Ngày niêm yết
|
2/4/2007
|
Sản phẩm cơ sở
|
Gạo trắng 5%
|
Tiêu chuẩn chất lượng giao hàng
|
Gạo trắng 5% theo tiêu chuẩn gạo trắng 5% của Bộ Thương Mại
|
Đơn vi giao dịch
|
15,000 Kg. (15 tấn)/đơn vị giao dịch
|
Đơn vị giao hàng
|
15,000 Kg. (15 tấn/đơn vị giao hàng.
|
Phương thức giao dịch
|
Khớp lệnh liên tục thông qua hệ thống máy tính
|
Cách yết giá
|
THB/Kg.
|
Đơn vị yết giá
|
0,01 THB/Kg.
|
Biên độ giá
|
1.00 THB/Kg.
(Có thể thay đổi tùy theo quy chế hoạt động của Sở) |
Giới hạn trạng thái giao dịch
|
Không được quá 600 hợp đồng trong tháng giao hàng
Không được quá 3.000 hợp đồng trong tất cả tháng giao hàng (Người bảo hộ rủi ro có thể yêu cầu cho phép tích trữ hơn giới hạn này)
|
Ký quỹ duy trì
|
4,000 baht/hợp đồng
(Có thể thay đổi tùy theo quy chế hoạt động của Phòng thanh toán bù trừ) |
Ký quỹ ban đầu
|
5,400 baht/hợp đồng
(Có thể thay đổi tùy theo quy chế hoạt động của Phòng thanh toán bù trừ) |
Giờ giao dịch
|
10:00 giờ đến 15:45 giờ.
|
Tháng giao hàng
|
Đến 12 tháng từ tháng giao hàng gần nhất
|
Ngày giao dịch cuối cùng
|
Ngày làm việc thứ 10 của tháng giao hàng
|
Những chọn lựa hợp lý thanh lý hợp đồng
|
- Người mua và người bán đưa đề nghị dự định giao hàng ở Sở từ 8:30 đến 12:00 giờ ngày làm việc sau ngày giao dịch cuối cùng.
- Đối với người mua và người bán không có ý định giao hàng hoặc những dự định của họ không phù hợp, Sở sẽ tất toán hợp đồng bằng cách thanh toán tiền mặt theo giá thanh toán cuối cùng.
|
Giá thanh toán cuối cùng
|
Giá trung bình 3 ngày của giá trị giữa gạo trắng 5% theo công bố của Cục Nội thương cộng thêm cho hàng có chất lượng tốt hơn 0,30 baht/kg.
|
Ngày giao hàng cuối cùng
|
Ngày làm việc cuối cùng của tháng giao hàng
|
Điều kiện và điều khoản giao hàng
|
Kho được chỉ định của người mua hoặc nhà máy ở Bangkok, Ayutthaya, Nakhon Pathom, Nonthaburi, Samut Sakhon, Samut Prakan, Pathum Thani, Nakhon Nayok, or Chachoengsao.
|
Tiến sĩ Kinh tế ngành QTKD, Giảng viên cơ hữu Đại học Tài chính - Marketing và Giảng viên thỉnh giảng các trường Đại học phía Nam
Thứ Tư, 25 tháng 8, 2010
TIÊU CHUẨN HỢP ĐỒNG KỲ HẠN GẠO 5% TẤM
Thứ Ba, 17 tháng 8, 2010
Giá cao su RSS3 Tocom ngày 17/8/2010
| Current Trading (17:00 - 15:30) | As of Aug 17, 2010 09:35 JST |
| Trade Date: Aug 17, 2010 | Minimum Price Fluctuation: 0.1yen/kilogram |
| Month | Last Settlement Price | Open | High | Low | Current | Change | Volume | Settlement |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Aug 2010 | 325.4 | 323.2 | 326.0 | 323.0 | 324.9 | -0.5 | 45 | - |
| Sep 2010 | 299.6 | 299.6 | 299.9 | 295.2 | 298.0 | -1.6 | 42 | - |
| Oct 2010 | 282.7 | 280.2 | 282.0 | 279.0 | 282.0 | -0.7 | 18 | - |
| Nov 2010 | 278.9 | 278.0 | 278.6 | 275.4 | 278.0 | -0.9 | 23 | - |
| Dec 2010 | 278.6 | 276.7 | 278.5 | 276.4 | 278.0 | -0.6 | 99 | - |
| Jan 2011 | 280.0 | 279.2 | 280.3 | 277.8 | 279.4 | -0.6 | 879 | - |
| Total | 1,106 | |||||||
Thứ Hai, 16 tháng 8, 2010
Chủ Nhật, 15 tháng 8, 2010
Giá cà phê Sicom ngày 13/08/2010
| SICOM COFR 13-Aug-2010 | |||||
| Contract | High | Low | Close | Vol | OI |
| Month | |||||
| Aug-10 | 0.00 | 0.00 | 1630.00 | 4 | 16 |
| Sep-10 | 0.00 | 0.00 | 1630.00 | 0 | 54 |
| Oct-10 | 1632.00 | 1632.00 | 1633.00 | 6 | 22 |
| Nov-10 | 1635.00 | 1635.00 | 1635.00 | 4 | 28 |
| Dec-10 | 0.00 | 0.00 | 1635.00 | 0 | 0 |
| Jan-11 | 0.00 | 0.00 | 1636.00 | 0 | 0 |
Giá cao su Sicom ngày 13/8/2010
| SICOM RSS3 13-Aug-2010 | |||||
| Contract | High | Low | Close | Vol | OI |
| Month | |||||
| Sep-10 | 329.5 | 327.0 | 328.4 | 42 | 528 |
| Oct-10 | 0.0 | 0.0 | 322.5 | 0 | 311 |
| Nov-10 | 0.0 | 0.0 | 322.0 | 0 | 417 |
| Dec-10 | 0.0 | 0.0 | 320.5 | 20 | 610 |
| Jan-11 | 0.0 | 0.0 | 320.5 | 0 | 461 |
| Feb-11 | 0.0 | 0.0 | 320.5 | 0 | 434 |
| Mar-11 | 0.0 | 0.0 | 320.5 | 0 | 268 |
| Apr-11 | 0.0 | 0.0 | 320.5 | 0 | 80 |
| May-11 | 0.0 | 0.0 | 320.5 | 0 | 20 |
| Jun-11 | 0.0 | 0.0 | 320.5 | 0 | 0 |
| Jul-11 | 0.0 | 0.0 | 320.5 | 0 | 0 |
| Aug-11 | 0.0 | 0.0 | 320.5 | 0 | 0 |
Thứ Bảy, 14 tháng 8, 2010
KÝ KẾT HỢP ĐỒNG: LINH HOẠT ĐIỀU KHOẢN GIÁ
TS. NGUYỄN MINH HẰNG – Đại học Ngoại thương
Điều khoản giá là một trong những điều khoản quan trọng trong hợp đồng. Vì thế, các DN khi ký kết hợp đồng cần có những lưu ý thích đáng để tránh những tranh chấp phát sinh từ việc hiểu lầm hay không thống nhất về mức giá và cách thức xác định giá.
