Thứ Sáu, 17 tháng 6, 2011

Thể chế giao dịch nông sản - Institution for transaction of agricultural commodities

Thể chế giao dịch nông sản

TS. Bảo Trung


Theo cuốn "Từ điển tiếng Việt" năm 2008 của Trung tâm từ điển học, "thể chế là những quy định, luật lệ của một chế độ xã hội, buộc mọi người phải tuân theo".

Khái niệm học thuật về thể chế (Institution) rất phong phú và đa dạng. Khái niệm thể chế đầu tiên do tác giả Thorstein Veblen (1914) đưa ra, thể chế là "tính quy chuẩn của hành vi hoặc các quy tắc xác định hành vi trong tình huống cụ thể, được các thành viên của một nhóm xã hội chấp thuận và tuân thủ".

Trong báo cáo của Ngân hàng thế giới năm 2002, cũng đưa ra khái niệm thể chế là "Những quy tắc và tổ chức, gồm cả các chuẩn mực không chính thức, phối hợp hành vi con người".

Theo các tác giả đề tài KX-01-06, "Thể chế là cách thức xã hội xác lập khung khổ, trật tự, trong đó diễn ra các quan hệ giữa con người và cơ chế, quy chế, quyền lực, quy tắc, luật lệ vận hành của trật tự xã hội đó".

Theo Douglas C. North (1994), thể chế được định nghĩa là "những giới hạn do con người đặt ra nhằm cơ cấu sự tương tác giữa con người với nhau. Đó là tổng hợp những giới hạn chính thức (như nguyên tắc, luật lệ, hiến pháp) và phi chính thức (ví dụ những quy phạm về hành vi, tục lệ, nguyên tắc đạo đức) và những đặc điểm cưỡng chế của chúng". Một nhánh kinh tế học đã xuất hiện đặt trọng tâm vào các thể chế, gọi là "Kinh tế học về thể chế mới (New Institutional Economics - NIE)". Theo NIE, thể chế là "những nguyên tắc của cuộc chơi" trong xã hội; không có chúng thì các thị trường không hoạt động được.

Thông qua nhiều khái niệm khác nhau về thể chế, thì phần lớn thống nhất ở các nội dung sau:

  • Thứ nhất, "luật chơi" là những quy định chung ai ở vị trí nào, làm gì, tác động với người khác ra sao theo nguyên tắc nào;
  • Thứ hai, các chủ thể tham gia "trò chơi", hoặc "người chơi" bao gồm những ai, hai người hay nhiều người;
  • Thứ ba, cơ chế thực hiện luật chơi hoặc "cách chơi"; cơ chế là "cách thức tổ chức nội bộ và quy luật vận hành, biến hóa của một hiện tượng".

Như vậy, với các khái niệm trên thể chế bao gồm hai thành phần là cấu trúc (structures) và cơ chế (mechanism).
Tuy nhiên, các khái niệm này chỉ mới liên quan đến "phần mềm". Thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội nói chung, người ta nhận thấy rằng "phần mềm" có thể hoạt động tốt trong điều kiện vật chất này mà không hoạt động tốt trong điều kiện vật chất khác. Các điều kiện vật chất chính là "phần cứng". Chính vì vậy, thể chế phải bao gồm các điều kiện vật chất cụ thể tạo điều kiện để "phần mềm" vận hành. Đây chính là "sân chơi" mà các chủ thể tham gia. Các "luật chơi" và chủ thể tham gia "trò chơi" hình thành nên cấu trúc tổ chức của thể chế và cấu trúc này được vận hành theo một cơ chế nhất định, trong điều kiện vật chất nhất định. Như vậy, thể chế là cấu trúc tổ chức và cơ chế vận hành của một hệ thống xã hội điều chỉnh hành vi của 2 hay nhiều chủ thể khác nhau phù hợp với những điều kiện vật chất cụ thể.

Trong một hệ thống xã hội, người ta chia thể chế thành nhiều bộ phận khác nhau như chính trị, kinh tế, gia đình, tôn giáo… Thể chế kinh tế (economic institution) là thể chế liên quan hệ thống kinh tế (economic system) của một xã hội. Như vậy, thể chế kinh tế là cấu trúc tổ chức và cơ chế vận hành của hệ thống kinh tế điều chỉnh hành vi của 2 hay nhiều chủ thể khác nhau phù hợp với điều kiện vật chất nhất định.

Thể chế kinh tế thị trường (market economic institution) hay còn gọi tắt là thể chế thị trường (market institution)
là thể chế kinh tế được hình thành và phát triển trong nền kinh tế thị trường. Nếu xét theo mức độ can thiệp của Nhà nước vào thị trường thì người ta chia thể chế thị trường thành 3 loại: thể chế thị trường tự do, thể chế thị trường xã hội và thể chế thị trường nhà nước phát triển. Nếu xét theo đối tượng tham gia thị trường, người ta chia thể chế thị trường thành 5 loại: thể chế thị trường hàng hóa và dịch vụ (goods and services market institution), thể chế thị trường bất động sản (real estate market institution), thể chế thị trường tài chính (financial market institution), thể chế thị trường sức lao động (labour market institution) và thể chế thị trường chuyển giao công nghệ (technology transfer market institution). Ở Việt Nam có khái niệm "Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (Socialism-oriented market economic institution)", đây là một khái niệm mới và việc luận giải khái niệm này khá phức tạp. Trong giới hạn phạm vi đề tài này, nhóm nghiên cứu không đi sâu phân tích khái niệm này.

