần sản phẩm thu được người dân sẽ hưởng 70%, còn lại 30% công ty sẽ trừ vào chi phí đầu tư ban đầu; bên hộ chịu phần chăm sóc thu hoạch và giao bán sản phẩm. Tuy nhiên, hình thức này thất bại do công ty không có thị trường tiêu thụ, nên không thu mua và công ty buộc phải bồi thường hợp đồng cho nông dân.

Công ty cổ phần rau quả Tiền Giang đã thất bại khi thực hiện sản xuất theo hợp đồng mô hình tập trung. Mô hình hiện nay không phải mô hình sản xuất theo hợp đồng và cũng không đúng theo nội dung của quyết định 80/2002/QĐ-TTg. Công ty đã chuyển sự liên kết nông dân – công ty sang liên kết nông dân – thương lái – công ty. Điều này có nghĩa chuyển từ liên kết chặt chẽ không có trung gian sang liên kết lỏng lẻo và có trung gian. Công ty hiện nay không đóng bất cứ vai trò gì trong quá trình sản xuất của nông dân và cũng hoàn toàn không kiểm soát được việc thu mua của thương lái. Do đó chất lượng nguyên liệu khó kiểm soát và tình trạng vi phạm hợp đồng cũng sẽ xảy ra khi giá thị trường biến động mạnh.

Tóm lại, hình thức tiêu thụ trái cây theo hợp đồng của công ty cổ phần rau quả Tiền Giang không bền vững. Doanh nghiệp chưa có thị trường vững chắc và doanh nghiệp chưa đầu tư xây dựng vùng nguyên liệu. Do đó, doanh nghiệp không thể có nguồn nguyên liệu có chất lượng và ổn định.


 

  1. Trường hợp tiêu thụ trái cây theo hợp đồng ở HTX bưởi năm roi Mỹ Hòa

HTX bưởi năm roi Mỹ Hòa thành lập tháng 7/2006 với 30 xã viên trên diện tích 40 ha. Ngày 30/6/2007, HTX chính thức đi vào hoạt động. Vào cuối tháng 5/2007, HTX đã ký kết hợp đồng nguyên tắc với Metro Cash & Carry Việt Nam sản xuất 31 ha bưởi theo tiêu chuẩn thực hành sản xuất nông nghiệp tốt châu Âu (EurepGap). Theo nội dung ký kết, Metro Cash & Carry Việt Nam sẽ tài trợ khoảng 40.000 USD để thuê chuyên gia phối hợp cùng nông dân thực hiện các công việc như: phân tích đất, nước vùng sản xuất, xây dựng tài liệu, chuyển giao kỹ thuật sản xuất, kỹ thuật bảo quản, xây dựng nhà kho. Metro chịu trách nhiệm hướng dẫn nông dân làm đúng theo GAP và mời công ty SGS chứng nhận EurepGAP.

HTX ký hợp đồng với các hộ nông dân sản xuất bưởi năm roi theo đúng tiêu chuẩn: trọng lượng trái 1kg trở lên, bưởi không hạt, màu vàng bóng, tép múi vàng, vị chua ngọt, trái không bị trầy xước, u nám, không bị da cám, da lu. Để đảm bảo mẫu mã đẹp, HTX ứng trước vốn cho nông dân để mua túi bao trái với giá 1000 đ/túi.

HTX thực hiện 2 cách bao tiêu bưởi cho xã viên: Cách thứ nhất là mua hết bưởi với giá luôn cao hơn 200 đồng/kg so với giá thị trường tại thời điểm thu mua; cách thứ 2, đánh giá năng suất, mua mão, trả tiền theo lần hái trái. Sau gần 2 năm ra đời, HTX bưởi Năm Roi Mỹ Hòa bao tiêu 23ha bưởi. Theo kế hoạch năm 2009, HTX định bao tiêu lên đến vài trăm ha.

Về khâu tiêu thụ, HTX đã tổ chức được điểm mua bán bưởi sỉ, lẻ tại chợ đầu mối Bình Điền, TP Hồ Chí Minh và đã có mối quan hệ với các doanh nghiệp tiêu thụ và xuất khẩu trái cây như công ty Metro, công ty Giai Việt, công ty Đạt Vinh.

HTX bưởi năm roi Mỹ Hòa đã áp dụng hình thức sản xuất theo hợp đồng mô hình tập trung. Trong đó, HTX đóng vai trò hạt nhân, là người trực tiêu tiêu thụ trái cây theo hợp đồng với nông dân. Ngoài ra, sự thành công của HTX cũng nhờ vào vai trò hỗ trợ của Công ty Metro. Công ty Metro đã hỗ trợ cho nông dân sản xuất trái cây theo GAP. Đây là cơ hội để HTX thu mua được sản phẩm có chất lượng để bán với giá cao hơn. Tuy nhiên, hiện nay số hộ nông dân tham gia HTX và sản xuất theo GAP chưa nhiều nên HTX không đủ hàng để bán, còn nông dân thì có sản phẩm nhưng chất lượng thấp nên chỉ bán được cho thương lái với giá thấp.

Tóm lại, hình thức tiêu thụ trái cây theo hợp đồng ở HTX bưởi năm roi Mỹ Hòa xuất phát từ nhu cầu của một số hộ nông dân. Họ tham gia HTX và cùng nhau sản xuất sản phẩm theo quy trình sản xuất nông nghiệp tốt (GAP). Điều này tạo nên sản phẩm có chất lượng, bán với giá cao hơn. Tuy nhiên, hiện nay nhận thức của nông dân về HTX và về GAP chưa cao. Điều này đòi hỏi các cấp chính quyền địa phương cần phải hỗ trợ để nâng cao nhận thức cho nông dân và khuyến khích họ tham gia HTX và sản xuất theo GAP. Chỉ có tham gia HTX thì người nông dân sản xuất bưởi năm roi ở Mỹ Hòa mới có thể phát triển bền vững được.


 

  1. Mô hình Liên kết Gap Sông tiền

Ngày 21/3/2005 Ban điều hành "Liên kết sản xuất, tiêu thụ trái cây an toàn khu vực sông Tiền" được thành lập, gọi tắt là Liên kết GAP sông Tiền. Liên kết GAP sông Tiền bước đầu bao gồm các thành viên sản xuất trái cây chủ lực 6 tỉnh Đồng Tháp, Vĩnh Long, Bến Tre, Tiền Giang, Long An và TP.HCM; sau đó thêm một tỉnh là Trà Vinh. Liên kết GAP Sông Tiền là một tổ chức xã hội nghề nghiệp tự nguyên, phi chính phủ, tự trang trải kinh phí, không vì mục tiêu lợi nhuận.

Mục tiêu trọng tâm của liên kết là xây dựng và tổ chức thực hiện mối liên kết giữa các nhà, nhất là nhà sản xuất và doanh nghiệp nhằm phát triển sản xuất và kinh doanh trái cây an toàn theo quy trình thực hiện sản xuất nông nghiệp tốt (GAP), đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế thế giới. Hiện nay liên kết GAP sông Tiền có 60 thành viên, trong đó có 15 HTX sản xuất và kinh doanh trái cây, 20 nhà vườn, 12 công ty sản xuất và kinh doanh trái cây, 7 Sở nông nghiệp và PTNT, 3 tổ chức phi chính phủ. Liên kết GAP sông Tiền đã hình thành các tổ kỹ thuật ở các HTX để chịu trách nhiệm kỹ thuật cho HTX; đào tạo huấn luyện kỹ thuật trồng và chăm sóc cây ăn trái; hoạch định chiến lược và xây dựng thương hiệu. Mô hình liên kết GAP đã triển khai thực nghiệm sản xuất trái cây tại 5 tổ sản xuất của 5 HTX:

  • Tổ GAP thanh long của HTX Dương Xuân (Long An) có 27/55 xã viên.
  • Tổ GAP thanh long HTX Chợ Gạo (Tiền Giang) có 13/22 xã viên.
  • Tổ GAP bưởi da xanh HTX Mỹ Thạnh An (Bến Tre) có 22/42 xã viên.
  • Tổ GAP xoài cát Hòa Lộc (Tiền Giang) có 21/70 xã viên.
  • Tổ măng cụt-cam sành HTX 14/10 (Vĩnh Long) có 42/54 xã viên.

    Sau 3 năm thực hiện liên kết GAP sông Tiền, mô hình này còn gặp rất nhiều khó khăn. Hầu hết các HTX đều mới thành lập với số vốn rất ít. Vốn điều lệ của HTX Dương Xuân là 56 triệu đồng; HTX thanh long Chợ Gạo là 38 triệu đồng. Các HTX tham gia sản xuất theo GAP đều không có thị trường đầu ra ổn định. Vai trò của doanh nghiệp tham gia hết sức mờ nhạt. Không có doanh nghiệp nào ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm cho HTX. Ban điều hành liên kết GAP sông Tiền chủ yếu mới tập trung vào tổ chức hội thảo, hội nghị. Điều này đã nâng cao nhận thức của nông dân trong sản xuất theo quy trình sản xuất nông nghiệp tốt. Tuy nhiên, để sản xuất theo GAP nông dân cần phải bỏ tiền đầu tư, mua sắm thiết bị…Do đó, nông dân chưa thấy được lợi ích khi tham gia vào liên kết sông Tiền nên số hộ tham gia rất ít.

    Tóm lại, mô hình Liên kết GAP sông Tiền chỉ mới tập trung vào khâu sản xuất mà chưa xuất phát từ thị trường. Liên kết GAP sông Tiền chưa phát huy được vai trò hạt nhân của doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ. Mô hình này không thể phát triển được nếu các doanh nghiệp không đầu tư, đặt hàng cho các HTX sản xuất sản phẩm theo đúng yêu cầu của mình.