Tranh chấp giữa người mua Pháp – Cty Fauba Fidis GC Electronique và người bán Đức – Cty Fujitsu Mikroelectronik Gmbh. Tranh chấp phát sinh trong quá trình giao kết hợp đồng và liên quan đến việc xác định giá của hàng hóa. Tranh chấp được giải quyết tại Tòa Phúc thẩm Paris. Điều 14 của Công ước Vienna năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG) đã được áp dụng để giải quyết tranh chấp.
Diễn biến tranh chấp
Người mua gửi một đơn chào mua các linh kiện điện tử đến người bán. Trong đơn chào mua có quy định, giá mua do người mua đưa ra có thể được xem xét theo sự suy giảm của giá thị trường vào thời điểm giao hàng. Nhận được đơn chào mua, người bán trả lời là giá cần được xem xét theo cả sự tăng lên và sự suy giảm của giá thị trường vào thời điểm giao hàng. Người mua đã đồng ý về việc này. Hàng hóa được người bán gửi cho người mua theo đúng đơn chào mua, nhưng người mua lại đơn phương hủy đơn chào mua của mình và không nhận hàng. Người mua cho rằng điều khoản giá quy định như vậy là chưa đủ rõ ràng để hình thành hợp đồng giữa hai bên. Vì Pháp và Đức là hai quốc gia thành viên của CISG nên tòa án áp dụng CISG để giải quyết tranh chấp. Tòa Phúc thẩm Paris trích dẫn điều 14 khoản 1 CISG, theo đó "Một đề nghị ký kết hợp đồng gửi cho một hay nhiều người xác định được coi là một chào hàng nếu nó đủ chính xác và chỉ rõ ý chí của người chào hàng muốn tự ràng buộc mình trong trường hợp có sự chấp nhận chào hàng đó. Một đề nghị là đủ chính xác khi nó nêu rõ hàng hóa và ấn định số lượng và giá cả một cách rõ ràng hoặc ngầm định hoặc quy định các yếu tố để xác định số lượng và giá cả".
Trong tranh chấp này, đơn chào hàng của người mua đã ghi rõ: giá của hàng hóa được xác định theo sự suy giảm của giá thị trường. Người mua đã đưa ra căn cứ để xác định giá, đó là tham chiếu đến giá thị trường vào một thời điểm cụ thể là thời điểm giao hàng. Như vậy, theo điều 14 khoản 1 CISG, điều khoản giá với giá được xác định theo sự tăng giảm của giá thị trường là đã đủ chính xác, rõ ràng. Với những lập luận đó, tòa án cho rằng hợp đồng đã thành lập giữa hai bên, người mua không thể hủy chào hàng. Người mua phải nhận hàng và thanh toán tiền hàng.
Bài học kinh nghiệm
Việc "thả nổi" giá hàng hóa theo sự tăng, giảm của giá thị trường là rất phổ biến trong các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, đặc biệt là những hợp đồng có thời hạn thực hiện dài, giao hàng nhiều lần hoặc những hợp đồng mà thời điểm giao hàng chưa được xác định cụ thể. Đó là những hợp đồng có giá mở, đáp ứng yêu cầu về giá linh hoạt theo diễn biến thị trường. Về mặt pháp lý, sự linh hoạt này giúp đảm bảo sự cân bằng cho hợp đồng, hạn chế thiệt thòi quá mức cho một bên khi thị trường biến động, hạn chế tranh chấp phát sinh.
Các DN VN cũng luôn có thói quen xác định một mức giá cố định ngay khi ký kết hợp đồng. Đây là quan điểm về mặt pháp lý, chưa phù hợp với pháp luật hợp đồng hiện đại và về mặt thực tiễn, chưa phù hợp với diễn biến "nóng" của giá hàng hóa trên thị trường hiện nay. Công ước Vienna và pháp luật hợp đồng của các nước đều chấp nhận hiệu lực của các hợp đồng có giá mở, trong đó, điều khoản giá được dẫn chiếu đến giá thị trường. Vì thế, các DN VN cần chú ý, trong một số tình huống cụ thể phải quy định điều khoản giá hợp lý và linh hoạt. Nên đưa ra mức giá chính xác ban đầu để có thể tính toán lợi nhuận, nhưng không quên có sự điều chỉnh giá theo sự biến động của thị trường.
SOURCE: BÁO DIỄN ĐÀN DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
Trích dẫn từ:
http://dddn.com.vn/20091203095230627cat104/ky-ket-hop-dong-linh-hoat-dieu-khoan-gia.htm
Thứ Hai, 12 tháng 7, 2010
Vì sao Vicofa khuyến cáo các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê hạn chế phương thức kinh doanh trừ lùi chốt giá sau?
Trên báo Sài Gòn Giải Phóng ra ngày 1/3/2010, có đăng nội dung sau:
"…ông Lương Văn Tự, Chủ tịch Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam (VICOFA) phát biểu, ngành cà phê trong nước phải đối mặt với những biến động quá lớn, diễn biến phức tạp, khó lường. Tình hình này khiến nhiều doanh nghiệp xuất khẩu cà phê theo phương thức trừ lùi thua lỗ rất nặng. Vì có những doanh nghiệp ký hợp đồng trừ lùi lên đến 90-100, thậm chí 120 USD/tấn lúc đầu vụ. Đầu tháng 11-2009, VICOFA một lần nữa khuyến cáo, các doanh nghiệp hạn chế bán cà phê theo hợp đồng trừ lùi, nhất là bán theo kỳ hạn quá xa. Do không làm chủ thị trường London, nếu bán kỳ hạn quá xa sẽ dễ bị nhà đầu cơ ép giá. Chỉ nên bán giao hàng trong 1-2 tháng kế tiếp. Sau đó, Câu lạc bộ những doanh nghiệp xuất khẩu cà phê hàng đầu cũng đã thống nhất, để tránh thiệt hại cho doanh nghiệp và người trồng cà phê, cần hợp tác về phương thức thu mua và xuất khẩu nhằm hạn chế rủi ro trong kinh doanh. Theo đó, các doanh nghiệp sẽ tập trung bán hàng theo phương thức giao ngay, kiên quyết không bán theo phương thức trừ lùi. Đây là bài học đắng cay mà VICOFA dù đã cảnh báo các doanh nghiệp mấy năm nay vẫn không tránh được".