Thể chế giao dịch nông sản nói đầy đủ là thể chế thị trường trong hoạt động giao dịch hàng hóa nông sản (market institution for agricultural commodities transaction) là một bộ phận cấu thành của thể chế thị trường hàng hóa và dịch vụ, trong đó hàng hóa và dịch vụ ở đây chính là hàng nông sản. Như đã trình bày, giao dịch nông sản liên quan đến hoạt động trao đổi hàng hóa nông sản từ người sản xuất đến người tiêu dùng. Các hoạt động trao đổi này diễn ra trong hệ thống tiêu thụ nông sản (agricultural marketing system). Một hệ thống tiêu thụ nông sản bao gồm cấu trúc tổ chức, cơ chế vận hành và điều kiện vật chất. Cấu trúc tổ chức của hệ thống tiêu thụ nông sản liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của từng chủ thể tham gia vào quá trình chuyển giao quyền sở hữu nông sản hàng hóa từ người sản xuất đến người tiêu dùng. Cơ chế vận hành của hệ thống tiêu thụ nông sản là mối tương tác giữa các chủ thể khác nhau trong việc phân phối giá trị, rủi ro và quyền quyết định (Sykuta và Parcell (2003)). Đây chính là mối quan hệ hợp đồng giữa các chủ thể khác nhau trong trao đổi nông sản hàng hóa. Hợp đồng là thỏa thuận giữa hai bên liên quan các điều kiện trao đổi hàng hóa; hợp đồng có thể là hợp đồng miệng (verbal) hoặc hợp đồng bằng văn bản (written). Cấu trúc tổ chức và cơ chế vận hành của hệ thống tiêu thụ nông sản được biểu hiện thông qua các hình thức giao dịch nông sản. Hay nói khác đi thể chế giao dịch nông sản liên quan đến cấu trúc tổ chức và cơ chế vận hành của các hình thức giao dịch nông sản. Cũng giống như thể chế và thể chế kinh tế, thể chế giao dịch nông sản cũng cần có những điều kiện vật chất nhất định như kết cấu hạ tầng thương mại, kết cấu hạ tầng giao thông, các phương tiện, công cụ và những điều kiện khác giúp cho các chủ thể có thể thực hiện được hoạt động giao dịch.

Tóm lại, thể chế giao dịch nông sản là cấu trúc tổ chức và cơ chế vận hành của các hình thức giao dịch nông sản giữa 2 hay nhiều chủ thể tham gia phù hợp với điều kiện vật chất nhất định. Như vậy, nghiên cứu cơ sở khoa học hình thành và phát triển thể chế giao dịch nông sản chính là nghiên cứu cấu trúc tổ chức, cơ chế vận hành và điều kiện vật chất cần thiết của hệ thống các hình thức giao dịch nông sản.

Thứ Tư, 8 tháng 6, 2011

Lớp tập huấn tiểu giáo viên về chuỗi giá trị



Giảng viên phụ trách: TS. Bảo Trung
Đơn vị tư vấn kỹ thuật: GTZ Vietnam (Cố vấn trưởng: Christoph Feldkotter và cố vấn kỹ thuật: Nguyễn Thị Huyền Linh)

Chủ Nhật, 29 tháng 5, 2011

Sản xuất theo hợp đồng

LUẬN CỨ KHOA HỌC SẢN XUẤT NÔNG SẢN THEO HỢP ĐỒNG

TS. Bảo Trung

1. GIỚI THIỆU

Sản xuất và tiêu thụ nông sản theo hợp đồng ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp - nông thôn nước ta. Việc sản xuất và tiêu thụ nông sản theo hợp đồng ở nước ta đã được xuất hiện từ lâu, nhưng chỉ phát triển nhanh chóng kể từ khi Thủ tướng chính phủ đã ban hành Quyết định 80/2002/QĐ-TTg về “Chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hóa thông qua hợp đồng” ngày 24/6/2002. Theo Quyết định này, Việt Nam phấn đấu đến năm 2005, phương thức ký hợp đồng tiêu thụ nông sản hàng hóa chiếm 30% và năm 2010 là 50% sản lượng hàng hóa của một ngành sản xuất hàng hóa lơn. Bên cạnh Quyết định 80/2002/QĐ-TTg, các bộ ngành cũng đã có nhiều thông tư hướng dẫn nhằm đẩy mạnh phương thức này. Tuy nhiên, trong thời gian qua, việc thực hiện hợp đồng bao tiêu nông sản cho nông dân còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc. Hiện tượng phá vỡ hợp đồng hay lạm dụng hợp đồng vẫn xảy ra. Một số doanh nghiệp đổ lỗi cho nông dân khi nông dân không thực hiện hợp đồng và ngược lại. Chính vì vậy, cả nông dân và doanh nghiệp không mặn mà lắm đối với phương thức ký hợp đồng tiêu thụ nông sản. Nhiều hội nghị, hội thảo cũng đã bàn đến nhiều nguyên nhân dẫn đến sự thất bại của phương thức ký hợp đồng bao tiêu nông sản. Việc sản xuất và tiêu thụ nông sản qua hợp đồng là xu hướng tất yếu và là định hướng đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta, nhưng việc tổ chức thực hiện phương thức này có phần chủ quan và duy ý chí. Chúng ta đang chạy theo số lượng hợp đồng được ký kết hơn là đi vào chất lượng của việc thực hiện hợp đồng. Theo số liệu của Bộ Nông Nghiệp Mỹ, tại Mỹ, năm 1969, 12 % giá trị nông sản được sản xuất và tiêu thụ qua hợp đồng; năm 1991 tăng lên 28% và năm 2004 là 36%. Các số liệu, tuy chưa đủ để đánh giá nguyên nhân và đề ra giải pháp để đẩy nhanh sản xuất và tiêu thụ nông sản qua hợp đồng, nhưng đủ để minh chứng một điều chúng ta chưa nhận thức đầy đủ luận cứ khoa học về sản xuất và tiêu thụ theo hợp đồng, mà theo các triết gia cho rằng nếu nắm được luận cứ khoa học thì nhân loại sẽ tránh được ít nhất một nửa lầm lạc. Một trong những luận cứ khoa học quan trọng mà bài viết này muốn trình bày là chúng ta cần hiểu rõ các khái niệm liên quan đến tổ chức thị trường tiêu thụ nông sản mà sản xuất và tiêu thụ nông sản theo hợp đồng là một hình thức. Vì chỉ hiểu rõ các khái niệm này thì chúng ta mới có bước đi phù hợp để thị trường nông sản vận hành được tốt.

2. SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ NÔNG SẢN THEO HỢP ĐỒNG LÀ GÌ ?

Trong sản xuất nông nghiệp, người nông dân có thể ký kết một số hợp đồng với người cung cấp để mua các yếu tố đầu vào sản xuất nông nghiệp như phân bón, thuốc trừ sâu hay nước tưới v.v… Bên cạnh đó, để tiêu thụ nông sản hàng hóa, người nông dân có thể ký kết hợp đồng với người mua. Người mua có thể là nhà bán buôn, bán lẻ, nhà chế biến ….Ngày nay, việc mua và bán của nông dân theo phương thức ký kết hợp đồng tương đối phổ biến. Tuy nhiên, những hợp đồng mua và bán này không phải tất cả đều có nghĩa là “Sản xuất theo hợp đồng” (Contract farming) hay còn gọi là hợp đồng sản xuất (Production contracts).

Để tiêu thụ nông sản hàng hóa, giữa người nông dân và người mua có 4 phương thức giao dịch như sau:

2.1 Thị trường giao ngay (Spot market)
Thị trường giao ngay là phương thức giao dịch hàng hóa truyền thống. Nông dân có thể bán nông sản hàng hóa thông qua hợp đồng với người mua hoặc bán trực tiếp đến người mua tại chợ hoặc sàn đấu giá. Việc mua bán này được thực hiện ngay tại thời điểm diễn ra giao dịch, theo giá cả của thị trường hiện tại. Nông dân kiểm soát và quyết định toàn bộ quá trình sản xuất như sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu như thế nào, cũng như họ phải tự bỏ vốn đầu tư cho hoạt động của mình. Sau khi thu hoạch thì người nông dân phải tự tìm kiếm thị trường và thương lượng với người mua để bán nông sản mình sản xuất ra. Trong trường hợp này nếu giá cả thị trường tại thời điểm giao dịch cao hơn chi phí mà người nông dân bỏ ra để sản xuất thì nông dân có lời và ngược lại thì nông dân thua lỗ. Phương thức này tương đối đơn giản vì người mua và người bán nắm được thông tin về giá cả và chất lượng sản phẩm tại thời điểm giao dịch.

2.2 Hợp đồng sản xuất (Production contracts)

“Sản xuất theo hợp đồng” (Contract farming) hoặc hợp đồng sản xuất (Production contracts) là hợp đồng giữa nông dân và người mua theo những thoả thuận triển hạn (Forward Agreements). Đây là phương thức giao dịch của thị trường giao sau khác với thị trường giao ngay. Hợp đồng sản xuất được ký kết trước khi người nông dân tiến hành sản xuất. Hợp đồng này quy định chi tiết về trách nhiệm của nông dân và người ký kết hợp đồng. Trong loại hợp đồng này, người nông dân ít có quyền quyết định vấn đề sản xuất mặc dù họ là vẫn là người trực tiếp sản xuất. Người ký kết hợp đồng với nông dân sẽ quy định cụ thể về các yếu tố đầu vào cần sử dụng và phương thức canh tác, kể cả người ký hợp đồng chịu trách nhiệm công tác hướng dẫn kỹ thuật canh tác và thường xuyên kiểm tra thực tế trên đồng ruộng. Hợp đồng sản xuất thường xuất hiện dưới hai hình thức. Thứ nhất, hợp đồng gia công, điều này có nghĩa người mua đầu tư toàn bộ từ cơ sở vật chất đến các yếu tố đầu vào và nhận lại toàn bộ sản phẩm. Trong trường hợp này người nông dân được trả công chăm sóc và một số chi phí khác được thoả thuận trong hợp đồng. Hình thức hợp đồng này đang được Công ty CP Việt Nam áp dụng. Thứ hai, người mua đầu tư ứng trước vốn, vật tư, hướng dẫn kỹ thuật và cũng thu lại toàn bộ sản phẩm theo giá đã được thoả thuận tại thời điểm ký kết hợp đồng. Hình thức hợp đồng này đang được áp dụng tại Công ty Bông Việt Nam. Trong hợp đồng sản xuất, thì nông sản do người sản xuất ra thuộc quyền sở hữu của người đầu tư, là người ký kết hợp đồng với nông dân.

2.3 Hợp đồng tiêu thụ (Marketing contracts)

Đây cũng là hình thức hợp đồng triển hạn (Forward contract). Người sản xuất và người mua đồng ý ký kết hợp đồng mua một số lượng hàng hóa nhất định với giá cả được quy định trước trong thời gian trước khi nông sản được thu hoạch. Người sản xuất hoàn toàn kiểm soát vấn đế sản xuất nông sản của mình và phải đảm bảo việc giao hàng đúng số lượng, chất lượng và giá cả theo hợp đồng. Trong trường hợp đến khi thu hoạch, do rủi ro về thới tiết hay các yếu tố khác người sản xuất không đủ hàng giao cho người mua thì họ có trách nhiệm đi thương lượng với nông trại khác để đảm bảo cung cấp đủ hàng cho người mua. Việc giao dịch này giúp cho người sản xuất định hướng được thị trường, nắm bắt được giá cả và triển vọng tiêu thụ nông sản. Tuy nhiên, trách nhiệm cam kết chưa cao, việc chế tài giữa các bên gặp rất nhiều khó khăn. Chính vì vậy, ở các nước người ta nâng cấp thành hợp đồng kỳ hạn (Future contract) và được giao dịch thông qua Sở giao dịch hàng hóa, như Sở giao dịch hàng hóa Luân Đôn hoặc NewYork. Về sau người ta gọi thị trường tiêu thụ nông sản qua sở giao dịch hàng hóa là thị trường kỳ hạn. Thị trường kỳ hạn đã giải quyết được vấn để tiêu thụ hàng hóa trước khi thu hoạch một cách ổn định và vững chắc. Tuy nhiên, thị trường nông sản đầy biến động, rủi ro lớn, nên với các hợp đồng kỳ hạn, giá hàng hóa vẫn còn bấp bênh, chênh lệch lớn với giá thực tế. Vì vậy xuất hiện một nghiệp vụ thị trường mới là hợp đồng quyền chọn (Option Contract). Hợp đồng quyền chọn trong đó người mua mua của người bán một cái quyền được mua hay quyền được bán nông sản trong thời gian nhất định với mức giá thỏa thuận. Người mua phải trả cho người bán một số tiền gọi là phí hay tiền cược (premium) là giá quyền chọn. Có hai loại quyền là quyền tự chọn mua (Short sales) và quyền tự chọn bán (long sales). Quyền này có thời hạn, nếu hết thời hạn hợp đồng người mua không tiến hành mua hoặc bán thì quyền tự chọn không còn hiệu lực. Trong thực tế, các nhà chế biến lo sợ giá cả nguyên liệu tăng nên thường mua quyền chọn mua để bảo hiểm giá nguyên liệu. Người sản xuất lo sợ giá sản phẩm sẽ giảm mạnh nên mua quyền tự chọn bán để bảo hiểm cho việc tiêu thụ nông sản. Các hợp đồng quyền chọn, việc mua bán quyền chọn đều diễn ra tại sàn giao dịch của Sở giao dịch hàng hóa.