     

  1. Đánh giá chung và những vấn đề nảy sinh trong hợp đồng tiêu thụ trái cây

    1. Đánh giá cơ sở pháp lý tác động đến việc tiêu thụ trái cây theo hợp đồng

Kể từ khi triển khai thực hiện quyết định 80/2002/QĐ-TTg đến nay, tình trạng không thực hiện theo hợp đồng đã được ký kết diễn ra khá phổ biến. Doanh nghiệp đổ lỗi cho nông dân và ngược lại. Một số chuyên gia cho rằng do chế tài chưa đủ mạnh nên dẫn đến tình trạng vi phạm hợp đồng chưa xử lý được. Hiện nay, Việt Nam đã ban hành các văn bản pháp luật để điều chỉnh mối quan hệ hợp đồng giữa nông dân và doanh nghiệp như Bộ Luật dân sự năm 2005, Luật thương mại năm 2005, Nghị định 135/2005/NĐ-CP, Quyết định 80/2002/QĐ-TTg,…

Bộ Luật dân sự năm 2005 đã điều chỉnh tương đối đầy đủ các quan hệ giao dịch dân sự. Hợp đồng tiêu thụ nông sản giữa nông dân và doanh nghiệp có thể xem là một hợp đồng dân sự cho nên khi có tranh chấp hai bên có thể kiện nhau ra tòa dân sự. Ví dụ, trường hợp hai nông dân ký hợp đồng trồng cây nha đam cho công ty cổ phần rau quả Tiền Giang, nhưng công ty không mua hàng gây thiệt hại cho nông dân và họ đã kiện ra tòa dân sự và tòa đã xử doanh nghiệp phải bồi thường cho nông dân. Tuy nhiên, trong thực tiễn khi nông dân vi phạm hợp đồng thì rất ít doanh nghiệp kiện nông dân ra tòa. Mặc dù, Bộ Luật dân sự đã quy định chặt chẽ quyền và nghĩa vụ dân sự giữa các chủ thể tham gia vào giao dịch dân sự, tuy vậy, xét trên khía cạnh hợp đồng tiêu thụ nông sản thì Bộ Luật dân sự còn có một số hạn chế như sau:

  • Thứ nhất, theo quy định ở mục 9, chương XVIII từ điều 547 đến điều 566 đã quy định về "Hợp đồng gia công". Hợp đồng gia công là trường hợp sản xuất theo hợp đồng mô hình tập trung. Tuy nhiên các quy định của Bộ Luật chưa quy định rõ trường hợp đặc biệt là hợp đồng gia công trong nông nghiệp.
  • Thứ hai, "hợp đồng giao khoán" có bản chất mô hình trang trại hạt nhân sản xuất theo hợp đồng trong nông nghiệp, nhưng Bộ Luật dân sự năm 2005 chưa đề cập. Trong Bộ Luật này từ điều 501 đến điều 511 có quy định về "hợp đồng thuê khoán tài sản". Đối tượng hợp đồng này có liên quan đất đai, rừng, mặt nước, súc vật,…Tuy nhiên, bản chất hợp đồng này "thuê mua – Leasing", khác với sản xuất theo hợp đồng (contract farming).
  • Thứ ba, Bộ Luật dân sự chưa làm rõ quyền sở hữu tài sản trong trường hợp giữa doanh nghiệp và nông dân cùng đầu tư sản xuất nông sản. Về mặt lý luận, sản xuất theo hợp đồng chỉ thành công khi xây dựng được cơ chế phân bổ lợi ích, rủi ro và quyền quyết định một cách rõ ràng. Để phân bổ 3 yếu tố này thì điều kiện quan trọng nhất là phải xác lập quyền sở hữu tài sản của mỗi bên mà ở đây chính là quyền sở hữu nông sản sau khi thu hoạch. Nông sản được sản xuất theo hợp đồng thuộc quyền sở hữu chung của doanh nghiệp và nông dân. Do vậy, cần phải có quy định cụ thể trong trường hợp này để giữa doanh nghiệp và nông dân có thể cùng chia sẻ lợi ích, rủi ro và quyền quyết định.

    Luật Thương mại năm 2005 ở mục 1 và mục 2 chương II đã quy định về hoạt động mua bán hàng hóa, quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa và mục 1 chương VI quy định về gia công thương mại. Luật thương mại đã quy định cụ thể quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các chủ thể tham gia giao dịch. Theo điều 178, "Gia công trong thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhận gia công sử dụng một phần hoặc toàn bộ nguyên liệu, vật liệu của bên đặt gia công để thực hiện một hoặc nhiều công đoạn trong quá trình sản xuất theo yêu cầu của bên đặt gia công để hưởng thù lao" [8]. Vậy, sản xuất hợp đồng theo mô hình tập trung là một dạng hợp đồng gia công thương mại vì theo hình thức này người nông dân nhận giống, phân bón, thức ăn chăn nuôi, thủy sản… để sản xuất ra sản phẩm theo yêu cầu của doanh nghiệp để hưởng thù lao. Điều 181 và điều 182, cũng quy định về quyền và nghĩa vụ của hai bên. Tuy vậy, trong thực tiễn hiện nay các bên tham gia hợp đồng chưa xem hợp đồng tiêu thụ nông sản là là hợp đồng gia công thương mại nông sản.

    Nghị định của Chính phủ số 135/2005/NĐ-CP ngày 08/11/2005, về "giao khoán đất nông nghiệp, đất rừng sản xuất và đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản trong các nông trường quốc doanh, lâm trường quốc doanh" có quy định một số nội dung liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong hợp đồng giao khoán.

    Mục d và đ khoản 1 điều 9 có quy định nghĩa vụ của bên giao khoán như sau:

    "d) Tiêu thụ sản phẩm cho bên nhận khoán theo hợp đồng đã ký;

    đ) Quản lý, chỉ đạo quá trình sản xuất, kinh doanh, thực hiện các hoạt động khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, chế biến và tiêu thụ sản phẩm; dịch vụ kịp thời vật tư, tiền vốn phục vụ cho quá trình sản xuất theo các định mức kinh tế, kỹ thuật và hợp đồng đã ký;" [1].

    Mục a, khoản 2 điều 9 quy định quyền của bên giao khoán:

    "a) Kiểm tra, giám sát việc thực hiện hợp đồng khoán, đảm bảo thực hiện đúng pháp luật về đất đai, pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, pháp luật về thủy sản;" [1].

    Mục a và b khoản 1 điều 10 quy định nghĩa vụ bên nhận khoán như sau:

    "a) Sử dụng đất, rừng nhận khoán đúng mục đích, đúng quy hoạch; chịu sự hướng dẫn, kiểm tra, giám sát của bên giao khoán về kế hoạch sản xuất, quy trình kỹ thuật và chất lượng sản phẩm trong quá trình nhận khoán;

    b) Thanh toán các khoản chi phí sản xuất, dịch vụ cho bên giao khoán theo hợp đồng đã ký;" [1].

    Mục a và b khoản 2 điều 10 quy định quyền của bên nhận khoán như sau:

    "a) Nhận đủ hồ sơ hợp đồng giao khoán, tiếp nhận các hoạt động dịch vụ khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, chế biến và tiêu thụ sản phẩm, vật tư, tiền vốn theo hợp đồng giao khoán đã ký;

    b) Nhận giá trị sản phẩm khi thu hoạch hoặc khai thác tương ứng với vốn, lao động đã đầu tư và 100% giá trị sản phẩm vượt khoán theo hợp đồng đã ký;" [1].

    Như vậy, theo quy định này thì hợp đồng giao khoán chính là sản xuất theo hợp đồng – mô hình trang trại hạt nhân. Tuy vậy, trong thực tiễn hiện nay các doanh nghiệp, trang trại và nhà nước chưa xem "khoán" là hình thức sản xuất theo hợp đồng.

    Nghị định 135/2005/NĐ-CP có quy định về quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong hợp đồng giao khoán nhưng thực tế nhiều doanh nghiệp chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình, như trường hợp công ty cổ phần rau quả Tiền Giang trước năm 2003. Ngoài ra, các doanh nghiệp này cũng không thực hiện việc cung cấp đầu vào cho hộ nhận khoán.

    Ngày 24/6/2002 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định của số 80/2002/QĐ-TTg về Chính sách khuyến khích tiêu thụ hàng hóa thông qua hợp đồng. Quyết định này bao gồm 10 điều quy định về các hình thức hợp đồng tiêu thụ nông sản, các chính sách khuyến khích doanh nghiệp ký hợp đồng với nông dân như chính sách về đầu tư, đất đai, tín dụng, xúc tiến thị trường, thương mại…Xét về tổng thể, việc ban hành Quyết định 80/2002/QĐ-TTg là một chủ trương đúng đắn của chính phủ. Tuy vậy, Quyết định này có một số hạn chế khó khả thi trong thực tế như sau:

    "Hợp đồng tiêu thụ nông sản hàng hoá ký giữa các doanh nghiệp với người sản xuất theo các hình thức:

  • Ứng trước vốn, vật tư, hỗ trợ kỹ thuật, công nghệ và mua lại nông sản hàng hoá;
  • Bán vật tư mua lại nông sản hàng hoá;
  • Trực tiếp tiêu thụ nông sản hàng hoá;
  • Liên kết sản xuất: hộ nông dân được sử dụng giá trị quyền sử dụng đất để góp vốn cổ phần, liên doanh, liên kết với doanh nghiệp hoặc cho doanh nghiệp thuê đất sau đó nông dân được sản xuất trên đất đã góp cổ phần, liên doanh, liên kết hoặc cho thuê và bán lại nông sản cho doanh nghiệp, tạo sự gắn kết bền vững giữa nông dân và doanh nghiệp" [10].