Ở Việt Nam, trong thời gian qua, các doanh nghiệp áp dụng một trong hai phương thức ký kết hợp đồng xuất khẩu cà phê ra nước ngoài. Thứ nhất, đó là phương thức giao ngay, thuật ngữ tiếng Anh gọi là outright. Theo phương thức này hai bên mua và bán ký kết hợp đồng với giá cố định tại thời điểm hiện tại và thời gian giao hàng cố định. Họ không quan tâm đến giá tại thời điểm giao hàng cao hơn hay thấp hơn giá cố định. Thứ hai, phương thức differential hay price to be fixed, được gọi theo tiếng Việt là phương thức "trừ lùi, chốt giá sau". Phương thức bán hàng này được xem là một trong công cụ phòng chống rủi ro giá cả. Do vậy, kể từ đầu thập niên 1990 của thế kỷ 20 đến nay, đa phần các doanh nghiệp xuất khẩu áp dụng phương thức này mà không áp dụng phương thức outright. Vậy, tại sao từ tháng 10 năm 2008 đến nay, VICOFA thường xuyên khuyến cáo các doanh nghiệp không nên dùng. Trong khi đó, trước thời điểm đó, cũng chính VICOFA khuyến cáo nên dùng. Bài viết sau đây sẽ làm rõ bản chất của phương thức kinh doanh này để các doanh nghiệp hiểu và vận dụng phù hợp với thực tiễn.
Phương thức kinh doanh chốt giá sau (Price-to-be-fixed - PTBF) là hình thức cho phép người mua hoặc người bán "chốt giá" tại thời điểm nào đó trong tương lai, trước khi thực hiện giao, nhận hàng. Người mua và người bán sẽ thỏa thuận về số lượng, chủng loại, tháng giao hàng (delivery month). Riêng đối với điều khoản giá thì sẽ áp dụng một trong hai hình thức: thứ nhất, giá thanh toán là giá "trừ lùi" (minus) hoặc thứ hai, giá cộng thêm (plus) so với giá kỳ hạn (futures price). Giá kỳ hạn này thường căn cứ vào giá trên Sàn giao dịch hàng hóa London (Liffe). Nếu chất lượng hàng hóa của người bán thấp hơn tiêu chuẩn chất lượng quy định trong hợp đồng kỳ hạn sẽ sử dụng áp dụng "giá trừ lùi" (minus); nếu tốt hơn sử dụng " giá cộng thêm" (plus). Như vậy, bản chất của "giá cộng thêm" hoặc "giá trừ lùi" ở đây là so sánh chất lượng hàng hóa mà cụ thể ở đây là cà phê Robusta loại 2 với cà phê Robusta loại 2 đã được tiêu chuẩn hóa trên Sàn giao dịch kỳ hạn London.
Có hai loại hợp đồng chốt giá (Fixing price) sau:
Thứ nhất, hợp đồng người bán nắm quyền chốt giá (PBTF – Seller's call contracts). Đây là hợp đồng bằng văn bản cho phép người bán chốt giá bất cứ lúc nào trong khoảng thời gian trước ngày thông báo giao hàng đầu tiên của một hợp đồng kỳ hạn cụ thể; Rủi ro giá cả do người mua chịu, nên người mua phải sử dụng hợp đồng kỳ hạn để bảo hộ rủi ro.
Thứ hai, hợp đồng người mua nắm quyền chốt giá (PBTF – Buyer's call contract). Đây là hợp đồng cho phép người mua chốt giá bất cứ thời điểm nào trong khoảng thời gian trước ngày thông báo giao hàng đầu tiên của một hợp đồng kỳ hạn cụ thể; Rủi ro giá cả do người bán chịu, nên người bán phải sử dụng hợp đồng kỳ hạn để bảo hộ rủi ro.
Để hiểu rõ hơn phương thức kinh doanh này, chúng ta xem ví dụ sau về cơ chế xác định giá hợp đồng xuất khẩu cà phê theo phương thức "trừ lùi chốt giá sau", người bán nắm quyền chốt giá:
Giả sử hôm nay ngày 01/06/2010, người bán (Việt Nam), người mua (nước ngoài) thỏa thuận mua bán như sau:
- Số lượng: 100 tấn cà phê robusta loại 2;
- Tháng giao hàng: tháng 1/2011;
- Giá cả hai bên thỏa thuận trên hợp đồng ngoại thương thể hiện như sau: London Robusta January minus 100 USD/ton.
- Người bán nắm quyền chốt giá (PTBF- Seller's contract)
Điều này có nghĩa là giá thanh toán (settlement price) sẽ được chốt theo giá kỳ hạn (futures price) của hợp đồng kỳ hạn cà phê robusta, giao hàng vào tháng 1/2011 của thị trường Luân Đôn (LIFFE). (Theo quy định của LIFFE, thời hạn giao hàng của hợp đồng kỳ hạn trong năm vào tháng 1, 3, 5, 7, 9 và 11)
Theo quy định về hợp đồng kỳ hạn cà phê Robusta của Luân Đôn, ngày thông báo giao hàng đầu tiên (first delivery notice day) là bất cứ ngày nào trong tháng giao hàng của hợp đồng kỳ hạn. Như vậy nhà xuất khẩu Việt Nam sẽ quyết định chốt giá bất cứ ngày nào sau khi ký hợp đồng cho đến ngày thông báo đầu tiên của tháng giao hàng của hợp đồng kỳ hạn (1/2011) trừ lùi 100 USD/tấn.
Sau khi ký hợp đồng, lúc nào giá thị trường trong nước xuống, nhà xuất khẩu tiến hành mua vào cho đủ 100 tấn; lúc nào giá LIFFE tăng sẽ chốt giá. Giả sử giá bình quân của lô hàng mua vào là 20.000 đ/kg. Ngày 01/11/2011, giá kỳ hạn của hợp đồng kỳ hạn giao hàng tháng 01/2011 của LIFFE là 1.300 USD/tấn thì giá thanh toán (settlement price) sẽ là 1.200 USD/tấn; tương đương 24.000 đ/kg (lấy tỷ giá 20.000 VND/USD). Như vậy nhà xuất khẩu tính toán thấy mức chênh lệch 4.000 VND/kg trừ thuế trừ phí lưu kho trừ lãi suất ngân hàng và trừ những khoản khác vẫn lời, nhà xuất khẩu quyết định gọi cho người mua chốt giá theo giá trên hợp đồng là 1.200 USD/tấn và đến 01/2011 giao hàng.