Thị trường giao sau lúc đầu chỉ thực hiện giữa người sản xuất và người bán và hình thành nên thị trường sơ cấp. Sau đó thị trường này trở nên nhộn nhịp khi xuất hiện hình thức mua đi bán lại các hợp đồng này. Phương thức này đã hình thành thị trường giao dịch thứ cấp và trở nên phổ biến ngày này. Thị trường kỳ hạn hay thị trường quyền chọn chỉ được thực hiện tại Sở giao dịch hàng hóa, tuân theo những quy định chặt chẽ và dưới sự giám sát của Uy ban hàng hóa kỳ hạn của Nhà nước.

2.4 Hội nhập dọc (Vertical integration)

Hội nhập dọc là hình thức liên kết giữa nông trại và người sử dụng. Người sử dụng ở đây thường là các nhà máy chế biến. Đối với hình thức này, các nhà máy chế biến tự đầu tư nguồn cung cấp nguyên liệu cho nhà máy mình thông qua việc mua đất hoặc thuê đất để tự sản xuất. Người nông dân chỉ là người làm thuê cho nhà máy chế biến. Một cách khác người chế biến và nông dân cùng tham gia góp vốn dưới dạng cổ đông để hình thành mối liên kết giữa sản xuất và chế biến. Nông dân có thể góp vốn vào nhà máy chế biến bằng quyền sử dụng đất của mình và nhà máy chế biến có thể tham gia góp vốn với nông dân trong đầu tư vùng nguyên liệu. Người nông dân và người chế biến cùng chia sẻ rủi ro trong sản xuất nguyên liệu và tiêu thụ nông sản đã qua chế biến. Ngoài ra, trong hội nhập dọc còn có một hình thức khá phổ biến ở Việt Nam là “Sự tái lập trang trại gia đình trong lòng doanh nghiệp nông nghiệp nhà nước”. Hình thức này có hai chủ thể kinh doanh, người mua nông sản là chủ thể kinh doanh thứ nhất đồng thời là chủ thể pháp lý; người sản xuất là chủ thể kinh doanh thứ hai, nông dân nhận khoán đất để tự tổ chức sản xuất và bán lại nông sản cho chủ thể kinh doanh thứ nhất theo hợp đồng ký kết. Điển hình ở Việt Nam cho phương thức giao dịch này là “Nông Trường Sông Hậu”.

3. NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT TRONG VIỆC THỰC HIỆN SẢN XUẤT THEO HỢP ĐỒNG

Xuất phát từ khái niệm vừa trình bày ở trên, chúng ta thấy rằng có sự khác biệt giữa 4 phương thức giao dịch trong thị trường nông sản hàng hóa. Ngoài phương thức thứ nhất là thị trường giao ngay, 3 phương thức còn lại chỉ có thể vận hành tốt trong những điều kiện nhất định. Chính vì vậy, chúng ta cần giải quyết một số vấn đề sau:

- Thứ nhất, các bên tham gia vào thị trường nông sản hàng hóa và Nhà nước cần phải nhận thức đầy đủ các khái niệm trên để có thể hành xử đúng theo cơ chế thị trường.
- Thứ hai, đối với thị trường giao ngay thì đây vẫn còn là phương thức hiệu quả trong quá trình sản xuất và tiêu thụ nông sản vì người mua và người bán có đủ thông tin thị trường và trên thực tế, người mua như các doanh nghiệp hay thương nhân thường chỉ muốn hàng có sẵn trên thị trường.
- Thứ ba, sản xuất theo hợp đồng đang có xu hướng phát triển. Tuy nhiên, để việc sản xuất theo hợp đồng vận hành được tốt đòi hỏi phải có điều kiện tiên quyết là người mua và nông dân đều nhận thấy có lợi nhuận trong tương lai và mang tính chất ổn định lâu dài. Ngoài ra phương thức này đòi hỏi cần phải có sự hỗ trợ của Nhà nước. Theo một số nhà khoa học thì phương thức này chỉ phát triển trong 4 điều kiện sau: thứ nhất, nhu cầu về sản phẩm riêng biệt đáp ứng nhu cầu của khách hàng cụ thể; thứ hai, áp lực của của việc truy xét nguồn gốc (traceability) sản phẩm; thứ ba, áp lực về quản lý chặt chẽ hệ thống sản xuất để bảo vệ môi trường; và thứ tư, nông trại có quy mô lớn chiếm tỷ trọng cao.
- Thứ tư, đối với phương thức hợp đồng tiêu thụ, đòi hỏi phải có Sở giao dịch hàng hóa.
- Thứ năm, đối với phương thức hội nhập dọc, đòi hỏi phải thiết lập mối liên kết chặt chẽ giữa người mua và nguời sản xuất trên cơ sở cùng chia sẻ rủi ro trong kinh doanh.

Tóm lại, sản xuất theo hợp đồng là phương thức sản xuất tiến tiến nhưng để phương thức này vận hành được tốt chúng ta cần nghiên cứu tổng kết lý luận và thực tiễn để từ đó có những bước đi phù hợp trong điều kiện nền kinh tế nước ta hiện nay.