    Như vậy, về cấu trúc thì Quyết định này mới đưa ra một quan hệ hợp đồng là giữa doanh nghiệp và người sản xuất nông nghiệp. Đối với các hình thức ký hợp đồng được nêu thì bản chất có 3 dạng: dạng thứ nhất, hình thức đầu tiên là sản xuất theo hợp đồng; dạng thứ hai, hình thức thứ 2 và thứ 3 là hợp đồng tiêu thụ sản phẩm (marketing contract); và dạng thứ ba, hình thức cuối cùng chính là hình thức góp vốn đầu tư hoặc hợp đồng cho thuê tài sản. Bản chất của các hình thức này khác nhau cho nên quyền và nghĩa vụ của người mua và người bán có khác nhau. Do vậy khi triển khai Quyết định 80/2002/QĐ-TTg trong thực tế không khả thi.

    Trong điều 4, điều 5 và điều 6 của Quyết định 80/2002/QĐ-TTg liên quan đến nội dung, hình thức, quyền và nghĩa vụ giữa các bên tham gia hợp đồng hiện nay không còn phù hợp với Bộ Luật dân sự năm 2005 và Luật Thương mại năm 2005. Ví dụ Quyết định này có nêu: "Hợp đồng tiêu thụ nông sản hàng hoá được Ủy ban nhân dân xã xác nhận hoặc phòng công chứng huyện chứng thực" [10]. Bộ Luật dân sự năm 2005 và Luật Thương mại năm 2005 không quy định về việc phải công chứng, chứng thực hợp đồng mua bán. Một số chuyên gia cho rằng: "Quyết định 80 của Thủ tướng Chính phủ quy định tương đối chi tiết những vấn đề có thể phát sinh trong quá trình thực hiện, nhưng "hợp đồng" ấy lại chỉ cần UBND xã hoặc Phòng Công chứng huyện chứng thực nên không đủ uy lực ràng buộc các bên cùng liên đới" [2]. Điều này không đúng vì không thể lý giải được tại sao rất nhiều hợp đồng tiêu thụ nông sản không cần xác nhận của chính quyền cấp xã nhưng vẫn được thực hiện một cách nghiêm túc.

    Tóm lại, cơ sở pháp lý để xác lập quan hệ hợp đồng nói chung và quan hệ hợp đồng trong tiêu thụ trái cây nói riêng đã hình thành và ngày càng hoàn thiện. Tuy vậy, các văn bản pháp luật hiện nay chưa rõ ràng, cụ thể và đồng bộ để giải quyết quan hệ hợp đồng trong tiêu thụ nông sản giữa doanh nghiệp và nông dân. Thực tiễn đã chứng minh tình trạng phá vỡ hợp đồng diễn ra khá phổ biến nhưng cơ sở pháp lý chưa đủ mạnh để giải quyết. Ngoài ra, tình trạng phá vỡ hợp đồng một phần do nhận thức về pháp luật còn yếu của các chủ thể tham gia hợp đồng, đặc biệt là nông dân. Hợp đồng tiêu thụ nông sản dù có chặt chẽ đến đâu, pháp lý có đầy đủ đến đâu nhưng việc không tuân thủ pháp luật của các chủ thể tham gia thì hợp đồng này vẫn không thể thực thi được trong thực tế.


     

  1. Đánh giá chung về tiêu thụ trái cây theo hợp đồng trong nông thôn Việt Nam

    1. Đánh giá về chủ thể tham gia tiêu thụ trái cây theo hợp đồng

Hình thức sản xuất theo hợp đồng đã xuất hiện trước và sau khi có quyết định 80/2002/QĐ-TTg. Hình thức này rất đa dạng nếu xét theo cách phân loại trên thì Việt Nam có đầy đủ tất cả các mô hình như tập trung, trang trại hạt nhân, phi chính thức, đa chủ thể và trung gian.

Mô hình tập trung phần lớn xuất phát từ nhu cầu của các doanh nghiệp chế biến như doanh nghiệp Hoàng Gia, Công ty cổ phần thương mại Vinamit. Chủ thể tham gia hợp đồng chủ yếu là doanh nghiệp và nông dân. Trong đó, trách nhiệm của doanh nghiệp rất lớn từ khâu xuống giống đến khâu thu hoạch. Trong mô hình này quyền quyết định của nông dân đối với việc sản xuất bị giảm đi nhưng lợi ích sẽ được đảm bảo. Mô hình này phù hợp trong trường hợp tài sản có tính chuyên biệt hay nói khác đi là sản phẩm có tính đặc thù.

Mô hình trang trại hạt nhân ở Việt Nam chủ yếu được hình thành do quá trình đổi mới nông, lâm trường quốc doanh như mô hình khoán ở công ty cổ phần rau quả Tiền Giang. Những nông dân tham gia hợp đồng phần lớn trước kia là người lao động của doanh nghiệp. Tuy nhiên, mô hình khoán ở công ty rau quả Tiền Giang thất bại do trách nhiệm và quyền lợi trong giao, nhận khoán chưa rõ ràng.

Mô hình phi chính thức chủ yếu là mối quan hệ giữa nông dân và thương lái. Nông dân tham gia trong mô hình phần lớn là những nông nghèo không đủ khả năng đảm bảo các yếu tố đầu vào cần thiết cho sản xuất nông nghiệp, do đó họ phải thực hiện sản xuất hợp đồng với thương lái. Tuy nhiên, mô hình này không phát triển trong phạm vi lớn, vượt quá giới hạn cộng đồng.

Mô hình đa chủ thể chủ yếu xuất hiện từ khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 80/2002/QĐ-TTg. Chủ thể tham gia trong mô hình bao gồm nhà nước, nhà doanh nghiệp, nhà nông và nhà khoa học. Việt Nam thường gọi là mô hình "liên kết 4 nhà". Mô hình này chưa phát huy hiệu quả vì chưa xác định được vai trò hạt nhân của các chủ thể trong quan hệ hợp đồng. Phần lớn các mô hình đa chủ thể chưa gắn liền với thị trường tiêu thụ vì những chủ thể chính của mô hình chủ yếu nằm ở khâu sản xuất. Liên kết GAP sông Tiền chỉ tập trung ở khâu sản xuất. Trong khi đó đầu ra mới quyết định sự thành công của mô hình. Thực tiễn đã chứng minh, công ty cổ phần thương mại Vinamit và doanh nghiệp tư nhân chế biến và xuất khẩu trái cây Hoàng Gia thành công trong việc tiêu thụ trái cây theo hợp đồng là do các doanh nghiệp này có tiềm lực kinh tế mạnh, có thị trường tiêu thụ. Họ chính là người tổ chức lại quá trình sản xuất cho nông dân. Các doanh nghiệp yếu kém, thị trường không ổn định thì không thể tiêu thụ trái cây theo hợp đồng thành công như công ty cổ phần rau quả thực phẩm Tân Bình, công ty cổ phần rau quả Tiền Giang.

Mô hình trung gian, chủ thể trung gian chủ yếu là HTX nhưng bản thân những HTX phần lớn chưa đủ khả năng thực hiện vai trò của mình, chưa thực sự là cầu nối giữa doanh nghiệp và nông dân. Các HTX tham gia vào Liên kết GAP sông Tiền đều mới thành lập, vốn điều lệ ít, chưa đủ khả thu hút các nhà vườn tham gia. Mô hình qua trung gian thương lái cũng là mô hình không bền vững vì thương lái không quan tâm nhiều đến chất lượng sản phẩm và mối quan hệ giữa thương lái với nông dân rất lỏng lẻo, không có gì đảm bảo chắc chắn họ sẽ tiêu thụ hết sản phẩm cho nông dân.

Như vậy, thực tế đã chứng minh hiệu quả sản xuất theo hợp đồng sẽ tùy thuộc vào việc áp dụng mô hình nào trong trường hợp nào là phù hợp. Tuy nhiên, dù bất cứ mô hình nào thì vai trò hạt nhân của doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ cũng quyết định sự thành công của sản xuất theo hợp đồng.


 

  1. Đánh giá về cơ chế thực hiện hợp đồng

Phần phân tích ở trên chỉ là một cố gắng tách biệt ra từng mô hình để làm rõ bản chất của nó. Trong thực tế, các mô hình lồng ghép lẫn nhau, ngay cả vừa áp dụng hình thức giao dịch theo hợp đồng, vừa áp dụng hình thức giao dịch giao sau hoặc giao ngay. Chính vì vậy cơ chế hoạt động cũng rất đa dạng và phong phú. Sản xuất theo hợp đồng thành công hoặc thất bại do sự phân bổ lợi ích, rủi ro và quyền quyết định.

Đối với mô hình tập trung, doanh nghiệp hoặc HTX với tư cách người mua trực tiếp là người khởi xướng việc sản xuất theo hợp đồng. Xét về khía cạnh phân bổ lợi ích thì người sản xuất được nhận toàn bộ tiền công lao động và phần khấu hao tài sản do đóng góp đất đai, chuồng trại vào sản xuất; đối với người mua được nhận lại toàn bộ giá trị đã đầu tư cho người sản xuất. Về khía cạnh rủi ro, hai bên cùng chia sẻ rủi ro cho trách nhiệm mà mình đảm nhận. Đối với người sản xuất thì chịu rủi ro trong quá trình sản xuất và người mua chịu rủi ro về thị trường. Tuy nhiên, thường người mua còn hỗ trợ một phần rủi ro về sản xuất cho người sản xuất. Về khía cạnh quyền quyết định thì trong mô hình này quyền quyết định phần lớn thuộc về người mua. Người sản xuất có quyền quyết định tham gia hoặc không tham gia ký kết hợp đồng với doanh nghiệp.