Như vậy, nhà xuất khẩu an tâm lô hàng này đã có lời. Vậy tại sao Vicfa khuyến cáo các doanh nghiệp không kinh doanh theo phương thức này vì sợ rủi ro. Ở đây có ba vấn đề nảy sinh trong thực tế.
- Thứ nhất, tùy theo kinh nghiệm và khả năng đàm phán với người mua mà mức trừ lùi khác nhau. Qua khảo sát các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê, "mức trừ lùi" của các doanh nghiệp có khác nhau. So sánh hợp đồng của Công ty Simexco Đăk Lăk và Công ty Cổ phần Đầu tư và Xuất nhập khẩu Tây Nguyên (Vinacafe Buôn Ma Thuột) tại thời điểm ký kết hợp đồng tháng 1/2007 như sau:
Loại cà phê | Thời hạn giao hàng | Hợp đồng chốt giá | Mức trừ lùi (USD/tấn) | |
Simexco Đăk Lăk | Vinacafe Buôn Ma Thuột | |||
R2 | Tháng 5/2007 | Kỳ hạn 5/2007 | 70 | 120 |
Như vậy, doanh nghiệp nào có mức trừ lùi cao có khả năng khó cạnh tranh mua cà phê nhân xuất khẩu với doanh nghiệp có mức trừ lùi thấp. Điều này có nghĩa doanh nghiệp bị trừ lùi cao bị thiệt hơn doanh nghiệp có mức trừ lùi thấp.
- Thứ hai, các doanh nghiệp Việt Nam phần lớn không đủ vốn mua hàng để tồn trữ nên họ thường thực hiện sai phương thức này dẫn đến thua lỗ. Đối với những doanh nghiệp xuất khẩu cà phê lớn thường mua hàng trước để dự trữ trong kho và theo dõi giá kỳ hạn khi thấy giá lên có lời họ sẽ "chốt giá". Điều này có nghĩa họ đã có lời. Tuy nhiên nhiều doanh nghiệp không đủ tiềm lực kinh tế (không có tiền mua dự trữ) và ngân hàng không cho vay trên hợp đồng chưa có giá cụ thể nên các doanh nghiệp này khi sắp đến ngày giao hàng tiến hành "chốt giá" để vay tiền ngân hàng mua hàng. Trong trường hợp này nếu giá cà phê nhân xuất khẩu trên nội địa thấp hơn giá trên hợp đồng thì doanh nghiệp có lời còn ngược lại thì thua lỗ. Tuy nhiên trong thực tế khi doanh nghiệp thực hiện mua vào để giao hàng thì giá cà phê nhân xuất khẩu trên thị trường nội địa có xu hướng tăng làm doanh nghiệp bị thua lỗ.
- Thứ ba, giá cà phê trên thế giới từ khoảng tháng 10/2008 đến đầu năm 2010 có xu hướng tăng giảm bất thường và các doanh nghiệp Việt Nam thường "chốt giá" vào thời điểm giá xuống do "tâm lý sợ giá xuống nữa" nên dẫn đến thu nhập thấp hoặc thua lỗ.
Đây chính là nguyên nhân mà dẫn đến các doanh nghiệp thường thua lỗ. Tuy nhiên, điều này không phản ánh bản chất kinh doanh của phương thức này mà phản ánh trình độ vận dụng phương thức này của các doanh nghiệp còn hạn chế. Do vậy, việc khuyến cáo các doanh nghiệp kinh doanh cà phê xuất khẩu không áp dụng phương thức này là điều đi ngược lại xu hướng phát triển của thế giới. Nếu vậy các doanh nghiệp Việt Nam khó có thể lớn mạnh và hội nhập vào nền kinh tế thế giới.
Thứ Bảy, 3 tháng 7, 2010
Nhập học lớp Giám đốc doanh nghiệp khóa 27
Giấy báo nhập học lớp đào tạo giám đốc Doanh nghiệp khóa 27 – Đợt 1
Căn cứ nhu cầu đào tạo bồi dưỡng cán bộ và danh sách học viên đăng ký tham gia dự lớp của các đơn vị, Trường Cán bộ Quản lý Nông nghiệp và PTNT II xin thông báo đến Quý đơn vị và cá nhân lịch học lớp “Đào tạo giám đốc Doanh nghiệp - khóa 27”, đợt 1 như sau:
1. Thời gian và địa điểm:
- Đợt I: Từ ngày 26/07/2010 đến ngày 12/08/2010. Các đợt còn lại sẽ thông báo sau.
- Tại Trường Cán bộ quản lý Nông nghiệp và PTNT II, số 45 Đinh Tiên Hoàng (đối diện Đài Truyền hình), Quận 1, TP. Hồ Chí Minh.
Ngày 26/07/2010:
+ Từ 7h30 đến 9h00: Học viên làm thủ tục nhập học tại phòng Đào tạo.
+ 9h00 : Khai giảng
2. Nội dung:
Thời khóa biểu đính kèm.
3. Kinh phí học tập:
- Kinh phí học tập và tài liệu: 10.500.000đ/học viên
- Trường có Ký túc xá và nhà ăn phục vụ cho nhu cầu ăn nghỉ của học viên ở xa trong thời gian học tập tại trường.Toàn bộ kinh phí học tập, ăn nghỉ do đơn vị cử học viên đi học đài thọ.
Trân trọng kính chào.
Giáo viên chủ nhiệm lớp: Tiến sĩ Bảo Trung
Mọi học viên có nhu cầu đăng ký học lớp Đào tạo giám đốc Doanh nghiệp
vui lòng liên hệ Phòng Đào tạo theo địa chỉ sau:
Trường Cán bộ Quản lý Nông nghiệp và PTNT II
45 Đinh Tiên Hoàng, quận 1, TP.HCM
Email: daotao@cmard2.edu.vn
ĐT: (08) 39101423 Fax (08) 38231515
Website: http://www.cmard2.edu.vn/
Liên hệ Cán bộ QL Đào tạo (Cô Thảo: 0907760506)
Chủ Nhật, 18 tháng 4, 2010
"Từng người thầy bỏ giáo dục, ra đi..."