Thứ Bảy, 23 tháng 4, 2011

GIỚI THIỆU TỔNG QUAN TẠP CHÍ CHIẾN LƯỢC KINH DOANH

VÀ NỘI DUNG CHÍNH CỦA SỐ 2/2011, TẬP 32

TS. Bảo Trung


 

  1. Giới thiệu tổng quan tạp chí chiến lược kinh doanh (JBS- Journal of Business Strategy)

Tạp chí Chiến lược kinh doanh xuất bản định kỳ 2 tháng 1 lần với các bài báo có tính thực tiễn cao để giúp cho doanh nghiệp phát triển chiến lược kinh doanh thành công. Các bài báo đề cập đến những vấn đề mới hoặc những quan điểm khác nhau về nhận thức đối với chiến lược kinh doanh. Tạp chí này không những hướng đến các nhà quản lý cấp cao (CEO) mà còn hướng tới các nhà quản lý cấp trung và cao cấp tại các công ty thuộc mọi quy mô và loại hình, cũng như các chuyên gia tư vấn và các học giả, những người muốn phát triển chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp theo những cách mới.

Tạp chí chiến lược kinh doanh là một trong số ít các tạp chí dành riêng cho chiến lược kinh doanh. Tuy nhiên, JBS định nghĩa chiến lược trong ý nghĩa rộng nhất và do đó bao gồm nhiều chủ đề rất đa dạng như chiến lược tiếp thị, đổi mới, phát triển trong nền kinh tế toàn cầu, sáp nhập và mua lại hội nhập và nguồn nhân lực.

  1. Nội dung chính của số 2/2011, tập 32

Số 2/2011, tập 32 của Tạp chí Chiến lược kinh doanh phát hành vào đầu tháng 4/2011 bao gồm 7 bài chính với hai nội dung chủ yếu sau:

Thứ nhất, có hai bài nghiên cứu chủ đề về thương hiệu nổi tiếng và hàng giả mạo. Các bài báo này lý giải vì sao người tiêu dùng hàng năm vẫn tiếp tục bỏ ra hàng tỷ USD để mua các sản phẩm giả các thương hiệu nổi tiếng như quần áo của Gucci, giày thể thao của Nike, Addidas,… Theo số liệu thống kê, thị trường hàng giả mạo các thương hiệu nổi tiếng thế giới tăng trường bình quân 12%/năm. Stephen A. Stumpf và cộng sự đã nghiên cứu so sánh về hành vi tiêu dùng giữa người Mỹ và người Brazin đối với hàng giả mạo. Nhóm nghiên cứu này đã đưa ra nhận xét không có sự khác biệt nhiều giữa thị trường hàng giả mạo ở Hoa Kỳ và ở Brazin mặc dù ở Hoa Kỳ luật pháp chống hàng giả mạo chặt chẽ hơn và xử lý nghiêm hơn. Nhóm nghiên cứu cũng đưa ra 4 lý do người tiêu dùng chọn hàng giả mạo: thứ nhất, thuộc tính của sản phẩm có thể chấp nhận được; thứ hai, dễ dàng mua hàng hóa trên thị trường; thứ ba, thu nhập thấp và trình độ tiêu dùng thấp; thứ tư, quan điểm của xã hội về việc đồng lõa với hàng giả mạo có thể chấp nhận được. Kết quả của các nghiên cứu này cũng chứng minh rằng quan điểm từ trước đến nay của các nhà quản lý thường cho rằng đặt giá hàng hóa cao để khẳng định rằng hàng của mình là hàng thật là một công cụ này không hiệu quả. Thứ nhất, người sản xuất hàng giả mạo cũng sẵn sàng đặt giá cao; thứ hai, người tiêu dùng biết rằng đó là hàng giả mạo nhưng họ vẫn mua vì thu nhập thấp hoặc trình độ tiêu dùng thấp. Người có thu thập thấp họ chấp nhận sử dụng hàng giả vì cho rằng những thuộc tính của sản phẩm có thể chấp nhận được. Ngoài ra số đông người tiêu dùng có trình độ tiêu dùng trung bình nên họ không thể phân biệt được sự khác nhau giữa hàng thật và hàng giả mạo vì phần lớn các mặt hàng giả mạo trên thị trường đều là hàng rất dễ dàng bắt chước. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra sự khác biệt giá quá lớn so với giá trị mà khách hàng cảm nhận được chính là nguyên nhân thúc đẩy người tiêu dùng đồng lõa với hàng giả mạo thương hiệu nổi tiếng. Do vậy, các nhà sản xuất cần thiết phải giảm khoảng cách này bằng cách tăng thêm giá trị cảm nhận của khách hàng về hàng hóa của mình hoặc giảm giá mạnh để người tiêu dùng có thể chấp nhận được.

Thứ hai, có 5 bài báo nghiên cứu mối liện hệ giữa văn hóa doanh nghiệp và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Các bài báo đã khẳng định văn hóa doanh nghiệp được xem là nguồn lực tạo ra lợi thế cạnh tranh. Tuy nhiên trong nhiều năm, văn hóa doanh nghiệp bao gồm giao tiếp không được đo lường và chứng minh mối liên hệ nhân quả giữa văn hóa doanh nghiệp và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Các nhà nghiên cứu hiện nay đang điều tra các liên kết giữa một số loại chiến lược của công ty với văn hóa và kết quả hoạt động doanh nghiệp. Nói chung, văn hóa mở và linh hoạt thúc đẩy sự đổi mới và dẫn đến kết quả hoạt động hiệu quả hơn. Nhiều nhà quản trị doanh nghiệp muốn thay đổi nền văn hóa hiện có của doanh nghiệp họ và phát huy nền văn hóa có khả năng mang lại kết quả mong muốn. Tuy nhiên, họ thấy rằng cải tạo văn hóa trong môi trường doanh nghiệp gần như là khó khăn giống như cải tạo văn hóa trong xã hội. Văn hóa dựa trên các giá trị và hành vi, thường sâu ăn sâu và dệt thành nhiều khía cạnh của cuộc sống và làm việc. Do đó, thay đổi văn hóa doanh nghiệp có thể mất nhiều tháng, nhiều năm nhưng nhiều khi chỉ dẫn đến kết quả đáng thất vọng. Các bài báo tập trung xây dựng mô hình để giúp cho các nhà quản trị có thể chuyển đổi văn hóa của doanh nghiệp. Một trong các mô hình đó có một mô hình được đánh giá cao là mô hình của "Change Track Research" (CTRE), một công ty tư vấn quản lý có trụ sở tại Syney, Úc. Chi tiết mô hình này có thể đọc từ bài báo "Drivers of change: a comtemporary model" (Động lực sự thay đổi: mô hình đương đại) Christina Kirsch, John Chelliah và Warren Parry.