Đối với mô hình trang trại hạt nhân, việc phân bổ rủi ro và quyền quyết định giống như mô hình tập trung, nhưng việc phân bổ lợi ích có khác. Trong mô hình này người sản xuất nhận được giá trị đối với toàn bộ công lao động và giá trị thu được vượt hơn so với dự kiến ban đầu.

Đối với mô hình đa chủ thể, mỗi chủ thể tham gia vào mô hình sẽ được phân bổ về mặt lợi ích, rủi ro và quyền quyết định đối với trách nhiệm mà mình đảm nhận.

Đối mô hình phi chính thức, người sản xuất toàn quyền quyết định đối với việc sản xuất, người mua ít tham gia vào khâu sản xuất. Người mua sẽ gặp rủi ro lớn hơn khi người bán không thực hiện trách nhiệm của mình. Về việc phân bổ lợi ích thì người mua chỉ nhận lại phần giá trị mà mình đã đầu tư còn người sản xuất nhận toàn bộ giá trị còn lại.

Đối với mô hình trung gian, người sản xuất, người mua và người trung gian cùng chia sẻ lợi ích mà do công việc của mình mang lại. Về khía cạnh quyền quyết định, người trung gian đại điện cho người mua và người bán để thực hiện quyền quyết định cho người người mua và người bán. Về phân bổ rủi ro tập trung vào người sản xuất và người mua, còn người trung gian thường ít chịu rủi ro.

Trong tất cả các mô hình thì quyền quyết định phân bổ lợi ích chủ yếu do người mua đảm nhận. Chính vì thế, những doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ nào đủ khả năng phân phối lợi ích tốt nhất cho người sản xuất thì người sản xuất sẵn sàng thực hiện sản xuất theo hợp đồng. Đây cũng là yếu tố quyết định sự thành công của mô hình sản xuất theo hợp đồng.


 

  1. Đánh giá về điều kiện phát triển

Phần lớn nông dân tham gia sản xuất theo hợp đồng ở Việt Nam đều có quy mô sản xuất manh mún, nhỏ lẻ. Điều này đã cản trở sự phát triển của mô hình sản xuất theo hợp đồng. Doanh nghiệp tư nhân sản xuất và xuất khẩu trái cây Hoàng Gia phải thuê nhiều nhân công và thuê cộng tác viên khuyến nông ở địa phương theo dõi từng nhà vườn. Điều này là tăng thêm chi phí dẫn đến khó đảm bảo việc mua sản phẩm cho nông dân với giá cao hơn. Do đó để phát triển mô hình tiêu thụ trái cây theo hợp đồng thì các nhà vườn phải liên kết lại thành lập HTX.

Mô hình tiêu thụ trái cây theo hợp đồng chỉ có thể phát triển được khi doanh nghiệp chế biến tiêu thụ có thị trường ổn định và có tiềm lực kinh tế mạnh để đầu tư cho nông dân sản xuất. Đồng thời doanh nghiệp cũng chính là người thuê các nhà khoa học giải quyết vấn đề kỹ thuật công nghệ nảy sinh vì bản thân nông dân không đủ khả năng thuê các nhà khoa học.


 

  1. Những nguyên nhân thành công và thất bại tiêu thụ trái cây theo hợp đồng trong nông thôn Việt Nam

Về cơ cấu tổ chức, sản xuất theo hợp đồng trong thời gian qua chỉ thành công khi vai trò của các doanh nghiệp với tư cách là người mua được xác định rõ ràng như trường hợp Công ty cổ phần thương mại Vinamit, doanh nghiệp Hoàng Gia. Sự thất bại của hình thức sản xuất theo hợp đồng trong thời gian qua chủ yếu là do chưa xác định được vai trò của các bên tham gia giao dịch. Trong trường hợp giao dịch giữa doanh nghiệp và nông dân có xác nhận của UBND cấp xã thì vai trò của cơ quan này cũng không được xác định một cách rõ ràng. Chính vì thế việc xác nhận trong hợp đồng của chính quyền cấp xã chỉ mang tính hình thức. Trong giao dịch theo hình thức sản xuất theo hợp đồng giữa doanh nghiệp và nông dân thì vai trò của nhà nước rất quan trọng vì nó sẽ góp phần thúc đẩy quan hệ giữa hai bên, nhưng trong thực tế điều này chưa thực hiện được.

Về cơ chế vận hành, nguyên nhân của thất bại của mô hình sản xuất theo hợp đồng trong thời gian qua chủ yếu là do thiếu cơ chế nhà nước đủ mạnh. Quyết định 80/2002/NĐ-CP chưa phân loại được các hình thức khác nhau trong sản xuất theo hợp đồng. Ngoài ra các văn bản pháp lý hiện nay chưa xem hình thức khoán trong nông, lâm trường quốc doanh là một dạng của hình thức sản xuất theo hợp đồng. Một nguyên nhân quan trọng mà dẫn đến việc sản xuất theo hợp đồng không thành công chính là cơ chế giá linh hoạt theo kiểu "thuyền lên thì nước lên" để bảo vệ cho người nông dân. Đó là khi giá thị trường cao hơn giá hợp đồng thì mua theo giá thị trường còn giá thị trường thấp hơn giá hợp đồng thì mua theo giá hợp đồng. Đây là hình thức mua theo giá sàn để bảo hộ cho người nông dân. Cơ chế này chỉ thực hiện bởi cơ quan nhà nước chứ không thể giao cho doanh nghiệp thực hiện vì doanh nghiệp là một đơn vị sản xuất kinh doanh, không có chức năng bảo hộ cho nông dân.

Về điều kiện vật chất, hình thức sản xuất theo hợp đồng thành công ở những doanh nghiệp có đủ thị trường tiêu thụ nông sản và có tiềm lực về tài chính để cung cấp các yếu tố đầu vào cho người sản xuất. Đây là yếu tố quan trọng quyết định sự thành công của mô hình sản xuất theo hợp đồng. Sự thất bại của mô hình sản xuất theo hợp đồng trong thời gian qua chủ yếu là do nền sản xuất nông nghiệp Việt Nam có quá manh mún, nhỏ lẻ nên số lượng nông sản hàng hóa ít. Do đó nông dân không quan tâm đến sản xuất theo hợp đồng. Trong khi đó HTX chưa phát triển mạnh để tập hợp nông dân hình thành vùng sản xuất hàng hóa lớn.


 

  1. Những vấn đề nảy sinh trong tiêu thụ trái cây theo hợp đồng trong nông thôn Việt Nam

Vấn đề thứ nhất, doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ chưa thể hiện vai trò hạt nhân trong các mô hình sản xuất theo hợp đồng.

Kinh nghiệm thành công của mô hình sản xuất theo hợp đồng chính là do các doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ đã thực hiện tốt vai trò của mình. Để thực hiện việc sản xuất theo hợp đồng, doanh nghiệp cam kết thu mua toàn bộ sản phẩm cho nông dân và thực hiện tốt việc cung cấp đầu vào, tổ chức sản xuất, hướng dẫn kỹ thuật, kiểm tra và giám sát sản xuất. Chính việc cùng tham gia trong quá trình sản xuất với nông dân đã đảm bảo cho việc thực thi hợp đồng đạt hiệu quả cao. Kinh nghiệm các nước trên thế giới dù sản xuất theo hợp đồng theo mô hình nào thì vai trò hạt nhân vẫn là doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ. Điều này có nghĩa doanh nghiệp đã giải quyết được 3 vấn đề cơ bản mà bản thân người nông dân không giải quyết được, đó là "thị trường – vốn – công nghệ" [5]. Một trong những nguyên nhân mà các doanh nghiệp chưa quan tâm đến sản xuất theo hợp đồng chính là do bản thân doanh nghiệp chưa quan tâm đến chất lượng sản phẩm, đặc biệt chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm. Thực tiễn đã chứng minh, doanh nghiệp Hoàng Gia và công ty cổ phần Vinamit muốn chất lượng sản phẩm đạt yêu cầu để chế biến xuất khẩu nên các doanh nghiệp này đã tích cực tham gia sản xuất theo hợp đồng với nông dân.

Vấn đề thứ hai, quan hệ hợp đồng không bình đẳng và cơ chế phân bổ lợi ích, rủi ro và quyền quyết định giữa các chủ thể chưa được xác lập rõ ràng.