Tác giả: Dân Choa - Kỳ Duyên
Bài đã được xuất bản: 09/04/2010 06:00 GMT+7
http://www.tuanvietnam.net/2010-04-08-trang-page
Ba người thầy, ba điểm xuất phát khác nhau, ba lối thoát cá nhân khác nhau… Nhưng vẫn còn đây hơn một triệu giáo viên, họ liệu có "lối thoát" ra khỏi con đường giáo dục đang nhiều bí bức, khủng hoảng và tụt hậu? Hay hàng ngày họ vẫn phải gồng mình vật lộn trong guồng máy tư duy giáo dục cũ kỹ, tiếp tục cho ra những sản phẩm giáo dục chất lượng thấp?
1. Vụ việc nữ sinh Trường THCS Lê Lai (Q8- t/p Hồ Chí Minh) đánh hội đồng gây ầm ĩ trong xã hội, dẫn đến sự kiện thầy Ngô Đức Bình, hiệu trưởng nhà trường đệ đơn từ chức, tôi thiết nghĩ, thầy cũng đã rất đau khổ, dằn vặt. Vì ở cương vị người quản lý giáo dục cơ sở, một người có chức năng tổ chức kiến tạo kiến thức, đạo đức cho công dân tương lai, bắt buộc từ bỏ mục đích cao cả của nghề, có gì buồn và đau hơn thế? Cho dù thầy viện dẫn lý do cá nhân- sức khỏe của mình.
Trước quyết định ra đi của thầy, ai trong hoàn cảnh ấy mà không cảm thấy nỗi cô đơn. Bởi họ- những người chở đạo học, dường như đã không còn cảm thấy được sự "tôn sư trọng đạo" của xã hội, không cảm nhận được sự ủng hộ tích cực của chính quyền. Thậm chí vì lòng nhiệt tình với nghề mà từng bị thân nhân của học sinh xúc phạm đến thân thể, nhân phẩm.
Người thầy, trong sự dồn nén nhiều tâm trạng, và "lực bất tòng tâm" chỉ có thể phản ứng yếu ớt bằng cách xa rời môi trường từng gắn bó biết bao buồn vui của đời mình. Đó thực là một nốt trầm lặng lẽ trong bản giao hưởng buồn của ngành giáo dục đương đại Việt Nam.
Tôi chia sẻ với thầy Bình. Có lẽ không chỉ riêng tôi mà nhiều bậc phụ huynh học sinh, hay các đồng nghiệp trong ngành của thầy cũng cảm thấy thế. Xin từ chức, về hưu, có lẽ đó là lối thoát riêng khả dĩ cho thầy. Nhưng còn đồng nghiệp, các em học sinh của thầy thì sao? Lối thoát nào đây?
Đã hàng chục năm nay, những ai quan tâm đến giáo dục Việt Nam, đều không khỏi hoang mang, thậm chí chán nản, bất bình, vì sự xuống cấp của chất lượng giáo dục. Nhưng hầu như chúng ta biết mà vẫn cam chịu không lối thoát, vẫn "sống chung cùng lũ".
2. Nếu ở trường hợp thầy Bình, ta mới chỉ thấy được sự "phản ứng" đầy bất lực của một người thầy ở cơ sở thì ở một trường hợp khác, ở những con người thuộc lớp trí thức lớn như thầy Hoàng Tụy, sự "phản ứng', sự từ bỏ những mục đích cao cả của nghề lại diễn ra kiểu khác.
GS Hoàng Tụy với tầm tư duy nhìn xa, trông rộng đã nhận ra sự tụt hậu và bế tắc của ngành GD và ĐT ở góc độ vĩ mô, những khiếm khuyết, khuyết tật của một nền giáo dục chưa bao giờ thoát khỏi cái bóng của quá khứ- một nền giáo dục "hư học"- chữ ông từng dùng. Một nền giáo dục vừa xơ cứng về tư duy, vừa nặng nề về nội dung, chương trình, vừa lạc hậu về phương pháp.
Ông đã có nhiều đề xuất, giải pháp để giải cứu. Ông kêu gọi chấn hưng nền giáo dục nước nhà, coi như một mệnh lệnh khẩn thiết của cuộc sống.
Nhưng đáng tiếc, những ý kiến đóng góp tâm huyết của ông và nhiều trí thức nữa luôn rơi vào khoảng trống im lặng. Để rồi cuối cùng, năm vừa qua, ông có lá thư ngỏ buồn bã thừa nhận thất bại của mình, chấp nhận lặng lẽ "rút lui" vào tuổi già, khi mà tư duy giáo dục của ông chưa hề cỗi. Ông vẫn ở ngành giáo dục, nhưng sự im lặng của ông có khác gì một sự từ bỏ?
3. Rồi mới đây thầy Nguyễn Thiện Nhân, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng GD và ĐT cũng đã bàn giao nhiệm vụ quản lý giáo dục để trở thành nhà chính trị chuyên nghiệp. Tôi vốn đánh giá cao thầy Nguyễn Thiện Nhân khi thầy từ t/p HCM ra nhận trách nhiệm cao nhất của ngành.
Nhưng tôi thực sự hoài nghi những phong trào giáo dục, những cuộc vận động với cách làm xưa cũ, như từ những năm 70-80 của thầy. Cỗ máy GD và ĐT thì cổ hủ, quan liêu, xơ cứng...Ngành GD-ĐT vẫn đi theo lối mòn vốn có.
Thầy mới vén bức màn giáo dục lên một chút, đã thấy bao khối trầm tích lưu cữu tồn đọng. Chất lượng giáo dục phổ thông, giáo dục chuyên nghiệp, giáo dục đại học...đâu đâu cũng có những mớ rối bòng bong, và không biết gỡ ra từ đâu, bằng cách nào?.
Có thể thầy Nguyễn Thiện Nhân sẽ còn đi xa hơn hơn trên con đường quan lộ hanh thông của mình. Thế nhưng bây giờ rời Bộ GD và ĐT, có nghĩa là thầy cũng đến lúc phải nói lời chia tay. Cương vị mới, nhiệm vụ mới của nhà chính trị Nguyễn Thiện Nhân có thể vĩ mô hơn, nhưng tôi nghĩ ông cũng không thể nào thanh thản hơn khi nghĩ về những kỳ vọng của người dân như tôi, từng gửi gắm nhiều vào nhiệm kỳ GD và ĐT do ông làm Bộ trưởng.