Tóm lại, Tạp chí Chiến lược kinh doanh, tập 32, số 2/2011 rất hữu ích cho các quản trị doanh nghiệp, cũng như các nhà nghiên cứu. Các bài báo số này gồm hai chủ đề: một liên quan đến lĩnh vực marketing; một liên quan lĩnh vực quản trị nguồn nhân lực. Do vậy, đây là tài liệu tham khảo tốt cho các nhà quản trị marketing và quản trị nguồn nhân lực.

Thứ Bảy, 16 tháng 4, 2011

Hợp tác thương hiệu - Cobranding

Trong “thế giới phẳng”, hoạt động kinh doanh đã có nhiều thay đổi căn bản. Sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày nay đã chuyển từ cạnh tranh kẻ thắng, người thua sang cạnh tranh mà cả hai đều thắng (win-win). Điều này có nghĩa là sự cạnh tranh và hợp tác luôn đồng hành với nhau. Về khía cạnh này, hai doanh nghiệp có thể là đối thủ lẫn nhau, nhưng về khía cạnh khác thì hai doanh nghiệp là đối tác với nhau. Đây chính là cơ hội vàng cho các doanh nghiệp cùng chia sẻ trái tim và khối óc trong hợp tác phát triển. Trong việc phát triển thương hiệu, các nhà quản trị doanh nghiệp cũng tìm kiếm cơ hội để hợp tác phát triển thương hiệu. Đầu tháng 9/2004, Công ty Pepsico Việt Nam và Công ty cổ phần Kinh Đô đã ký với nhau chương trình hợp tác kinh doanh, gồm các nội dung: tung ra các chương trình khuyến mãi phối hợp; cùng đầu tư cho sự phát triển của hai thương hiệu; Pepsi và Kinh Đô được sử dụng chung hệ thống phân phối của nhau, sự liên kết này cho phép cả hai bên tận dụng được cả hai kênh bán hàng để mở rộng thị phần. Điều này cũng đồng nghĩa với việc: thương hiệu của cả hai sẽ gắn chặt với nhau, và sự phát triển của thương hiệu này sẽ kéo theo sự phát triển của thương hiệu kia, hoặc ngược lại. Đây chính là hình thức hợp tác thương hiệu đang được nhiều doanh nghiệp trên thế giới sử dụng. Hợp tác thương hiệu là một công cụ hiện đại trong hoạt động marketing của doanh nghiệp.
Cobranding là thuật ngữ tiếng Anh, tạm hiểu theo tiếng Việt là hợp tác thương hiệu. Hợp tác thương hiệu là hai hoặc nhiều thương hiệu cùng nhau xây dựng thương hiệu. Các bên sở hữu thương hiệu có thể cùng nhau xây dựng chung một thương hiệu; cùng nhau xây dựng hệ thống phân phối; cùng nhau khuyến mãi, cùng nhau quảng cáo; hoặc cùng nhau hoạt động truyền thông.
Căn cứ vào chủ thể sở hữu thương hiệu, người ta chia thành ba hình thức hợp tác thương hiệu:
- Hợp tác thương hiệu của cùng chủ sở hữu: đây là hình thức hai hoặc nhiều thương hiệu khác nhau của một chủ sở hữu và chủ sở hữu thương hiệu xây dựng chiến lược chung quảng bá cùng lúc các thương hiệu khác nhau. Ví dụ, Công ty Unilever thực hiện quảng cáo có hai thương hiệu kem đánh răng là P/S và Close up cùng với nhau.
- Hợp tác thương hiệu giữa các chủ sở hữu khác nhau: đây là hình thức liên doanh hợp tác xây dựng thương hiệu. Hai hoặc ba công ty thành lập liên minh chiến lược để thực hiện chào bán sản phẩm đến cùng khách hàng mục tiêu. Ví dụ hãng British Airways và Ngân hàng Citibank cùng phối hợp bán thẻ tín dụng, người nào có thẻ tín dụng của Citibank thì tự động trở thành thành viên câu lạc nhà quản trị British Airways (British Airways’ Executive Club).
- Hợp tác thương hiệu của hai chủ sở hữu khác nhau hình thành một thương hiệu thuộc sở hữu chung: đây là hình thức hai hoặc nhiều thương hiệu khác nhau của các chủ sở hữu khác nhau cùng hợp tác tạo ra sản phẩm chung và ghép các thương hiệu khác nhau lại hình thành nên thương hiệu thuộc sở hữu chung của hai bên. Ví dụ như thương hiệu Sony và thương hiệu Ericsson cùng hợp tác sản xuất sản phẩm điện thoại di động và xây dựng thương hiệu chung là SonyEricsson.
Căn cứ vào nội dung của hợp tác, người ta chia thành ba hình thức hợp tác thương hiệu:
- Hợp tác thương hiệu trong việc quảng bá thương hiệu: hai hoặc nhiều thương hiệu khác nhau cùng nhau hợp tác trong hoạt động marketing như quảng cáo, đưa sản phẩm ra thị trường và xây dựng hệ thống phân phối. Thương hiệu này sẽ hỗ trợ thương hiệu kia để cùng nhau phát triển. Ví dụ, trường hợp hợp tác PepsiCola và Kinh Đô trong xây dựng thương hiệu.
- Hợp tác thương hiệu với sự hỗ trợ đa năng (Multiple sponsor cobranding): hai hoặc nhiều doanh nghiệp liên minh chiến lược trong công nghệ, phân phối, xúc tiến bán hàng. Ví dụ, Taligent là liên minh công nghệ giữa Apple, IBM và Motorola.
- Hợp tác thương hiệu thành phần (Ingredient Cobranding): nhà chế tạo sản xuất ra một bộ phận cấu thành của một sản phẩm cuối cùng và quảng bá thương hiệu của họ dưới sản phẩm của người khác. Ví dụ, Intel sản xuất ra CPU gắn vào máy tính của các hãng sản xuất máy tính khác.
Hợp tác thương hiệu sẽ mang lại lợi ích, cũng như rủi ro cho các doanh nghiệp. Hợp tác thương hiệu sẽ giúp doanh nghiệp giảm chi phí xây dựng thương hiệu, đặc biệt khi tham gia vào thị trường mới, thị trường nước ngoài. Khi đưa sản phẩm vào thị trường nước ngoài thì hợp tác thương hiệu với các thương hiệu địa phương thì việc đầu tư quảng bá thương hiệu sẽ ít tốn kém hơn. Hợp tác thương hiệu với các thương hiệu nổi tiếng sẽ giúp cho khách hàng dễ nhận biết thương hiệu của mình hơn. Tuy nhiên, hợp tác thương hiệu cũng có rủi ro khi đối tác trong hợp tác thương hiệu gặp sự cố phá sản hoặc mất niềm tin từ khách hàng sẽ làm cho thương hiệu của minh cũng bị ảnh hưởng. Chính vì vậy, để hợp tác thương hiệu thành công thì đòi hỏi phải lựa chọn được đối tác thích hợp. Ngoài ra việc hợp tác thương hiệu với các thương hiệu nổi tiếng là điều không dễ dàng vì các thương hiệu nổi tiếng luôn bảo vệ uy tín của mình nên họ thường không thích hợp tác với thương hiệu khác.