Quan hệ hợp đồng phải đảm bảo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng và đôi bên cùng có lợi. Trong giao dịch nông sản thông qua hình thức sản xuất theo hợp đồng, các bên phải xác lập được cơ chế phân bổ lợi ích, rủi ro và quyền quyết định. Đây là 3 yếu tố quan trọng giúp cho sản xuất theo hợp đồng có hiệu quả và hiệu lực. Ở Việt Nam, việc thực hiện sản xuất theo hợp đồng không xuất phát từ việc phân bổ 3 yếu tố lợi ích, rủi ro và quyền quyết định. Điều này có thể lý giải được vì sao tình trạng phá vỡ hợp đồng diễn ra khắp nơi. Trong thời gian qua nhiều doanh nghiệp ký hợp đồng theo hình thức giá sàn và mua theo giá thị trường là không phù hợp với cơ chế thị trường. Theo kinh nghiệm các nước, việc mua theo giá sàn là nhiệm vụ của nhà nước, không phải của doanh nghiệp. Đây không phải là mô hình bền vững vì đã vi phạm nguyên tắc bình đẳng trong việc phân chia lợi ích, rủi ro và quyền quyết định. Bộ Luật dân sự, Luật Thương mại, Nghị định 01/CP, Nghị định 135/2005/NĐ-CP và Quyết định 80/2002/QĐ-TTg được ban hành, nhưng chưa đầy đủ và không thống nhất trong xử lý các quan hệ hợp đồng dẫn đến cùng một hành vi có sự điều chỉnh khác nhau. Ví dụ, một doanh nghiệp tư nhân có hàng trăm héc ta "giao khoán" cho hộ nông dân thì không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định 135/2005/NĐ-CP, nhưng bản chất của việc giao khoán này không khác trường hợp doanh nghiệp nhà nước giao khoán. Ngoài ra, bản chất của hình thức giao dịch sản xuất theo hợp đồng trong tiêu thụ nông sản hoàn toàn khác với giao dịch giao ngay (buôn bán trực tiếp hàng hóa ở chợ) hoặc giao dịch "giao sau" (buôn bán nông sản qua Sở giao dịch hàng hóa). Do đó không thể sử dụng cơ chế của hai hình thức giao dịch này áp dụng cho hình thức sản xuất theo hợp đồng. Tuy nhiên, trong thực tiễn hiện nay, các nhà hoạch định chính sách, các doanh nghiệp và nông dân chưa nhận thức đầy đủ sự khác biệt này. Trong quá trình xác lập cơ chế giao dịch, họ không dựa trên sự phân bổ 3 yếu tố lợi ích, rủi ro và quyền quyết định mà chủ yếu dựa trên cơ chế giá. Cơ chế giá chỉ phù hợp trong điều chỉnh giao dịch giao ngay và giao sau. Như vậy, một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự thất bại của sản xuất theo hợp đồng trong tiêu thụ nông sản là do cơ chế phân bổ lợi ích, rủi ro và quyền quyết định giữa người mua và người bán chưa được xác lập một cách rõ ràng.

Vấn đề thứ ba, điều kiện vật chất chưa đảm bảo cho việc thực hiện sản xuất theo hợp đồng.

Kinh nghiệm ở Hoa Kỳ cho chúng ta thấy trong số những trang trại sản xuất hàng hóa lớn thì tỷ lệ sản xuất hợp đồng chiếm tỷ lệ rất lớn 42,9% số trang trại và 89,7 % giá trị sản xuất (2003). Những nông dân ký hợp đồng chăn nuôi gia công gà với công ty CP ở Thái Lan hầu hết đã đầu tư một hệ thống chuồng trại chăn nuôi quy mô lớn. Điều này có nghĩa điều kiện vật chất cần thiết để đảm bảo sản xuất theo hợp đồng là quy mô trang trại lớn. Ở Việt Nam, phần lớn các trang trại quy mô nhỏ nên việc sản xuất theo hợp đồng gặp nhiều khó khăn. Để giải quyết bài toán quy mô, Việt Nam đã triển khai mô hình khuyến khích phát triển HTX để liên kết nông dân lại với nhau. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố, kế cả do yếu tố lịch sử để lại nên các HTX chưa phát huy vai trò của mình. Đối với những nông dân có đủ khả năng tích tụ ruộng đất để làm ăn lớn thì không thể thực hiện được mong muốn của mình do vướng chính sách hạn điền của Nhà nước. Bản thân các doanh nghiệp không muốn ký hợp đồng với những hộ nông dân sản xuất manh mún, nhỏ lẻ vì sẽ dẫn đến tăng chi phí giao dịch. Kinh nghiệm hợp đồng tiêu thụ dứa ở Thành phố Hồ Chí Minh đã chứng minh rằng các doanh nghiệp chế biến dứa dù nguồn nguyên liệu cho chế biến thiếu hụt nghiêm trọng nhưng các doanh nghiệp này không tích cực tham gia ký hợp đồng với nông dân mà chủ yếu chỉ muốn ký hợp đồng với nông trường Lê Minh Xuân và Nông trường Phạm Văn Hai vì diện tích lớn. Như vậy, các điều kiện vật chất ở Việt Nam chưa đủ để thúc đẩy mô hình sản xuất theo hợp đồng phát triển.


 


 

ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN CÁC MÔ HÌNH TIÊU THỤ TRÁI CÂY THEO HỢP ĐỒNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN Ở VIỆT NAM


 

  1. Định hướng hoàn thiện các mô hình tiêu thụ trái cây theo hợp đồng ở Việt Nam

    1. Hoàn thiện mô hình tập trung

Mô hình tập trung trong sản xuất nông nghiệp theo hợp đồng sẽ góp phần tạo nên vùng nguyên liệu lớn cho các doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ trong điều kiện doanh nghiệp không đủ khả năng tập trung đất đai, chuồng trại. Mô hình này chỉ có thể phát triển khi các doanh nghiệp có nhu cầu hình thành vùng nguyên liệu chất lượng cao, ổn định và nông dân có nhu cầu bán nông sản trước khi sản xuất. Để mô hình này phát triển ở Việt Nam, chúng ta cần định hướng hoàn thiện như sau:

  • Thứ nhất, các doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ cần phải đầu tư từ khâu thiết kế đến khâu thu hoạch để đảm bảo sản phẩm do nông dân sản xuất đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp. Trong khâu thiết kế, doanh nghiệp phải tham gia thiết kế đồng ruộng; xây dựng quy trình sản xuất; xây dựng định mức kinh tế kỹ thuật và công khai hóa tất cả các tiêu chuẩn đầu vào và đầu ra cho nông dân. Trong khâu sản xuất, doanh nghiệp cần cử cán bộ theo dõi quá trình sản xuất của nông dân và trực tiếp xử lý những vấn đề nảy sinh trong khâu sản xuất, giúp cho người nông dân hạn chế tối đa rủi ro. Trong khâu thu hoạch, doanh nghiệp cần phải nhận lại toàn bộ sản phẩm và thanh toán cho nông dân.
  • Thứ hai, nông dân phải cung cấp cơ sở vật chất (đất đai), toàn bộ công lao động; làm đúng theo quy trình sản xuất do doanh nghiệp đưa ra; thông báo những trường hợp bất thường trên cây trồng, vật nuôi cho doanh nghiệp để hai bên cùng phối hợp xử lý.
  • Thứ ba, giá cả trong hợp đồng là giá gia công. Giá này bao gồm toàn bộ tiền công lao động theo giá thị trường bình quân tại địa phương (căn cứ vào định mức kinh tế - kỹ thuật); tiền khấu hao tài sản được sử dụng vào sản xuất nông sản hoặc giá trị quyền sử dụng đất được tính theo giá thuê quyền sử dụng đất tại thời điểm ở địa phương.

    Tóm lại, sản xuất theo hợp đồng mô hình tập trung hiệu quả sẽ giúp cho các doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ nội địa và xuất khẩu trái cây có nguồn hàng dồi dào đáp ứng yêu cầu của khách hàng và người nông dân không phải lo lắng về thiếu nguồn lực để phát triển. Tuy vậy, mô hình này phải xuất phát từ nhu cầu và lợi ích của các chủ thể thì mới thành công.


     

  1. Hoàn thiện mô hình trang trại hạt nhân

Mô hình trang trại hạt nhân ở Việt Nam được hình thành và phát triển trong quá trình thực hiện công tác khoán ở nông, lâm trường quốc doanh. Do đó việc hoàn thiện mô hình này sẽ gắn liền với việc hoàn thiện cơ chế khoán. Một số định hướng hoàn thiện mô hình trang trại hạt nhân như sau:

  • Thứ nhất, đối với các doanh nghiệp đang thực hiện cơ chế giao khoán không có đầu tư cần phải chuyển sang hình thức giao khoán gắn liền với việc đầu tư trong suốt thời gian giao khoán. Điều này có nghĩa là trách nhiệm của doanh nghiệp phải là người đảm bảo đầy đủ các yếu tố đầu vào cho hộ nhận khoán và nhận lại toàn bộ sản phẩm do hộ nhận khoán sản xuất.
  • Thứ hai, hoàn thiện cơ chế phân phối lợi ích giữa bên giao khoán và bên nhận khoán. Việc phân phối và xây dựng phương thức phân phối lợi ích là một trong những nội dung quan trọng của hợp đồng sản xuất nông nghiệp theo mô hình trang trại hạt nhân. Việc phân phối lợi ích sẽ có hai phương án: (1) phân phối bằng giá trị theo cơ cấu giá thành dự toán và (2) phân phối bằng hiện vật theo tỷ lệ đầu tư mỗi bên. Theo phương án (1), các doanh nghiệp giao vườn cây, chuồng trại cho hộ nông dân. Nông dân được tự chủ tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh trên vườn cây của mình nhận khoán. Đồng thời, họ có trách nhiệm giao nộp đầy đủ các khoản về tài chính theo quy định cho Nhà nước, cho doanh nghiệp. Tuy nhiên phương án này chưa thể hiện rõ cơ chế cùng đầu tư, cùng chia sẻ rủi ro; và chưa phản ánh được lợi ích của các bên sẽ hưởng theo mức đóng góp về công sức tiền của, vật tư và công quản lý của họ. Theo phương án (2), trên cơ sở dự toán đầu tư trong toàn bộ chu kỳ, xác định được tổng mức đầu tư và mức đầu tư của mỗi bên. Việc đầu tư bằng hiện vật và doanh nghiệp nhận lại toàn bộ sản phẩm được giao khoán; phần sản phẩm vượt khoán thuộc quyền sở hữu của hộ nhận khoán. Phương án này thể hiện rõ ràng cơ chế cùng đầu tư, cùng chia sẻ lợi ích theo tỷ lệ vốn đầu tư, tôn trọng cơ chế thị trường, khắc phục được hạn chế của phương án (1). Do đó, các doanh nghiệp cần phải thực hiện việc phân phối lợi ích bằng hiện vật theo tỷ lệ đầu tư mỗi bên.