Ba người thầy, ba điểm xuất phát khác nhau, ba lối thoát cá nhân khác nhau. Nhưng cả ba đều lần lượt rời bỏ mục đích cao cả của người thầy, với những lý do cá nhân hoặc lý do trách nhiệm chung.
Nhưng vẫn còn đây hơn một triệu giáo viên, họ liệu có "lối thoát" ra khỏi con đường giáo dục đang nhiều bí bức, khủng hoảng và tụt hậu? Hay hàng ngày họ vẫn phải gồng mình vật lộn trong guồng máy tư duy và hệ thống giáo dục xơ cứng, cũ kỹ, bảo thủ, tiếp tục cho ra sản phẩm giáo dục chất lượng thấp?
(Tít bài mượn ý lời một bài hát của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn)
Gần 98% nhân lực ngành nông nghiệp chưa qua đào tạo
Tác giả: Đ.Nghi
Cập nhật lúc 18:40, Thứ Năm, 15/04/2010 (GMT+7), http://vietnamnet.vn/giaoduc/201004/Gan-98-nhan-luc-nganh-nong-nghiep-chua-qua-dao-tao-904546/
- Trong số 21,2 triệu lao động nông nghiệp trong độ tuổi lao động trên cả nước, có 20,7 triệu người (chiếm 97,65%) chưa qua đào tạo và không có chứng chỉ chuyên môn...
Thông tin do TS. Nguyễn Thắng, Hiệu trưởng Trường Cán bộ quản lý nông nghiệp và phát triển nông thôn 2 nêu ra tại hội thảo về đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực cho lĩnh vực Nông nghiệp phát triển nông thôn được Bộ GD-ĐT tổ chức ngày 10/4 tại Hà Nội.
Theo đó, trong số 21,2 triệu lao động nông nghiệp trong độ tuổi lao động trên cả nước, có 20,7 triệu người (chiếm 97,65%) chưa qua đào tạo và không có chứng chỉ chuyên môn; người có bằng sơ cấp, công nhân kỹ thuật chiếm 1,26%; bằng trung cấp chiếm 0,87%;
Tỷ lệ lao động có bằng CĐ, ĐH chỉ chiếm 0,22%.
Theo số liệu ông Thắng đưa ra, trong tổng số 60,7 triệu nông dân, chỉ có 4.847 cán bộ khuyến nông chuyên trách hưởng lương từ ngân sách nhà nước; 10.543 cán bộ khuyến nông không chuyên trách và 15.744 cộng tác viên thôn bản.
Hiện cả nước có 13 trường ĐH, CĐ có đào tạo về nông lâm nghiệp; 60% trường TCCN, CĐ nghề, trung cấp nghề, trung tâm dạy nghề về nông lâm nghiệp.
Theo thống kê của Trường ĐH Lâm nghiệp, hàng năm trường này có khoảng 1.500 sinh viên hệ chính quy tốt nghiệp ra trường.
Nguyên nhân của tình trạng "cung" không ứng "cầu", nhiều đại biểu nhận định, do chưa nắm được nhu cầu nguồn nhân lực nông lâm nghiệp về số lượng và cơ cấu ngành nghề, chưa dự báo được thị trường nguồn nhân lực nông lâm nghiệp, đặc biệt là nguồn nhân lực có chất lượng cao.
Chiến lược phát triển lâm nghiệp năm 2006 – 2020, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thông xác định, đào tạo chính quy bình quân mỗi năm khoảng 5.000 sinh viên, học sinh và đào tạo nâng cao cho các cán bộ chủ chốt trong lĩnh vực nông lâm nghiệp.
Trong khi đó, lại có nghịch lý khối ngành Nông – Lâm – Ngư có những ngành đào tạo đang lâm vào tình trạng "thoi thóp"
"Nhìn chung, tuyển sinh rất khó khăn, chất lượng đầu vào thấp, số lượng không đảm bảo", ông Đặng Kim Vui, Hiệu trưởng trường ĐH Nông Lâm Thái Nguyên, khẳng định.
Mùa tuyển sinh năm 2009, Trường ĐH Nông Lâm Thái Nguyên có 13.000 thí sinh đăng ký dự thi nhưng chỉ có khoảng 1.600 thí sinh đạt từ điểm sàn trở lên. Điểm chuẩn NV1 của trường hầu như không có ngành nào vượt lên trên điểm sàn của Bộ. Lấy điểm thấp nhưng trường vẫn đau đầu, không tuyển đủ chỉ tiêu do tỷ lệ đỗ "ảo" lớn. "Chúng tôi gọi 100 em nhập học nhưng có khi chỉ được vài chục em tới, thậm chí cá biệt có ngành không được em nào".
Trường ĐH Tây Nguyên cũng trong cảnh tương tự. Hiệu trưởng Nguyễn Xuân Thao nói: "Tuyển sinh các ngành này năm nào cũng khó khăn và gần như không năm nào đủ chỉ tiêu. Cụ thể, các ngành ít thí sinh nhất là Bảo vệ thực vật, Chăn nuôi thú y. Một ngành tưởng như rất được ưa chuộng là Bảo quản chế biến nông sản cũng ế ẩm không kém. Trường mở mỗi ngành một lớp với 80 sinh viên nhưng thường chỉ có khoảng 20 – 30 em. Cá biệt có ngành Chăn nuôi thú y chỉ có 10 sinh viên theo học".
Là một trong những trường hàng đầu về lĩnh vực này, nhưng trường ĐH Nông nghiệp I Hà Nội cũng không khá khẩm hơn. Năm 2009, ngành Khoa học đất chỉ có hơn 10 thí sinh đăng ký, ngành Sư phạm kỹ thuật tuyển 100 chỉ tiêu nhưng chỉ được 50 em, ngành Cơ khí tuyển 3 lớp nhưng chỉ được 1 lớp.
Đặc biệt, ngành Công thôn của trường này đã phải "khai tử" sau 4 năm liền không mở nổi lớp do quá ít sinh viên. Ngành này đã mở hơn chục năm nhưng số lượng sinh viên teo tóp dần. Năm 2007 chỉ có ba thí sinh nhập học. Năm 2008, duy nhất một em tới làm thủ tục. Năm 2009, trường quyết định đóng cửa ngành. Theo ông Nguyễn Văn Dung, Trưởng phòng Đào tạo của trường thì trong số các ngành Nông – Lâm – Ngư, chỉ có Kinh tế phát triển nông thôn, Công nghệ sinh học là dễ tuyển sinh nhất.
(Theo Sinh viên Việt Nam)
Thứ Hai, 12 tháng 4, 2010
Vì sao con người nông dân chối từ làm nông dân?