Thứ Hai, 11 tháng 4, 2011

Vận dụng lý thuyết giao dịch

LÝ THUYẾT CHI PHÍ GIAO DỊCH: ÁP DỤNG VÀO NGHIÊN CỨU SẢN XUẤT THEO HỢP ĐỒNG VÀ SỰ LIÊN KẾT DỌC GIỮA DOANH NGHIỆP VÀ NÔNG DÂN
TS. Bảo Trung

Lý thuyết chi phí giao dịch (Transaction Cost Economics) của doanh nghiệp được Ronald Harry Coase đưa ra lần đầu tiên trong bài báo với nhan đề “Bản chất của Hãng (Nature of Firms)” vào năm 1937 và được O.E. Williamson cùng những người khác tiếp tục phát triển cho đến nay. Mục đích chính của lý thuyết là giải thích mức độ hội nhập hàng dọc tối ưu; nghĩa là giải thích lý do tại sao một số hoạt động được đưa vào trong nội bộ doanh nghiệp và tại sao một số hoạt động được để lại bên ngoài thị trường. Yếu tố phân biệt là mức chi phí giao dịch.

Khi chi phí giao dịch thấp, các bên có thể soạn thảo văn bản hợp đồng về những tình huống phát sinh để bảo vệ kết cấu chặt chẽ của các giao dịch của họ. Vì thế, các giao dịch có thể được giao cho thị trường, và thị trường sẽ cung ứng cho các bên những động cơ mạnh mẽ, không bằng nhau, khuyến khích hành vi tối đa hoá sự hợp tác. Ngoài ra, các bên có thể dựa vào thông tin thị trường để ước lượng giá trị tài sản và chi phí cơ hội. Trước tình trạng thông tin cân xứng đối với các bên, tiềm tăng xảy ra chủ nghĩa cơ hội sẽ giảm xuống và tính đáng tin cậy của sự cưỡng chế thi hành của bên thứ ba (tòa án) sẽ tăng lên (nếu điều đó tỏ ra là cần thiết).

Khi chi phí giao dịch cao, các mối quan hệ được đưa vào bên trong doanh nghiệp, ở đó các mối quan hệ này được quản lý bằng cơ cấu quản trị theo tôn ti thứ bậc trong nội bộ doanh nghiệp. Nhìn từ góc độ lý thuyết chi phí giao dịch, quyết định đưa các mối quan hệ vào bên trong doanh nghiệp chỉ là quyết định chọn lựa cơ cấu quản trị trong nội bộ công ty hơn là cơ cấu quản lý của thị trường. Giao dịch có chi phí cao là những giao dịch liên quan đến những tài sản có tính chuyên biệt cao (Asset Specificity); giao dịch thường xuyên trong một thời gian kéo dài; sự phát triển công việc theo thời gian; và sản lượng kết hợp giữa nhiều bên tham gia. Tính chất chuyên biệt của tài sản là đặc điểm trọng tâm vì nó thường xác định cường độ của những yếu tố khác. Trong một chừng mực đáng kể, khả năng phát đạt của doanh nghiệp trong các thị trường cạnh tranh phụ thuộc vào năng suất của những tài sản chuyên biệt của doanh nghiệp. Vì những công ty khác có thể tái sản xuất những tài sản tổng quát (General Asset), họ không thể tạo ra một lợi thế cạnh tranh bền vững. Hệ quả là tài sản càng có tính chuyên biệt đối với một giao dịch cụ thể, khả năng giao dịch đó được mang vào bên trong doanh nghiệp càng lớn.

Trọng tâm của phương pháp chi phí giao dịch là việc sử dụng hệ thống tôn ti thứ bậc trong công ty như một cơ cấu tổ chức để chỉ đạo hoạt động chung của những thành phần khác nhau được mang vào bên trong doanh nghiệp, trong đó có người lao động. Hệ thống tôn ti thứ bậc chỉ đạo hoạt động của doanh nghiệp bằng những qui tắc và tiêu chuẩn tự cưỡng chế. Chính công cụ này sẽ thay thế cho thị trường để làm cơ chế tổ chức giao dịch.

Lý thuyết chi phí giao dịch đặc biệt liên quan đến phân tích thị trường nông sản ở các nước đang phát triển và sự thay đổi khu vực nông nghiệp nói chung. Khi khu vực nông nghiệp hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu thì nhiều quy định bị bãi bỏ, do đó chí phí giao dịch trở thành một công cụ quyết định. Điều này có nghĩa là lý thuyết chi phí giao dịch được xem là hữu ích trong phân tích chính sách nông nghiệp. Trong bối cảnh đòi hỏi sự phối hợp lớn hơn, vai trò của chi phí giao dịch, niềm tin và mối quan hệ, hợp đồng chính thức và phi chính thức, liên kết dọc, sự bất đối xứng về thông tin và liên minh chiến lược trở nên quan trọng. Vấn đề đặt ra làm thế nào nông dân sản xuất nhỏ tiếp cận tham gia vào thị trường xuất khẩu. Ơ đây chúng ta cần hiểu vai trò của hợp đồng và nó được bắt đầu như thế nào. Khung lý thuyết chi phí giao dịch có thể đóng góp trong việc giải thích sự lựa chọn hợp đồng giữa nông dân và doanh nghiệp.