    Tóm lại, sản xuất theo hợp đồng mô hình trang trại tập trung là xu hướng tất yếu khách quan của các trang trại có quy mô lớn, có nhiều cấp quản lý trung gian. Khác với các doanh nghiệp thuộc các ngành nghề khác, các doanh nghiệp nông nghiệp với quy mô lớn rất khó quản lý được quá trình sinh học vì vậy việc tái lập trang trại gia đình trong lòng trang trại doanh nghiệp sẽ mang lại hiệu quả cao hơn. Kinh nghiệm thực tiễn đã chứng minh rằng việc giao đất cho nông dân trực tiếp thực hiện quá trình sinh học, còn doanh nghiệp thực hiện dịch vụ đầu vào và đầu ra cho nông dân đã mang lại hiệu quả cho các nông, lâm quốc doanh. Do vậy, đây là mô hình hiệu quả đối với trang trại có quy mô lớn.


     

  1. Hoàn thiện mô hình đa chủ thể

Thực tiễn mô hình đa chủ thể ở Việt Nam rất đa dạng. Sự thành công của mô hình này phụ thuộc vào vai trò của doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ vì thị trường luôn là yếu tố quyết định đến mối quan hệ giữa các chủ thể và quyết định đến sản xuất nông nghiệp. Để hoàn thiện mô hình đa chủ thể tham gia vào hợp đồng sản xuất nông nghiệp, chúng ta cần thực hiện nội dung sau:

  • Thứ nhất, xác định lại vai trò của Nhà nước. Nhà nước không phải là chủ thể tham gia vào quá trình liên kết giữa nông dân với doanh nghiệp; giữa nông dân, doanh nghiệp với ngân hàng; giữa nông dân, doanh nghiệp với nhà khoa học. Thay vào đó, nhà nước đóng vai trò thúc đẩy các quá trình liên kết.
  • Thứ hai, doanh nghiệp đóng vai trò hạt nhân, là chủ thể chính trong mối quan hệ hợp đồng với tất cả các bên tham gia liên kết sản xuất nông nghiệp. Trong trường hợp HTX là chủ thể chính thì đứng đằng sau HTX cũng phải là các doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ.
  • Thứ ba, nhà nước cần chuyển đổi các tổ chức khoa học - công nghệ và các cơ quan khuyến nông trở thành các đơn vị chuyên cung cấp dịch vụ khoa học - công nghệ cho nông dân và doanh nghiệp.
  • Thứ tư, xác định vai trò hỗ trợ, thúc đẩy của các trung tâm tư vấn và hỗ trợ sản xuất theo hợp đồng. Các trung tâm này sẽ tham gia xây dựng mô hình liên kết giữa các chủ thể tham gia; đào tạo nâng cao nhận thức về sản xuất theo hợp đồng cho nông dân, doanh nghiệp; tư vấn hợp đồng cho nông dân và giải thích cho nông dân những yêu cầu, khó khăn, thuận lợi khi thực hiện sản xuất theo hợp đồng.

    Tóm lại, trong điều kiện sản xuất còn lạc hậu, kiến thức của nông dân về kỹ thuật sản xuất nông nghiệp và quản lý trang trại còn nhiều hạn chế thì phát triển mô hình đa chủ thể là phù hợp. Thông qua mô hình này, người nông dân sẽ dần dần nâng cao kiến thức và kỹ năng cần thiết đủ khả năng đương đầu với thị trường và có thể hòa nhập vào môi trường kinh doanh toàn cầu.


     

  1. Hoàn thiện mô hình phi chính thức

Trong điều kiện sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam còn manh mún, phân tán và trình độ của người nông dân còn thấp, mô hình phi chính thức sẽ còn tiếp tục phát triển. Để hoàn thiện mô hình này, chúng ta cần thực hiện nội dung sau:

  • Thứ nhất, nhà nước cần phải giáo dục tuyên truyền cho các chủ thể tham gia mô hình nhận thức được các thỏa thuận không bằng văn bản cũng được xem như hợp đồng chính thức giữa người bán và người mua.
  • Thứ hai, cần thực hiện chế độ đăng ký bắt buộc đối với các hộ mua gom có tham gia mua nông sản của nông dân. Tuy nhiên, việc đăng ký này được thực hiện ở cấp xã, hoàn toàn miễn phí, thủ tục rất đơn giản và không thu bất kỳ khoản thuế hoặc đóng góp nào khác từ những người mua gom này.
  • Thứ ba, khuyến khích nông dân thực hiện thỏa thuận với các HTX thay vì với các người mua gom nhỏ lẻ.

    Tóm lại, trong giai đoạn hiện nay tiếp tục duy trì mô hình phi chính thức để giải quyết nhu cầu trước mắt cho nông dân và doanh nghiệp. Tuy vậy, khi nền sản xuất nông nghiệp phát triển, đặc biệt việc xuất khẩu trái cây ra nước ngoài thì mô hình này thể hiện tính thiếu chuyên nghiệp trong tổ chức sản xuất và tiêu thụ trái cây. Trong trường hợp này, chúng ta cần hạn chế phát triển mô hình phi chính thức.


     

  1. Hoàn thiện mô hình trung gian

Trong nền kinh tế thị trường, mối quan tâm chủ yếu của các doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ là thị trường tiêu thụ sản phẩm của họ. Do đó, họ không thể quan tâm đáp ứng các nhu cầu nhỏ lẻ của các trang trại/hộ nông dân. Điều này dẫn đến họ rất cần các tổ chức hợp tác của các chủ trang trại/hộ nông dân để thay mình đáp ứng nhu cầu dịch vụ đầu vào và đầu ra của sản xuất nông nghiệp. Các tổ chức hợp tác này là một trợ thủ hay một cầu nối giữa doanh nghiệp và trang trại. Mô hình trung gian hợp đồng sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam hiện nay chủ yếu thông qua các hợp tác xã, tổ hợp tác hoặc hội nông dân. Tuy nhiên các tổ chức này chưa đủ khả năng để đảm đương vai trò của mình. Chính vì vậy, để hoàn thiện mô hình trung gian trong hợp đồng nông nghiệp, chúng ta cần phải phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ hợp tác và hợp tác xã. Phần sau sẽ trình bày giải pháp một số giải pháp phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ hợp tác và hợp tác xã.


 

  1. Giải pháp phát triển các mô hình tiêu thụ trái cây theo hợp đồng ở Việt Nam

    1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về hợp đồng trong lĩnh vực nông nghiệp

Hoàn thiện hệ thống pháp luật về hợp đồng trong lĩnh vực nông nghiệp là một trong giải pháp quan trọng góp phần thúc đẩy mô hình sản xuất theo hợp đồng phát triển. Như đã phân tích ở trên các văn bản pháp luật để xử lý các mối quan hệ trong sản xuất theo hợp đồng ở Việt Nam còn thiếu, chưa đồng bộ, chưa thống nhất. Do đó, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về hợp đồng trong lĩnh vực là điều hết sức cần thiết. Để hoàn thiện hệ thống pháp luật về hợp đồng trong lĩnh vực nông nghiệp, chúng ta cần phải thực hiện một số nội dung sau:

  • Thứ nhất, hoàn thiện Bộ Luật dân sự và Luật thương mại theo hướng dành một chương riêng để điều chỉnh quan hệ hợp đồng tiêu thụ nông sản. Bộ Luật và Luật cũng cần phải xác định rõ hợp đồng tiêu thụ nông sản là hợp đồng dân sự hay hợp đồng kinh tế. Ngoài ra, Luật cũng cần phải điều chỉnh cụ thể quyền sở hữu nông sản trong trường hợp hai bên cùng đầu tư sản xuất nông sản vì nông sản được sản xuất theo mô hình này là tài sản thuộc quyền sở hữu chung của doanh nghiệp và người sản xuất.
  • Thứ hai, trên cơ sở Quyết định 80/2002/QĐ-TTg và Nghị định 135/2005/NĐ-CP, chúng ta có thể xây dựng một Nghị định chung về sản xuất theo hợp đồng trong tiêu thụ nông sản. Trong nghị định này cần phải làm rõ sản xuất theo hợp đồng trong tiêu thụ nông sản bao gồm 5 hình thức: mô hình tập trung, mô hình trang trại hạt nhân, mô hình đa chủ thể, mô hình phi chính thức và mô hình trung gian. Mỗi hình thức này cần xác định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia hợp đồng. Nhà nước cần ban hành các mẫu hợp đồng cụ thể cho mỗi hình thức sản xuất theo hợp đồng. Trong mỗi loại hợp đồng cần quy định cụ thể trách nhiệm mỗi bên về yếu tố kỹ thuật, về tài chính, về quản lý và phương pháp định giá. Ví dụ, mô hình tập trung là một dạng hợp đồng gia công nên người mua phải chịu trách nhiệm cung cấp đầy đủ các yếu tố đầu vào đúng theo định mức kinh tế kỹ thuật và nhận lại toàn bộ sản phẩm. Người bán chỉ là người cho thuê đất và cung cấp công lao động cho nên sẽ nhận được khoản tiền công, giá trị quyền sử dụng đất và khấu hao tài sản (nếu có). Về chính sách khuyến khích phát triển mối liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân trong tiêu thụ nông sản theo hợp đồng, ngoài những chính sách khuyến khích cho doanh nghiệp đã được đề cập trong quyết định 80/2002/QĐ-TTg, Chính phủ cần áp dụng các chính sách này cho các trang trại có ký hợp đồng và tuân thủ hợp đồng đã ký với doanh nghiệp. Việc triển khai thực hiện tiêu thụ trái cây theo hợp đồng đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo thành công cho mô hình sản xuất theo hợp đồng. Kinh nghiệm thực tiễn đã chỉ ra rằng việc triển khai ký hợp đồng rộng khắp theo phong trào như thời gian qua dẫn đến các hợp đồng ký kết giữa doanh nghiệp và nông dân chỉ mang tính hình thức. Số lượng ký hợp đồng nhiều nhưng hầu như không được thực hiện trong thực tế. Do đó, để đảm bảo mối liên kết bền vững giữa nông dân và doanh nghiệp, chính phủ phải chỉ đạo UBND các tỉnh, thành lựa chọn một vài doanh nghiệp, HTX có khả năng tiêu thụ hết trái cây cho nông dân thực hiện việc ký kết hợp đồng. Trong giai đoạn đầu, Nhà nước cần bảo hiểm cho các doanh nghiệp và nông dân tham gia sản xuất theo hợp đồng.
  • Thứ ba, về lâu dài chúng ta xây dựng Luật Nông nghiệp trong đó có một chương liên quan đến hợp đồng tiêu thụ nông sản.