Tác giả: A Sáng
Bài đã được xuất bản: 11/04/2010 06:00 GMT+7 trên http://www.tuanvietnam.net/2010-04-09-trang-page
Đứa con gái 6 tuổi của tôi đã giãy nảy như vậy khi nhắc tới hai chữ "nông dân". Tôi - cha nó - một kẻ lớn lên từ bùn đất - thật sự đau xót! Có một cái gì đó gợn lạnh sống lưng tôi khi thấy con gái mình giãy nảy với hai từ "nông dân". Tôi rất muốn nói gì đó với con gái mình, nhưng bất lực, nó còn quá bé để hiểu về nguồn cội của chính mình. Nhưng sự thật thì bây giờ, ngay ở đây, đất Hà Thành này, nó không thích hai từ "nông dân". Đó là cái gì vậy?
Câu chuyện bắt đầu từ ngày cái trường tiểu học của nó tổ chức buổi cắm trại. Tôi không biết trường con gái mình tổ chức vui chơi nhân ngày lễ gì, tôi chỉ nhận được "lệnh" của bà xã rằng, hôm nay phải đón con gái lúc 5h chiều. Và tôi đến sớm hơn dự kiến 30 phút. Tôi đến sớm vì muốn xem con gái mình chơi như thế nào ở hội trại. Thế nhưng vừa nhìn thấy tôi, con bé đã ào ra và đòi về bằng được. Tôi ngạc nhiên vì hội trại đang rất vui, nhiều trò chơi đang diễn ra sôi nổi, sao con gái mình lại đòi về sớm vậy? Tôi gặng hỏi nhưng cháu không nói, nhất quyết đòi về. Nó mếu máo như muốn khóc nhè, lôi tay cha nó với một mệnh lệnh dứt khoát: đi về!
Đây là một hiện tượng lạ với cô bé. Cả đêm hôm qua nó mong trời sáng để đến trường cắm trại, để diễn văn nghệ, để vui chơi... nhưng sao bây giờ xoay ba trăm sáu mươi độ đòi về? Dù thắc mắc nhưng chiều con, tôi đưa cháu về. Và cả bữa cơm tối đó con gái tôi không nhắc một câu nào đến buổi cắm trại. Tôi bắt đầu khéo léo gợi chuyện để tìm nguyên nhân thì nó mếu máo: "... cô giáo bắt con đóng vai người nông dân cấy lúa... hu hu ... con muốn đóng vai công chúa cơ!". Và nó oà khóc - khóc nức nở - khóc như một sự oan uổng ghê gớm.
Tôi phì cười rồi giải thích: nông dân cũng tốt chứ sao? Con bé giãy nảy, bỏ cơm rồi gào lên: "Nông dân ư? Con không thích!". Thì ra là vậy, con bé không được vào vai công chúa - thần tượng của muôn vàn đứa bé gái. Nó phải vào vai nông dân cấy lúa và nó buồn, nó đòi về và bây giờ đang nổi đoá với cha nó.
Cái thằng tôi đây - người sinh ra nó là một nông dân chính hiệu. Nó đâu biết được rằng, cái thằng cha nó là tôi đây mới chỉ rời bỏ ruộng đồng. Nó cũng đâu biết rằng, ông nó, cụ nó, kị nó... đều là nông dân - đều phải cấy lúa! Và giờ đây nó lại từ chối cái cội nguồn này! Tự nhiên tôi nổi giận và thấy mình cũng rất trẻ con.
Từ câu chuyện của con gái mình, tôi muốn đặt câu hỏi: tại sao chẳng ai thích nông dân? Ngay cả với một đứa bé lên 6 như con gái tôi cũng không thích vào vai nông dân dù nó chưa biết thế nào là người nông dân?
Có một sự thật rằng, hai từ "nông dân" bị coi nhẹ, bị xem thường đến nỗi bọn trẻ cũng sợ khi phải vào vai họ. Ai đã reo rắc sự sợ hãi này với lũ trẻ? Đương nhiên chỉ có người lớn - chỉ có người lớn mới hình thành cái khái niệm nông dân để mà miệt thị và coi thường.
Cách giáo dục của chúng ta có một cái gì đó đầy bất ổn, khi mà một đứa trẻ lớp 1 đã dị ứng với hai từ "nông dân". Cha mẹ khi giục con cái học bài thường có câu cửa miệng: chúng mày không học hành tử tế sau này chỉ có làm nông dân... Và cũng không ít vị trí thức khi muốn chê bai điều gì đó liền mở miệng: "Cái thằng X làm ăn nông dân bỏ xừ.". Nhưng chính các vị hoặc cha mẹ các vị là nông dân chính hiệu, hoặc mới chỉ thoát khỏi ruộng đồng một thời gian chưa dài. Vậy mà không hiểu sao hai từ ấy lại được chính các vị dùng vào cái ngữ cảnh đầy tính coi thường như vậy?
Người Việt bây giờ vẫn trên 80% là nông dân, số còn lại được tạm gọi là tầng lớp khác, trong đó có trí thức và tôi tin rằng, trong số trí thức đó hơn nửa từ nông dân mà thành. Có học đến tiến sĩ cũng vẫn là nông dân bởi anh ta lớn lên từ làng quê, từ đồng ruộng, từ mùa màng... Chỉ chừng ấy thời gian, không thể xoá hết mùi bùn đất bám vẩn vơ trên người. Vậy mà con cái anh ta đã được giáo dục, được nhồi nhét hình ảnh người nông dân dưới một góc nhìn lệch lạc.
Quay trở lại với cô con gái 6 tuổi của mình, tôi bắt đầu thử tìm hiểu: tại sao cháu không thích vào vai một nông dân? Cháu nói rằng, không thích vì đóng vai nông dân phải mặc quần áo nâu xấu mù, lại phải cày ruộng, nấu bánh chưng và... hầu công chúa... Và tệ hại hơn nữa là khi đóng vai nông dân liền bị người khác sai khiến, hết vở kịch chưa kịp thay quần áo liền bị các bạn trêu chọc: "...Ê đồ nông dân, đi cày ruộng đi...". Thì ra là vậy, cái lý do không thích của con trẻ thật đơn giản. Nó đơn giản nhưng nguy hại vô cùng. Và cũng hết sức đơn giản vì chúng học tập được chính cách tư duy của người lớn: nông dân là tầng lớp dưới, bị coi thường! Nói một cách khác, chúng ta coi thường chính chúng ta!