Sản xuất theo hợp đồng (Contract farming) và liên kết dọc giữa doanh nghiệp và nông dân (Vertical Coordination) được xem như là cầu nối giữa nông dân sản xuất nhỏ với thị trường ở nước ta hiện nay. Hợp đồng sản xuất được ký kết giữa doanh nghiệp với nông dân với một mức giá xác định. Hai bên thỏa thuận một mức giá cố định trước khi tiến hành sản xuất. Doanh nghiệp sẽ cung cấp thông tin về công nghệ, dịch vụ khuyến nông và một số yếu tố đầu vào cho sản xuất. Liên kết dọc là sự liên kết toàn bộ quá trình từ cung cấp nguyên liệu đến sản xuất và cung cấp sản phẩm cho thị trường. Doanh nghiệp lựa chọn chiến lược liên kết dọc sẽ tìm cách tự sản xuất lấy các nguồn lực đầu vào hoặc lo liệu các đầu ra của mình. Tùy theo chiến lược kinh doanh, doanh nghiệp sẽ quyết định mức độ liên kết với nông dân. Sản xuất theo hợp đồng và liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân sẽ giảm được rủi ro về thị trường và sản xuất. Doanh nghiệp sẽ đảm bảo có đủ nguồn nguyên liệu cần thiết để sản xuất, chế biến tiêu thụ; nông dân có thể tiêu thụ được sản phẩm. Tuy nhiên, chương trình sản xuất theo hợp đồng thường bị thất bại do nhiều lý do như hợp đồng không được thực hiện, quyền lực thương lượng không công bằng giữa nông dân và doanh nghiệp và hành vi độc quyền của doanh nghiệp. Ngoài ra, nếu doanh nghiệp ký kết tiêu thụ sản phẩm với nhiều nông dân sản xuất nhỏ thì chi phí cho việc ký kết hợp đồng này tương đối cao. Bên cạnh đó, nhận thức của nông dân còn yếu trong việc đáp ứng những yêu cầu về chất lượng hoặc an toàn vệ sinh thực phẩm. Điều này sẽ dẫn đến xu thế là các doanh nghiệp không muốn ký hợp đồng với nông dân sản xuất nhỏ, lúc này người nông dân sản xuất nhỏ bị loại khỏi chương trình sản xuất theo hợp đồng. Trong khi đó, đây là lực lượng chủ yếu trong nền sản xuất nông nghiệp nước ta hiện nay.

Việc nghiên cứu lý thuyết chi phí giao dịch và thực tiễn sản xuất theo hợp đồng và liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân sẽ cung cấp một nền tảng cơ bản để đánh giá việc sản xuất theo hợp đồng và sự liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân ở nước ta hiện nay. Sản xuất theo hợp đồng và sự liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp không phải là công cụ giải quyết được việc tiêu thụ tất cả các sản phẩm nông nghiệp. Tuỳ theo đặc điểm của từng loại sản phẩm khác nhau và tùy theo từng vùng khác nhau sẽ tác động đến sự thất bại hay thành công của chương trình sản xuất theo hợp đồng. Việc vận dụng lý thuyết chi phí giao dịch rất hữu ích cho phân tích mối quan hệ giữa nông dân và doanh nghiệp, khi những quyết định về mức độ hội nhập dọc và tiêu chuẩn hợp đồng có liên quan có thể ảnh hưởng đến trạng thái và hiệu quả tài chính của cả hai bên. Trong phạm vi sản xuất theo hợp đồng, lý thuyết chi phí giao dịch có thể sử dụng phân tích và giải quyết các vấn đề khó khăn có thể thúc ép hoặc dẫn đến phá vỡ mối quan hệ hợp đồng. Việc nghiên cứu vận dụng lý thuyết chi phí giao dịch giúp cho chúng ta xác định được những ngành hàng nào chi phí giao dịch thấp và ngành hàng nào có chi phí giao dịch cao. Từ đó, chúng ta có thể đề xuất những chính sách khuyến khích sản xuất theo hợp đồng và sự liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân phù hợp.

Tóm lại, việc vận dụng lý thuyết chi phí giao dịch vào nghiên cứu thực tiễn sản xuất theo hợp đồng và sự liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân sẽ giúp cho các nhà hoạch định chính sách đề xuất những chính sách khuyến khích sản xuất theo hợp đồng và chính sách khuyến khích liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân phù hợp với từng ngành hàng và từng vùng khác nhau vì chi phí giao dịch của từng ngành hàng và từng vùng sẽ khác nhau. Điều này có nghĩa là khó có chính sách khuyến khích chung cho việc sản xuất theo hợp đồng và liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân.


Co-branding can produce marriage made in heaven

Thứ Tư, 23 tháng 3, 2011

Bảo vệ luận án tiến sỹ kinh tế ngày 6/11/2009


DANH SÁCH HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN ÁN TIẾN SĨ CẤP NHÀ NƯỚC

(Ban hành kèm theo Quyết định thành lập Hội đồng số 5380/QĐ-BGDĐT ngày 20 tháng 8 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)


TT

Họ và tên, Học hàm, học vị

Cơ quan công tác

Chức trách trong Hội đồng

1

PGS.TS. Lê Thanh Hà

Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hội đồng

2

GS.TS. Hoàng Thị Chỉnh

Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh

Phản biện 1

3

PGS.TS. Nguyễn Xuân Quế

Trường Đại học Marketing

Phản biện 2

4

PGS.TS. Nguyễn Đình Long

Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn

Phản biện 3

5

PGS.TS. Hồ Tiến Dũng

Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh

Ủy viên thư ký

6

TS. Đỗ Văn Xê

Trường Đại học Cần Thơ

Ủy viên Hội đồng

7

TS. Mai Văn Nam

Trường Đại học Cần Thơ

Ủy viên Hội đồng


Danh sách gồm 7 thành viên.

Digital Marketing – Chìa khóa mở cửa kỷ nguyên tiếp thị hiện đại

  Trong thời đại số hóa, khi mọi tương tác, giao tiếp và quyết định mua hàng dần chuyển dịch lên môi trường trực tuyến, Digital Marketing ( ...