    Tóm lại, hoàn thiện hệ thống pháp luật về hợp đồng trong lĩnh vực nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành cơ chế phân bổ 3 yếu tố: lợi ích, rủi ro và quyền quyết định. Chỉ khi nào 3 yếu tố này được phân bổ rõ ràng thì tiêu thụ trái cây theo hợp đồng mới phát triển bền vững.


     

  1. Đẩy mạnh sản xuất trái cây đạt tiêu chuẩn chất lượng xuất khẩu

Chất lượng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao giá trị trái cây và phát triển thị trường xuất khẩu. Công ty cổ phần thực phẩm xuất khẩu Tân Bình và công ty cổ phần rau quả Tiền Giang không tuân thủ hợp đồng tiêu thụ dứa cho nông dân có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chính là chất lượng trái cây không đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp sử dụng nguồn nguyên liệu này để sản xuất dứa đóng hộp xuất khẩu thì doanh nghiệp sẽ mất khách hàng hoặc khách hàng không mua. Điều này gây tổn thất cho doanh nghiệp. Chính vì vậy doanh nghiệp sẵn sàng chấp nhận bị phạt vi phạm hợp đồng nếu nông dân khởi kiện. Trường hợp bưởi năm roi ở Bình Minh cũng đã minh chứng rằng HTX bưởi năm roi Mỹ Hòa không có đủ hàng để đáp ứng các đơn hàng xuất khẩu. Trong khi đó, nông dân đang thừa bưởi, chất lượng không đạt yêu cầu xuất khẩu đang phải bán rẻ cho thương lái.

Để đẩy mạnh sản xuất trái cây chất lượng đạt yêu cầu xuất khẩu, chúng ta cần thực hiện một số giải pháp sau:

  • Bộ Nông nghiệp và PTNT thành lập Ban chỉ đạo thực hiện quy trình sản xuất nông nghiệp tốt (GAP) ở cấp quốc gia để triển khai GAP trên phạm vi toàn quốc.
  • UBND các tỉnh, thành thành lập Trung tâm tư vấn và hỗ trợ phát triển GAP. Trung tâm này là một đơn vị sự nghiệp có thu trực thuộc Sở nông nghiệp và PTNT.
  • Chính phủ cần phải bố trí ngân sách hàng năm để đào tạo cho nông dân về GAP và quản lý chất lượng trái cây.
  • Các hiệp hội và các tổ chức phi chính phủ vận động tuyên truyền nâng cao nhận thức cho nông dân trong việc sản xuất trái cây đạt chất lượng theo yêu cầu.
  • Bộ Nông nghiệp và PTNT chủ trì phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ xây dựng tiêu chuẩn bắt buộc áp dụng đối với các doanh nghiệp xuất khẩu trái cây về quy trình xử lý, đóng gói, bảo quản trái cây phù hợp với tiêu chuẩn của thế giới. Ví dụ, xử lý chiếu xạ trái thanh long để xuất khẩu sang Hoa Kỳ hoặc đóng gói trái cây theo BRC (British Retail Consortium) để xuất sang châu Âu.

    Tóm lại, chất lượng trái cây sẽ quyết định đến việc gia tăng kim ngạch xuất khẩu. Việc kiểm soát chất lượng chặt chẽ sẽ buộc các doanh nghiệp xuất khẩu gắn kết với nông dân từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ. Do đó, tiêu thụ trái cây theo hợp đồng mới có đủ điều kiện phát triển.


     

  1. Hoàn thiện chính sách tích tụ ruộng đất cho sản xuất nông nghiệp

"Tích tụ ruộng đất là một dạng tích tụ tư bản dưới hình thức hiện vật trong nông nghiệp" [3]. Tích tụ ruộng đất để lập trang trại sản xuất nông sản hàng hóa là một tất yếu khách quan của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp theo cơ chế thị trường. Kinh nghiệm nhiều nước trên thế giới, cũng như thực tiễn sản xuất theo hợp đồng ở Việt Nam, chỉ có các trang trại sản xuất hàng hóa quy mô lớn mới cần và có thể thực hiện sản xuất theo hợp đồng. Chính vì vậy, Nhà nước cần hoàn thiện chính sách tích tụ ruộng đất để phát triển những trang trại sản xuất nông sản hàng hóa quy mô lớn. Để hoàn thiện chính sách tích tụ ruộng đất, chúng cần thực hiện một số giải pháp như sau:

Thứ nhất, Nhà nước cần xóa bỏ hạn điền đối với hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất vào mục đích nông nghiệp theo quy định của Luật đất đai năm 2003 và Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội số 1126/2007/NQ-UBTVQH11 ngày 21/6/2007. Mặc dù, Nhà nước có quy định hạn điền, nhưng trong thực tế hiện tượng "xé rào" diễn ra khắp nơi. Thực tiễn cũng chứng minh rằng những người tích tụ ruộng đất "chui" làm ăn rất hiệu quả và quá trình tích tụ này không dẫn đến "bần cùng hóa nông dân". Do đó, Nhà nước cần chỉnh sửa, bổ sung pháp luật về đất đai để nông dân, nhà đầu tư an tâm phát triển trang trại sản xuất nông sản hàng hóa quy mô lớn.

Thứ hai, Nhà nước cần xóa bỏ quy định về "đất sử dụng có thời hạn" của Luật đất đai năm 2003. Theo điều 67 của Luật đất đai, thời hạn giao đất, thuê đất đối với các hộ nông dân, cá nhân từ 20-50 năm tùy theo đất trồng cây hàng năm, cây lâu năm, đất rừng. Trong khi đó thời hạn giao đất, thuê đất đối với tổ chức kinh tế là 50-70 năm tùy dự án. Điều này có nghĩa các nhà hoạch định chính sách đang vi phạm nguyên tắc "không phân biệt đối xử giữa các chủ thể cùng thực hiện một hành vi" [4]. Ngoài ra, việc giao đất và thuê đất đối với trồng cây hàng năm 20 năm hoặc thấp hơn là quá ngắn, nông dân không thể mạnh dạn tích tụ ruộng đất và đầu tư cho sản xuất để mang lại hiệu quả kinh tế cao.

Thứ ba, sửa đổi, bổ sung Bộ luật dân sự năm 2005 và Luật đất đai năm 2003 về "thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp". Nhà nước cần hạn chế việc chia nhỏ đất đai cho tất cả thành viên có quyền thừa kế. Trang trại phải được giao cho 1 người thừa kế có khả năng quản lý và trở thành thành viên hợp danh, và những người thừa kế khác chỉ là thành viên góp vốn, đồng sở hữu chủ trang trại, không có quyền quản lý, tạo ra trang trại hợp danh. Quyền quyết định ai là người thừa kế có quyền quản lý có thể do người chủ quyết định bằng di chúc, nếu không, do các đồng sở hữu chủ quyết định và pháp luật thừa nhận [3].

Tóm lại, Nhà nước phải có chính sách thúc đẩy tích tụ đất đai. Việc tích tụ đất đai sẽ góp phần hình thành những trang trại trái cây chuyên canh, sản xuất đủ số lượng lớn đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của khách hàng nước ngoài, mang lại nguồn thu ngoại tệ cho phát triển đất nước.