Tôi không biết trong giáo trình học tập ở bậc tiểu học có một bài giảng nào về người nông dân, hoặc khái niệm nông dân, vai trò ý nghĩa hay cái gì khác về người nông dân? Nhưng sự thật thì bọn trẻ không thích hai từ đó.
Chúng không thích vì hình ảnh người nông dân được chúng ta dựng lên với sự sơ sài, nghèo nàn, buồn tẻ... trong khi đó những hình ảnh khác: công chúa, hoàng tử, nhà vua... được miêu tả lung linh đẹp đẽ đến nỗi bọn trẻ quên mất hình ảnh đẹp của người nông dân. Một đứa trẻ được giáo dục như vậy khi lớn lên chúng sẽ nghĩ thế nào về người nông dân? Sự thật thì người nông dân đâu có thế. Đâu chỉ áo nâu xấu mù, chỉ biết cày ruộng, nấu bánh chưng và hầu công chúa? Không chỉ trẻ con ngay cả người lớn chúng ta không ít người khi nói đến nông dân ngay lập tức nghĩ ngay đến sự coi thường.
Người Tày ở bản Pác Thay (Cao Bằng) của tôi vẫn nhớ mãi câu chuyện về một anh chàng đi thoát ly vài năm, khi quay về liền quên mất tiếng mẹ đẻ (tiếng Tày), nếu ai đó hỏi anh ta bằng tiếng Tày nhất định không thưa. Một cụ trong bản tức quá liền mắng: "Po mầư khần Thày dời né!" (Bố mày người Tày đấy). Nghe xong câu ấy vì bực quá anh ta quên mất rằng mình đang đóng kịch quên tiếng Tày nên trả đũa bằng tiếng Kinh: "Bố ông cũng là người Tày...".
Thì ra là vậy, vẫn nghe được tiếng mẹ đẻ, nhưng vì sự sĩ diện ngốc xuẩn mà vờ quên. Cái sự vờ quên này để làm gì? Có lẽ anh ta chỉ muốn chứng tỏ mình là cán bộ ở tỉnh, là người quan trọng nhất cái bản Pác Thay, là người được học hành gì gì đó... Và chính cái ngốc xuẩn ấy xui khiến anh ta coi thường nguồn cội của mình. Vài năm sau, không hiểu vì lý do gì anh ta lại trở về bản, lại trở thành người nông dân và lại nhớ tiếng Tày... Hay thật!
Tôi không muốn so sánh nhưng vẫn tin rằng, những trí thức vừa thoát khỏi ruộng đồng lên thành phố cũng na ná như vậy khi khinh miệt người nông dân, nhồi nhét vào tâm hồn con trẻ hình ảnh rất lệch lạc về người nông dân. Vì sao vậy? Vì ngốc xuẩn mà thôi!
Không chỉ dừng lại ở mấy vị trí thức nửa mùa, mấy bạn trẻ tài cán, du học trời Tây vài năm khi quay về cũng cái thói khinh miệt ấy với người nhà mình. Cái khẩu ngữ: "đầu đen" được họ dùng khá nhiều mỗi khi muốn chê bai ai đó. Rồi thì luôn miệng rằng, bên Tây họ thế này, Châu Âu họ thế kia, Mỹ họ thế này, Pháp họ thế kia... Thu nhập họ thế này, điều kiện họ thế kia... Về bên mình chán lắm, muốn cống hiến không được... Nhiều người nghe mãi kiểu phàn nàn nên phát cáu cãi lại: "Chán thế sao ông không ở bên ấy cho rồi, về làm gì cho khổ? Nhà mình chỉ thế thôi...".
Nghe vậy lập tức họ biện hộ giỏi vô cùng: nào là muốn cống hiến, muốn đem cái mới, cái hiện đại về bên này... Tất cả những lý lẽ này đều nguỵ tạo, đều ngốc xuẩn núp dưới mặt nạ thông minh. Nếu muốn cống hiến thật sự sẽ có cách, ở hoàn cảnh nào cũng sẽ có cách làm việc phù hợp, với điều kiện phải thật sự muốn mà thôi. Tôi không tin những người như vậy lại quên hoàn cảnh của dân tộc mình một cách nhanh chóng đến thế, họ sinh ra lớn lên ở mảnh đất này mà không hiểu, cố tình không hiểu thì chỉ có nguỵ tạo, hoặc ngốc xuẩn không hơn không kém!
Lại có vị sống sờ sờ ở đất Việt, cho con đi học trường quốc tế và rất tự hào khoe rằng, cháu nó nói tiếng Anh giỏi hơn tiếng Việt, nó nói: "Gội đầu là giặt đầu mới hay chứ...". Một đứa trẻ Tây chẳng ra Tây, Việt chẳng ra Việt thì sung sướng cái gì!? Đơn giản cũng chỉ vì cái ngốc xuẩn của người lớn mà thôi.
Tôi - một gã mà phẩm chất nông dân vẫn còn đến hơn 50% trong người rất muốn giải thích cho con gái mình sự đáng yêu của hai từ "nông dân". Rất muốn nói với khúc ruột của mình rằng, nông dân là một tầng lớp lao động đáng trân trọng. Con hãy ra cánh đồng, hãy áp bàn tay vào đất đai, hãy hít thở linh khí của mùa màng... con sẽ thấy sự đáng yêu của người nông dân và con sẽ không ghét hai từ "nông dân" nữa.
Bởi đơn giản một điều rằng, nếu con muốn trở thành một cái gì thật sang trọng thì việc đầu tiên hãy hiểu tận cùng về nguồn cội của con, đó chính là nông dân! Nhưng, ngay bây giờ và tại đây tôi không thể, bởi nó còn quá bé và hàng ngày nó vẫn bị nhồi nhét vào đầu rằng, nông dân là một cái gì đó không đẹp, dù chỉ là vở kịch. Sự thật là như vậy.
Digital Marketing – Chìa khóa mở cửa kỷ nguyên tiếp thị hiện đại
Trong thời đại số hóa, khi mọi tương tác, giao tiếp và quyết định mua hàng dần chuyển dịch lên môi trường trực tuyến, Digital Marketing ( ...
-
Trong thời đại số hóa, khi mọi tương tác, giao tiếp và quyết định mua hàng dần chuyển dịch lên môi trường trực tuyến, Digital Marketing ( ...
-
TS. Bảo Trung 1. Khái niệm giá trị cảm nhận của khách hàng Từ những năm cuối thế kỷ 20 khái niệm “giá trị cảm nhận” đã được các...