 

  1. Phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động tổ hợp tác và hợp tác xã

HTX hoặc tổ hợp tác chính là cầu nối giữa nông dân và doanh nghiệp. Bài học thực tế đã chứng minh rằng các doanh nghiệp chỉ muốn ký hợp đồng với HTX chứ không muốn ký hợp đồng trực tiếp với nông dân vì đơn giản là chi phí giao dịch giảm xuống đáng kể khi ký với HTX. Tuy nhiên, làm thế nào phát triển HTX và tổ hợp tác và nâng cao hiệu quả hoạt động của chúng để HTX đủ sức đảm đương vai trò của mình. Một số giải pháp như sau:

Thứ nhất, Việc thành lập HTX và tổ hợp tác phải dựa trên nguyên tắc tự nguyện, tránh chạy theo thành tích. HTX và tổ hợp tác phải thực sự là đại diện của nông dân và hình thành trên nguyên tắc tự nguyện. Cơ cấu xã hội ở nông thôn Việt Nam đã từng được hình thành trong quá trình hợp tác hóa đã đơn giản hóa đến mức tối đa; chỉ còn lại một bên là những nông dân với tư cách là hộ gia đình xã viên, bên kia là Ban chủ nhiệm HTX, Đảng ủy, Ủy ban và các đoàn thể, bao gồm cả Mặt trận Tổ quốc đều đã được "nhà nước hóa". Các hình thức tự quản vốn có hầu như bị xóa sạch. Không một lực lượng xã hội nào được tồn tại có tính tự trị, tự quản tương đối độc lập ngoài những đoàn thể tổ chức đã "nhà nước hóa" hay là những "cánh tay nối dài" của tổ chức Nhà nước. Chính điều này đã ảnh hưởng lớn đến quá trình phát triển HTX và tổ hợp tác sau này. Để HTX và tổ hợp tác phát triển thì phải đảm bảo nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm.

Thứ hai, Phương thức vận động thành lập HTX và tổ hợp tác phải phù hợp với môi trường văn hóa xã hội của từng vùng và từng địa phương khác nhau. Sự thành công hay thất bại của việc phát triển HTX và tổ hợp tác trong thời gian phần lớn phụ thuộc vào phương thức tuyên truyền vận động của chính quyền địa phương. Để phát triển HTX và tổ hợp tác theo hướng bền vững, Cục kinh tế hợp tác và PTNT cần phối hợp với các Viện, Trường và các Chi cục ở địa phương nghiên cứu xác định rõ những nhân tố văn hóa – xã hội đã dẫn đến sự hợp tác của nông dân. Từ đó, đề xuất những phương thức vận động và hỗ trợ phù hợp với từng địa phương. Ở Việt Nam, có những nét văn hóa khác biệt giữa các vùng, miền nên khó có mô hình chung để áp đặt lên trên cả nước. Chính vì vậy, việc vận động và hỗ trợ cho phát triển HTX và tổ hợp tác phải phù hợp văn hóa địa phương [11].

Thứ ba, Vận động người mua gom tham gia vào HTX. Người mua gom có kinh nghiệm thương mại và có quan hệ gần gũi với nông dân. Vì thế, tập họp họ vào trong một tổ chức và trở thành trung gian sản xuất theo hợp đồng giữa doanh nghiệp và nông dân là điều cần thiết.

Thứ tư, Phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của HTX thông qua chính sách tích tụ đất đai và giáo dục – đào tạo.

Kinh nghiệm trên thế giới, các HTX thành công phần lớn là HTX của những chủ trang trại quy mô lớn. Ở Việt Nam, nhiều mô hình thành công cũng nhờ vào chủ trang trại quy mô lớn. Ví dụ, HTX Cổ đông (Xã Cổ Đông, Thành phố Sơn Tây, Tỉnh Hà Tây) là một trường hợp thành công nhờ xã viên HTX là những ông chủ trang trại chăn nuôi quy mô lớn nên. Chính vì vậy, Nhà nước cần có chính sách tích tụ đất đai, để từ đó hình thành nên các trang trại quy mô lớn. HTX được hình thành từ những trang trại này mới phát triển được.

Nhà nước cần có chính sách tài trợ 100% kinh phí giáo dục – đào tạo từ tiểu học đến trung học nghề cho con em nông dân để hình thành một đội ngũ 'thanh nông tri điền". Đặc biệt cần phải đào tạo nghề nông cho con em nông dân để họ đủ khả năng quản lý các trang trại quy mô lớn, các HTX đích thực quy mô lớn. Kinh nghiệm ở Đan Mạch, Nhà nước tài trợ 100% cho thanh niên nông thôn học 4 năm để trở thành chủ trang trại. Chính phủ Đan Mạch quy định người điều hành các trang trại có quy mô lớn từ 30 ha trở lên phải có chứng chỉ đào tạo nghề nông. Các HTX được hình thành từ những trang trại được quản lý bởi những thanh niên trẻ, chủ trang trại giỏi, nên các HTX này rất thành công.

Tóm lại, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của HTX và tổ hợp tác sẽ góp phần thúc đẩy hình thức sản xuất theo hợp đồng phát triển.


 

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ


 

  1. Kết luận

Trong cơ chế thị trường người sản xuất luôn luôn lựa chọn sản xuất ra mặt hàng nào mang lại nhiều lợi nhuận nhất. Nông dân cũng là người sản xuất nên họ sẽ chọn cây trồng, vật nuôi nào mang lại lợi ích lớn nhất cho họ. Chính điều này dẫn đến tình trạng "lúc trồng, lúc chặt" gây nên tổn thất lớn cho bản thân nông dân, cũng như cho xã hội. Việc gắn kết nông dân với các doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ là xu hướng tất yếu khách quan trong nền nông nghiệp hiện đại. Sản xuất hợp đồng trong tiêu thụ nông sản là một trong những hình thức giao dịch nông sản, góp phần gắn kết nông dân với doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ.

Diện tích cây ăn quả cả nước năm 2005 đạt 766,9 ngàn ha cho sản lượng 6,5 triệu tấn (trong đó chuối có sản lượng lớn nhất với khoảng 1,4 triệu tấn, tiếp đến quả có múi: 800 ngàn tấn, nhãn: 590 ngàn tấn). Mỗi năm xuất khẩu trái cây có thể mang về khoảng 150-180 triệu USD. Tuy nhiên, trong thời gian qua, sản xuất và tiêu thụ trái cây ở Việt Nam còn nhiều hạn chế. Sản xuất và tiêu thụ trái cây theo hợp đồng đã xuất hiện nhiều nơi nhưng hiệu quả chưa cao. Việc tiêu thụ trái cây theo hợp đồng chỉ thành công khi các doanh nghiệp đóng vai trò chủ đạo như công ty cổ phần thương mại Vinamit hay doanh nghiệp tư nhân sản xuất va xuất khẩu trái cây Hoàng Gia. Ngoài ra chỉ có những trang trại sản xuất trái cây quy mô lớn như trang trại Thanh Thủy hoặc trang trại Anh Mỹ mới có nhu cầu liên kết với doanh nghiệp để tiêu thụ sản phẩm. Các hộ nông dân sản xuất nhỏ muốn tiêu thụ trái cây theo hợp đồng phải liên kết thành lập các HTX đủ mạnh như HTX bưởi năm roi Mỹ Hòa.

Qua phân tích các mô hình tiêu thụ trái cây theo hợp đồng ở Việt Nam, chúng ta đã đề xuất một số định hướng hoàn thiện các mô hình tiêu thụ trái cây theo hợp đồng như mô hình tập trung, mô hình trang trại hạt nhân, mô hình đa chủ thể, mô hình phi chính thức và mô hình trung gian. Ngoài ra, chúng tôi cũng đề xuất một số giải pháp để phát triển tiêu thụ trái cây theo hợp đồng.

Tóm lại, phát triển hình thức tiêu thụ trái cây theo hợp đồng là xu hướng tất yếu khách quan. Việc tiêu thụ trái cây theo hợp đồng sẽ góp phần tạo ra vùng chuyên canh trái cây lớn, đảm bảo việc thực hiện quy trình sản xuất nông nghiệp tốt (GAP). Đây là cơ sở để sản xuất và tiêu thụ trái cây bền vững ở Việt Nam.


 

  1. Kiến nghị

  • Nhà nước cần xây dựng Luật Nông nghiệp. Luật này phải điều chỉnh toàn bộ hoạt động sản xuất – chế biến – tiêu thụ nông sản. Những nội dung của Luật Nông nghiệp cần điều chỉnh bao gồm các loại hình tổ chức kinh doanh nông sản; các quy định về trợ cấp cho nông nghiệp (Việt Nam vẫn còn có thể trợ cấp cho nông nghiệp); các quy định về cho vay tín dụng; các quy định về hỗ trợ cho từng ngành sản xuất; các quy định về thương mại nông sản,…
  • Cần sớm hoàn chỉnh, bổ sung Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 80/2002/NĐ-CP về chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng và Nghị định 135/2005/NĐ-CP. Về lâu dài cần đưa nội dung sản xuất theo hợp đồng vào điều chỉnh trong Luật Nông nghiệp. Một số nội dung quan trọng cần phải chính sửa như phải làm rõ bản chất của sản xuất theo hợp đồng và sự khác biệt giữa các mô hình; các chính sách khuyến khích doanh nghiệp thực hiện sản xuất theo hợp đồng phải cụ thể; phải có cơ chế xử lý tranh chấp hợp đồng và phòng chống rủi ro khi thực hiện sản xuất theo hợp đồng.
  • Nhà nước cần bãi bỏ thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế VAT cho tất cả các chủ thể ở khâu trung gian, trực tiếp mua gom nông sản cho nông dân.
  • Nhà nước cần điều chỉnh lại Luật đất đai liên quan đến đất nông nghiệp và các nghị định, thông tư có liên quan.
  • Doanh nghiệp cần xây dựng chiến lược liên doanh, liên kết tạo vùng nguyên liệu để phục vụ cho chế biến và tiêu thụ. Việc liên doanh, liên kết với người sản xuất nguyên liệu có thể thực hiện thông qua việc thành lập công ty cổ phần và người sản xuất trở thành cổ đông của công ty.

Digital Marketing – Chìa khóa mở cửa kỷ nguyên tiếp thị hiện đại

  Trong thời đại số hóa, khi mọi tương tác, giao tiếp và quyết định mua hàng dần chuyển dịch lên môi trường trực tuyến, Digital Marketing ( ...